1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hoạch cao cấp lý luận môn dân tộc THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH dân tộc góp PHẦN xây DỰNG KHỐI đại đoàn kết GIỮA các dân tộc HIỆN NAY

13 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận Thức Chung Về Dân Tộc Và Chính Sách Dân Tộc Của Đảng Và Nhà Nước Ta Hiện Nay
Chuyên ngành Dân tộc học
Thể loại Bài thu hoạch
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 34,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG 1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ DÂN TỘC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY 1.1. Một số khái niệm liên quan - Khái niệm Dân tộc được nhìn nhận dựa trên hai góc độ: + Thứ nhất: Dân tộc được hiểu là dân tộc quốc gia tức một cộng đồng chính trị xã hội được điều hành bởi một nhà nước, có lãnh thổ bất khả xâm phạm, được hình thành bởi một hiến pháp, có ngôn ngữ thống nhất dùng để điều hành, phổ biến pháp luật và quản lý nhà nước. + Thứ hai: Dân tộc được hiểu là tộc người trong một quốc gia. Mỗi quốc gia có những tiêu chí khác nhau để xác định tộc người trong quốc gia đó, đối với Việt Nam, khái niệm tộc người được xác định dựa trên ba tiêu chí: Ngôn ngữ riêng; các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể; ý thức tự giác tộc người. - Chính sách dân tộc: Là hệ thống chính sách tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc nhằm phát triển các lĩnh vực kinh tế- văn hóa- xã hội- an ninh quốc phòng vùng dân tộc thiểu số góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Xét về bản chất, thực hiện chính sách dân tộc là thể hiện sự "săn sóc" của Đảng và nhà nước tới tất cả đồng bào. Ngay khi Chính phủ mới được thành lập, một trong những việc đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh triển khai là thành lập Nha Dân tộc thiểu số để chăm lo công tác dân tộc cho các đồng bào, Người nói rõ:"Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu của các dân tộc. Chính phủ thì có Nha Dân tộc thiểu số để chăm sóc cho tất cả đồng bào". Sự "săn sóc" ở đây thể hiện rõ bản chất của chính sách dân tộc, đó không phải là kiểu ban ơn hay xin cho mà là sự "săn sóc" của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào ở tất cả các vấn đề trong đời sống của các dân tộc nhằm giúp các dân tộc có sự phát triển, tạo ra cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho tất cả đồng bào.

Trang 1

NỘI DUNG

1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ DÂN TỘC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1 Một số khái niệm liên quan

- Khái niệm Dân tộc được nhìn nhận dựa trên hai góc độ:

+ Thứ nhất: Dân tộc được hiểu là dân tộc quốc gia tức một cộng đồng chính trị xã hội được điều hành bởi một nhà nước, có lãnh thổ bất khả xâm phạm, được hình thành bởi một hiến pháp, có ngôn ngữ thống nhất dùng để điều hành, phổ biến pháp luật và quản lý nhà nước

+ Thứ hai: Dân tộc được hiểu là tộc người trong một quốc gia Mỗi quốc gia

có những tiêu chí khác nhau để xác định tộc người trong quốc gia đó, đối với Việt Nam, khái niệm tộc người được xác định dựa trên ba tiêu chí: Ngôn ngữ riêng; các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể; ý thức tự giác tộc người

- Chính sách dân tộc: Là hệ thống chính sách tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc nhằm phát triển các lĩnh vực kinh tế- văn hóa- xã hội- an ninh quốc phòng vùng dân tộc thiểu số góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Xét về bản chất, thực hiện chính sách dân tộc là thể hiện sự "săn sóc" của Đảng và nhà nước tới tất cả đồng bào Ngay khi Chính phủ mới được thành lập, một trong những việc đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh triển khai là thành lập Nha Dân tộc thiểu số để chăm lo công tác dân tộc cho các đồng bào, Người nói rõ:"Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta Trong Quốc hội có đủ đại biểu của các dân tộc Chính phủ thì có Nha Dân tộc thiểu số để chăm sóc cho tất cả đồng bào" Sự "săn sóc" ở đây thể hiện rõ bản chất của chính sách dân tộc, đó không phải là kiểu ban ơn hay xin cho mà là sự "săn sóc" của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào ở tất cả các vấn đề trong đời sống của các dân tộc nhằm giúp các dân tộc có sự phát triển, tạo ra cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho tất cả đồng bào

Trang 2

1.2 Đặc điểm dân tộc Việt Nam và đặc điểm chính sách dân tộc

a Đặc điểm dân tộc Việt Nam

Việt Nam là quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc (53 dân tộc thiểu số chiếm

14% dân số cả nước, cư trú chủ yếu ở miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới), cùng cư trú, tồn tại và phát triển trên lãnh thổ Việt Nam, đã sớm hình thành các đặc điểm cơ bản:

- Cộng đồng các dân tộc Việt Nam chung sống đoàn kết, hoà hợp Ngay từ

thuở khai sinh, các dân tộc cố kết, chung sức, chung lòng chống chọi với thiên nhiên; tinh thần đoàn kết càng được phát huy hơn trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc Trong sự nghiệp cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, truyền thống đoàn kết, thống nhất dân tộc không ngừng được củng cố và phát triển, tạo nên sức mạnh vĩ đại để chiến thắng thiên tai, chiến thắng thù trong, giặc ngoài đem lại thắng lợi của cách mạng Việt Nam

- Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau, có trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đồng đều, nhưng không có sự phân chia lãnh thổ và chế độ xã hội riêng.

Hình thái cư trú xen kẽ nhiều dân tộc anh em, phản ánh mối quan hệ đoàn kết, thống nhất của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong một quốc gia Hiện nay, ở miền núi hầu như không có tỉnh, huyện nào chỉ có một cộng đồng hai dân tộc sinh sống, như: Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng… Do địa bàn cư trú, phong tục tập quán và tâm lý, lối sống của các dân tộc, nên trình độ phát triển kinh tế – xã hội của vùng, miền dân tộc không đồng đều Một số dân tộc có dân số ít, ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế – xã hội còn gặp khó khăn, như: Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Brâu, Ơ Đu…

- Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên nền văn hóa Việt Nam đa dạng, phong phú, thống nhất Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán, tâm lý, lối

sống, tín ngưỡng tôn giáo mang tính đặc thù, tạo nên những sắc thái văn hóa riêng

Trang 3

của từng dân tộc, tồn tại và phát triển trong tính đa dạng và thống nhất của nền văn hóa các dân tộc Việt Nam

- Địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và bảo vệ bền vững môi trường sinh thái Đồng bào cư trú suốt dọc tuyến biên giới phía Bắc, Tây

và Tây Nam, có nhiều cửa ngõ thông thương giữa nước ta với nước ngoài Đây là địa bàn có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, có hệ thống rừng phòng hộ, rừng đặc dụng phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước và bảo vệ bền vững môi trường sinh thái Trong tình hình hiện nay, miền núi là địa bàn tiềm năng, mang tính chiến lược, cơ bản cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Kinh tế ở miền núi, các dân tộc thiểu số còn chậm phát triển, tình trạng du canh, du cư, di dân tự do vẫn còn diễn biến phức tạp Kết cấu hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, dịch vụ) ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng vẫn còn khó khăn, nhiều nơi môi trường sinh thái tiếp tục bị suy thoái

- Tỉ lệ hộ đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi cao hơn so với bình quân chung cả nước, khoảng cách chênh lệch về mức sống, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, giữa các vùng ngày càng gia tăng; chất lượng, hiệu quả về giáo dục đào tạo còn thấp, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn, một số bản sắc tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc thiểu số đang bị mai một, một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng phát triển

- Hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn yếu, tỉ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học thấp Năng lực, trình độ cán bộ xã, phường còn hạn chế, số lượng đảng viên là người dân tộc thiểu số thấp, vẫn còn thôn bản chưa có đảng viên Hoạt động của cấp ủy, chính quyền, mặt trận và đoàn thể ở nhiều nơi chưa sát dân, chưa tập hợp được đồng bào

Trang 4

- Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng những khó khăn về đời sống, trình độ dân trí thấp của đồng bào và những sai sót của các cấp, các ngành trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta để kích động tư tưởng ly khai, tự trị, phá hoại truyền thống đoàn kết và thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gây mất ổn định chính trị

b Đặc điểm chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

- Chính sách dân tộc phản ánh rõ bản chất của giai cấp công nhân của Đảng

- Chính sách dân tộc có nội dung sâu sắc, toàn diện, có sự tổng hợp các biện pháp nhằm tác động tới tất cả các mặt trong đời sống của đồng bào nhằm tạo ra sự phát triển

- Chính sách dân tộc là chính sách đa ngành, liên ngành gồm nhiều nội dung khác nhau và có mối liên hệ với các chính sách khác

1.3 Các nguyên tắc cơ bản làm cơ sở xây dựng chính sách dân tộc

a Bình đẳng giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội

Bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng ta, là động lực to lớn cho khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng bền vững, trong đó khẳng định rõ các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trong mọi lĩnh vực hoạt động của của đời sống xã hội

Quyền bình đẳng giữa các dân tộc trước hết là quyền bình đẳng về chính trị, chống mọi biểu hiện chia rẽ, kì thị dân tộc, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tự ti dân tộc Quyền bình đẳng về kinh tế đảm bảo sự bình đẳng trong quan hệ lợi ích giữa các dân tộc, Nhà nước có trách nhiệm giúp các dân tộc có kinh tế chậm phát triển để cùng đạt trình độ phát triển chung với các dân tộc khác trong cả nước Bình đẳng về văn hóa xã hội đảm bảo cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, làm phong phú, đa dạng nền văn hóa Việt Nam

Trang 5

Như vậy, thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc, quan điểm của Đảng đã thể hiện sự lãnh đạo thống nhất giữa quyền bình đẳng về mặt pháp lý với quyền bình đẳng trên thực tế

b Đoàn kết giữa các dân tộc

Đoàn kết dân tộc được xác định là một nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Chính sách này được quán triệt xuyên suốt trong các giai đoạn cách mạng Việt Nam Ngày nay, Đảng ta quan tâm giữ gìn, phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc ở tầm cao mới:

- Đoàn kết tất cả các giai cấp

- Đoàn kết tất cả những người lao động

- Đoàn kết các dân tộc

- Đoàn kết quốc tế

c Tương trợ giúp nhau cùng phát triển

Do lịch sử để lại, hiện nay giữa các dân tộc ở nước ta vẫn còn tình trạng phát triển không đều Do đó, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển là một tất yếu khách quan trong một quốc gia đa dân tộc Đảng và Nhà nước ta đã coi trọng tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc coi đây là nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tương trợ giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc tiếp tục được xác định rõ trong các nghị quyết của Đảng, điều

đó khẳng định sự phát triển của đất nước luôn gắn liền với sự phát triển của các dân tộc

Tóm lại, thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển

là những nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Giữa các nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động mạnh mẽ, cùng chiều với việc củng cố đoàn kết cộng đồng dân tộc trong suốt cả quá trình phát triển

Trang 6

2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC GÓP PHẦN XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

2.1 Nội dung chủ yếu về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước

a Quan điểm thực hiện chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước

Nghị quyết Hội nghị BCHTW lần thứ bảy (khóa IX) về công tác dân tộc trong tình hình mới đã nêu những quan điểm cơ bản của Đảng về công tác dân tộc với những điểm chủ yếu:

Một là, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu

dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam; giải quyết vấn đề dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam

Hai là, tư tưởng chỉ đạo cơ bản, xuyên suốt trong quan điểm, chính sách dân

tộc ở nước ta hiện được Đảng khẳng định: giữa các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết,tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Kiên quyết đấu tranh với mọi

âm mưu chia rẽ dân tộc

Ba là, phát triển toàn diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh- quốc

phòng trên địa bàn dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất

Bốn là, ưu tiên phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc và miền núi, trước hết,

tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo, khai thác

có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lưc, tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các dân

Trang 7

tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của TW và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước

Năm là, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn

Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị

b Nội dung chủ yếu của việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Đảng và Nhà nước ta xác định chính sách dân tộc hiện nay tập trung vào việc: Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, cùng phát triển, khắc phục sự cách biệt về trình độ phát triển kinh tế- xã hội giữa các dân tộc; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc Việt Nam, chú trọng xóa đói, giảm nghèo, ưu tiên các dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến, địa bàn an ninh- quốc phòng; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm cho tất cả các dân tộc ở Việt Nam đều phát triển, ấm no, hạnh phúc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, kỳ thị, chia rẽ dân tộc, lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá, gây mất ổn định chính trị- xã hội ở nước ta Cụ thể:

Chính sách dân tộc trên lĩnh vực phát triển kinh tế: Đây là lĩnh vực quan

trọng nhất trong các chính sách dân tộc Nó xuất phát từ vai trò quyết định của kinh

tế trong đời sống xã hội nói chung và với đồng bào dân tộc nói riêng Ở nước ta, vấn đề phát triển kinh tế ở vùng dân tộc thiểu số lại càng trở nên bức bách hơn, quan trọng hơn vì đó là những vùng rất nghèo và lạc hậu

Chính sách dân tộc trên lĩnh vực kinh tế bao gồm nhóm các chính sách về sở hữu, đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển khoa học công nghệ và phát triển kinh tế hàng hóa Đảng ta chủ trương:

Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và vấn đề tranh chấp đất đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây nguyên, Tây bắc và vùng đồng bào dân tộc Khơme - Nam bộ Làm tốt công tác định canh định cư và di dân

Trang 8

xây dựng vùng kinh tế mới; công tác quy hoạch, sắp xếp, phân bổ lại hợp lý dân

cư, nguồn năng lực theo hướng CNH, HĐH và phát triển bền vững, gắn với đảm bảo an ninh- quốc phòng Tăng cường nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số, trước hết là hoàn thành việc xây dựng các tuyến đường giao thông đến trung tâm các xã, thôn bản, điện, trường học, trạm y

tế, chợ, các công trình nước sạch, thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới

ở vùng dân tộc

Chính sách dân tộc trên lĩnh vực phát triển văn hóa ở vùng dân tộc nhằm giữ

gìn, phát triển những yếu tố về truyền thống, ngôn ngữ, chữ viết, những yếu tố cơ bản, đặc trưng của từng dân tộc Đây cũng là những giá trị để tạo dựng, củng cố sợi dây liên lạc giữa các thành viên của các dân tộc với nhau Chính sách phát triển văn hóa vừa tạo nên các yếu tố cố kết bên trong một cộng đồng tộc người, vừa tạo nên các yếu tố cố kết bên ngoài giữa các tộc người

Thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo nhất là hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp; đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu giáo công lập; mở rộng việc dạy chữ dân tộc Đa dạng hóa, phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở các vùng dân tộc; đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú; tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho con em các dân tộc vào học tại các trường đại học và cao đẳng; mở thêm trường dự

bị đại học dân tộc ở khu vực miền trung, tây nguyên Nghiên cứu tổ chức hệ thống trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng trí thức và cán bộ là người dân tộc thiểu số Tăng cường cơ sở khám, chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, bản, thôn ấp; nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số; khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian

Chính sách dân tộc trên lĩnh vực chính trị- xã hội: Đây là những chính sách

gắn liền với chính sách kinh tế, văn hóa như chính sách định canh, định cư, chính

Trang 9

sách xóa đói, giảm nghèo, chính sách ưu đãi, khuyến khích trong đào tạo, sử dụng cán bộ là người dân tộc, chính sách xây dựng, củng cố an ninh trật tự ở vùng biên cương, hình thành các trung tâm chính trị- kinh tế- văn hóa ở các tỉnh, huyện, xã, các chính sách trong phân cấp giữa chính quyền trung ương với các cấp hành chính

ở địa phương

Trong nội dung này, Đảng ta chủ trương thực hiện chính sách đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa; trong những năm trước mắt tập trung giúp đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệt khó khăn giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm

bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu; xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu, vùng sa, vùng đặc biệt khó khăn

Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc thiểu số Thực hiện tốt Nghị quyết TW5 khóa IX về kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở; kiên quyết khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân của một số cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển cán bộ Đẩy mạnh phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc, khắc phục tình trạng cơ sở không có tổ chức đảng, không có đảng viên Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, đổi mới các chính sách giáo dục, đào tạo; nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục, đào tạo, dạy và học chữ dân tộc; thành lập một số trường đại học dân tộc khu vực để đào tạo đội ngũ trí thức, cán bộ người dân tộc thiểu số Đổi mới, nâng cao hiệu quả các chính sách cử tuyển, mở rộng các khoa học dự bị đại học trong các trường đại học; phát triển các loại hình, mô hình trường dạy nghề, ưu tiên đào tạo con em đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa

Tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân các dân tộc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Pháp luật nhà nước, giáo dục ý thức cảnh giác cho nhân dân, chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch phá hoại khối đại đoàn

Trang 10

kết toàn dân tộc, lôi kéo, mua chuộc, kích động đồng bào tham gia bạo loạn chính trị, móc nối, nhen nhóm các lực lượng phản động gây mất ổn định chính trị; chống địch đột nhập biên giới, giữ vững chủ quyền an ninh quốc gia, bảo vệ cuộc sống bình yên cho đồng bào các dân tộc

Chống mọi biểu hiện kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc; giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa các cộng đồng dân tộc và nhân dân, chủ động ngăn ngừa những xung đột, hiềm khích làm tổn hại đến đoàn kết dân tộc mà kẻ địch lợi dụng kích động và tạo cớ để can thiệp gây rối

Chính sách dân tộc trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo: Đây là mảng chính

sách đặc trưng với đồng bào dân tộc thiểu số, bởi đại đa số các tộc người trên đất nước ta đều có đời sống tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo phong phú Chính sách tôn giáo phải tôn trọng tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo các tôn giáo, nhưng cũng phải kiên quyết không cho phép kẻ xấu lợi dụng tự do tín ngưỡng làm tổn hại tới an ninh chính trị, tình đoàn kết dân tộc Thực hiện chính sách tín ngưỡng tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi; kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự

do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta

2.2 Trách nhiệm cán bộ đảng viên trong thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước

Một là, quán triệt sâu sắc và nâng cao nhận thức về việc thực hiện chính sách

dân tộc của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay

Hai là, làm tốt công tác tham mưu, cho các cấp ủy Đảng và chính quyền các

cấp trong việc xây dựng các văn bản có liên quan đến vấn đề dân tộc của Đảng và Nhà nước cũng như đề xuất các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với từng loại đối tượng

Ngày đăng: 29/11/2022, 14:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w