A. MỞ ĐẦU Vật chất và tinh thần là hai mặt của đời sống xã hội nói chung và đời sống mỗi con người nói riêng, nên, nếu coi kinh tế là nền tảng vật chất của xã hội, đáp ứng nhu cầu vật chất, thì văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người và xã hội. Không thể phát triển ổn định và bền vững nếu chỉ chú trọng tăng trưởng kinh tế mà bỏ quên, thậm chí hy sinh các giá trị văn hóa. Trong bối cảnh đổi mới hội nhập toàn diện, để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, phải tích cực, chủ động hội nhập, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với giữ vững truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc. Nhận thức rõ điều này, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, cùng với sự đổi mới trong tư duy kinh tế và chính trị, Đảng ta đã có những đổi mới quan trọng trong tư duy về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cùng với quá trình đặt trọng tâm vào đổi mới về kinh tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Quan điểm này đánh dấu sự phát triển tư duy lý luận của Đảng, đồng thời cũng là kết quả tổng kết thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng. Đây cũng chính là nội dung em lựa chọn để viết bài thu hoạch môn Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa trong chương trình hoàn chỉnh cao cấp lý luận chính trị.
Trang 1MỞ ĐẦU
Nhân loại có nhiều nền văn minh khác nhau và có nhiều quan niệm khác nhau về sự hình thành của nền văn minh ấy Song chắc chắn một điều rằng triết học ra đời là một sự khẳng định của nền văn minh ấy nói riêng và văn minh nhân loại nói chung Nó thể hiện trình độ phát triển tư duy của con người, dân tộc, quốc gia
Trong dòng chảy của lịch sử triết học thì triết học Mác Lênin ra đời muộn hơn so với các trường phái triết học khác nhưng lại đạt được nhiều thành công rực rỡ nhất về mặt khoa học, vì vậy, triết học Mác Lênin có một vị trí đặc biệt trong lịch sử triết học
Bài thu hoạch “Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của triết học Mác-Lênin” vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, giúp chúng ta hiểu đúng
đắn hơn, khoa học hơn từ đó tin tưởng vào đường lối chủ trương của Đảng chính sách pháp luật của nhà nước góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Trang 2NỘI DUNG 1.Chủ nghĩa Mác-Lênin và ba bộ phận lý luận cấu thành
Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học của Mác, Ph.Ăngghen và sự phát triển của V.I Lênin; được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng nhân loại và tổng kết thực tiễn thời đại; là thế giới quan, phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học
và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người
Chủ nghĩa Mác-Lênin bao gồm ba bộ phận hợp thành là triết học, kinh tế chính trị học mácxít và chủ nghĩa xã hội khoa học, trở thành một học thuyết khoa học và hoàn chỉnh, trở thành hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân hiện đại
Triết học Mác - Lênin ra đời từ nửa cuối thế kỷ XIX và phát triển cho đến ngày nay Từ khi ra đời, triết học Mác - Lênin đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử triết học và trở thành thế giới quan, phương pháp luận của hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người
Triết học Mác-Lênin là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật vân động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội, tư duy; xây dựng thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng
Kinh tế - chính trị học là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật kinh
tế của xã hội, đặc biệt là những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển , suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất mới- phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những quy luật chuyển biến lịch sử
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và phương hướng xây dựng xã hội mới
Trang 32 Những điều kiện hình thành chủ nghĩa Mác-Lênin
2.1 Điều kiện kinh tế xã hội của sự ra đời chủ nghĩa Mác
Triết học Mác - một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác, là một sản phẩm của một thời đại lịch sử cụ thể, ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX với những điều kiện kinh tế - xã hội như sau:
Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thể hiện tính ưu việt hơn hẳn so với phương thức sản xuất phong kiến về mặt sản xuất
Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, CNTB đã khẳng định thắng lợi ở nhiều nước, trước hết là ở Anh, Pháp và ở Đức Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã đưa nền sản xuất từ công trường thủ công lên đại sản xuất cơ khí TBCN tạo nên một khối lượng của cải vật chất to lớn Sự giàu có của giai cấp
tư sản và thừa thãi về vật chất của giai cấp tư sản đã chứng tỏ: Trong chưa đầy một thế kỷ, giai cấp tư sản đã tạo ra một lượng sản phẩm nhiều hơn và đồ
sộ hơn tổng số lượng sản phẩm của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại
Sự phát triển của CNTB làm cho các mâu thuẫn xã hội vốn có của nó bộc
lộ ra và ngày càng trở nên gay gắt
Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử với tính cách là một lực lượng chính trị - xã hội độc lập
Bản chất bóc lột của chế độ TBCN tạo ra sự giàu có của giai cấp tư sản
và đẻ ra sự khốn cùng của giai cấp vô sản Chính chế độ TBCN đã sinh ra một lực lượng đối lập, lực lượng đó có sứ mệnh lật đổ chế độ bóc lột để xây dựng
xã hội mới tốt đẹp hơn - đó là giai cấp vô sản
Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản phát triển và giai cấp vô sản đã xuất hiện trên vũ đài lịch sử Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp
Trang 4tư sản bắt đầu ngay từ khi xã hội tư bản ra đời và đến những năm 30 của thế
kỉ XIX thì trở nên mạnh mẽ hơn lúc nào hết
Tiêu biểu:
Khởi nghĩa của thợ dệt Liông - Pháp (1831-1834)
Phong trào Hiến chương ở Anh cuối những năm 30 của thế kỷ XIX Khởi nghĩa của thợ dệt Xilêdi - Đức năm 1844
Tất cả các cuộc đấu tranh đó của giai cấp vô sản mới chỉ mang tính chất
tự phát, chưa có một cương lĩnh rõ rệt, chưa nhận thức được sứ mệnh lịch sử của mình, chưa có một tổ chức lãnh đạo cuộc đấu tranh đó đi theo một đường lối chính trị xác định, chưa có một lý luận cách mạng soi đường Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng, không có sự thắng lợi của phong trào cách mạng
Từ yêu cầu của thời đại, nảy sinh ra nhu cầu ra đời lý luận mới giải đáp những vấn đề thực tiễn của thời đại đặt ra, Các Mác (1818-1883) và Phriđrích Ăngghen (1820-1895), thông qua hoạt động thực tiễn của phong trào công nhân, đã thực hiện nhiệm vụ lịch sử - sáng lập ra lý luận cách mạng
Triết học Mác ra đời là sự giải đáp lý luận những vấn đề của thời đại trên lập trường của giai cấp vô sản cách mạng
2.2 Tiền đề lý luận và những tiền đề khoa học tự nhiên của triết học Mác
2.2.1 Tiền đề lý luận
Theo Lênin, triết học Mác ra đời là sự kế thừa thẳng và trực tiếp của triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp
* Triết học Đức (đại biểu là Cantơ, Sêlinh, Phíchtơ, Hêghen) với tính
cách là nguồn gốc trực tiếp của lý luận triết học Mác
Trang 5Tư tưởng biện chứng là hạt nhân trong triết học Hêghen nhưng đó là phép biện chứng lộn ngược đầu xuống đất Mác, Ănghen đã thực hiện việc dựng ngược lại bằng cách đặt nó trên cơ sở của thế giới quan duy vật, từ đó sáng tạo ra phép biện chứng duy vật
Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Feubac: Duy vật về tự nhiên, duy tâm về
xã hội đã được Mác, Ănghen xem xét, cải tạo trên quan điểm duy vật về xã hội trong mối quan hệ biện chứng của sự phát triển thế giới, từ đó sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử
Triết học Mác được hình thành là do sự kế thừa cải tạo những di sản
tư tưởng tích cực của triết học nhân loại (Hegel, Feubac) đáp ứng nhu cầu thực tiễn của phong trào cách mạng vô sản
* Kinh tế chính trị học cổ điển Anh (đại biểu: Ađam Xmít, Đavít
Ricácđô) có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển quan niệm duy vật về lịch sử của Mác và Ănghen
Trên cơ sở lý luận về kinh tế tư bản của Ađam Xmít, Đavít Ricácđôcác, Mác và Ănghen đã tiếp thu, cải tạo và phát triển trên lập trường của giai cấp
vô sản Phát hiện ra học thuyết về giá trị thặng dư, Mác, Ănghen đã bóc trần bản chất bóc lột của chế độ tư bản chủ nghĩa, vạch ra quy luật phát triển tất yếu, nội tại của sự phát sinh, phát triển và tiêu vong của chủ nghĩa tư bản
* Chủ nghĩa xã hội không tưởng (đại biểu: Xanhximông, Phuriê, Ô
oen) Mác, Ănghen đã kế thừa, cải tạo chủ nghĩa xã hội không tưởng, đặt nó trên cơ sở thực tiễn cách mạng và khoa học; giải thích được nguồn gốc bản chất của chế độ nô lệ làm thuê, thấy được lực lượng xã hội có khả năng tiêu diệt chế độ bóc lột và sáng tạo ra xã hội mới là giai cấp vô sản Chủ nghĩa xã hội trở thành chủ nghĩa xã hội khoa học được Mác - Ănghen thực hiện trên cơ
sở thực tiễn của phong trào công nhân và thông qua chính hoạt động đấu tranh cách mạng của hai ông
Trang 62.2.2 Tiền đề khoa học tự nhiên
Triết học Mác ra đời dựa trên những thành tựu về khoa học tự nhiên, đặc biệt là 3 phát minh vĩ đại đầu thế kỉ XIX:
Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng nói lên sự vận động của thế giới vật chất là phổ biến, các dạng vận động đều có thể chuyển hoá lẫn nhau
Học thuyết tế bào chứng minh cơ thể thực vật và động vật phát triển từ một đơn vị nhỏ là tế bào và qua quá trình phát triển, số tế bào tăng lên và phân hoá làm cho cơ thể sống ngày càng hoàn thiện
Học thuyết tiến hoá chứng minh quá trình tiến hoá của thế giới động vật
và thực vật
Những phát minh khoa học đã chứng tỏ giới tự nhiên phát triển một cách biện chứng Đây là cơ sở khoa học tự nhiên cho việc xây dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng
Như vậy, triết học Mác ra đời đã vạch ra những quy luật phổ biến của giới tự nhiên, xã hội loài người và tư duy con người Triết học Mác đã xây dựng lý luận nhận thức đúng đắn, khắc phục được những thiếu xót cơ bản của triết học duy vật cũ như tính chất máy móc, siêu hình và duy tâm về xã hội, làm cho chủ nghĩa duy vật đạt tới hình thái cao nhất là duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đó là thắng lợi vĩ đại trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, là thế giới quan và phương pháp luận thực sự khoa học đúng đắn với mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người
Như vậy, sự ra đời của triết học Mác là một bước ngoặt cách mạng trong triết học:
Cơ sở của chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Với cơ sở này, lần đầu tiên giai cấp vô sản và nhân dân lao động đã có một vũ khí tinh thần để đấu tranh giải phóng giai cấp mình và xã hội ra khỏi sự áp bức bóc lột giai cấp
Trang 7Như vậy, triết học Mác là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản, còn giai cấp vô sản là lực lượng "vật chất" của triết học Mác Sự thống nhất chặt chẽ giữa triết học Mác với giai cấp vô sản, làm cho triết học Mác thực sự thể hiện tính cách mạng của mình và giai cấp vô sản mới thực hiện được sứ mệnh lịch
sử là lật đổ xã hội cũ, từng bước xây dựng một xã hội mới
Khác với tất cả các hệ thống triết học trước đó, triết học Mác đã chỉ ra vai trò quyết định của hoạt động thực tiễn trong sự tồn tại, phát triển của xã hội và trong nhận thức Nếu không hiểu đúng vai trò của thực tiễn, nhất là thực tiễn sản xuất xã hội, thì tất yếu dẫn đến chủ nghĩa duy tâm Trong nhận thức, thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, là nơi mà lý luận hướng đến để giải thích và cải tạo thế giới Mác đã cho rằng: "Các nhà triết học trước kia chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề
là ở chỗ cải tạo thế giới" Tất nhiên, khi nhấn mạnh đến vai trò của hoạt động thực tiễn, Mác và Ăngghen không coi nhẹ vai trò của lý luận Các ông cho rằng, lý luận khi đã thâm nhập vào quần chúng, sẽ trở thành lực lượng vật chất vô cùng to lớn
Bước ngoặt cách mạng vĩ đại nhất mà chủ nghĩa Mác thực hiện là đã đưa
ra quan điểm duy vật về lịch sử Trước Mác, các nhà triết học hiểu sự phát triển của xã hội một cách duy tâm - coi động lực phát triển của xã hội là ở trong ý thức, tinh thần của con người Đối lập với quan điểm trên, Mác, Ăngghen đã giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trong đời sống xã hội; không phải ý thức xã hội quyết định tồn tại xã hội, mà ngược lại tồn tại
xã hội quyết định ý thức xã hội; sự phát triển của xã hội phụ thuộc vào nguyên nhân vật chất, chứ không phụ thuộc vào ý thức của con người; sự phát triển của xã hội mang tính quy luật, là quá trình lịch sử - tự nhiên Do sự tác động của các quy luật vốn có của xã hội, các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau một cách khách quan độc lập với ý thức của con người; trong sự phát triển ấy, quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định sáng tạo ra lịch sử
Trang 8Với chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăngghen đã biến đổi căn bản tính chất của triết học, đối tượng nghiên cứu và mối liên hệ của nó với các khoa học khác
Triết học Mác đóng vai trò là thế giới quan và phương pháp luận của các khoa học cụ thể Các tri thức của các khoa học cụ thể là cơ sở để cụ thể hoá
và phát triển triết học Mác
Lênin đã bảo vệ và tiếp tục phát triển triết học Mác trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Ông cho rằng, đây là thời kỳ cách mạng xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Lênin đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi
Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, khoa học có nhiều phát minh lớn, nhất
là trong vật lý học, Lênin đã khái quát những thành tựu của khoa học, phát triển hơn nữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
3 Các giai đoạn hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác.
3.1 Sự chuyển biến tư tưởng của Các Mác và Ph Ăngghen
3.1.1 Sự chuyển biến tư tưởng của Các Mác
Các Mác (5/5/1818 - 14/3/1883) sinh trưởng trong một gia đình trí thức (bố là luật sư) ở thành phố Tơrevơ, tỉnh Ranh, một vùng có nhiều ảnh hưởng của cách mạng tư sản Pháp và đạo Kitô là tôn giáo độc tôn
Những ảnh hưởng tốt của giáo dục gia đình, nhà trường và các quan hệ
xã hội khác đã giúp Các Mác hình thành tinh thần nhân đạo và xu hướng yêu
tự do Phẩm chất đó không ngừng được bồi dưỡng và đã trở thành định hướng cho cuộc đời sinh viên và đưa Các Mác tới chủ nghĩa dân chủ cách mạng Cũng vì thế, trong tình hình lúc đó, triết học Hêghen với tinh thần biện chứng cách mạng của nó được Các Mác xem là chân lý Trong thời gian học ở khoa Luật trường Đại học Tổng hợp Béc lin (1836 - 1841) ông say mê nghiên cứu triết học, nhằm giải đáp vấn đề giải phóng con người, thực hiện dân chủ, vươn
Trang 9tới tự do Năm 1837 Các Mác tập trung nghiên cứu triết học Hêghen và tham gia nhóm “Hêghen trẻ”
Sau khi nhận bằng tiến sỹ triết học (8/1841), Các Mác chuẩn bị vào giảng dạy triết học ở trường đại học và dự định xuất bản một tạp chí với tên gọi “Tư liệu của chủ nghĩa vô thần” Nhưng dự định đó không được thực hiện
vì nhà nước phong kiến Phổ thực hiện chính sách đàn áp những người dân chủ cách mạng Ông và một số người theo phái “Hêghen trẻ” đã chuyển sang hoạt động chính trị đấu tranh chống lại chủ nghĩa chuyên chế Phổ giành lại quyền tự do dân chủ; đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tư tưởng của ông Như vậy lúc này, trong tư tưởng của Các Mác có sự mâu thuẫn giữa thế giới quan duy tâm với tinh thần dân chủ cách mạng và vô thần Mâu thuẫn bước đầu được giải quyết khi Các Mác làm việc ở báo Sông Ranh, ở đây lúc đầu là cộng tác viên sau trở thành linh hồn của tờ báo và ông đã làm cho nó trở thành cơ quan ngôn luận của phái dân chủ cách mạng
Thực tiễn đấu tranh báo chí đã làm cho tư tưởng dân chủ cách mạng ở Các Mác có nội dung rõ ràng hơn, đó là đấu tranh cho lợi ích của quần chúng lao động Lúc này tư tưởng cộng sản chủ nghĩa chưa được hình thành, ông đấu tranh bảo vệ “quần chúng nghèo khổ bất hạnh” dưới tinh thần nhân đạo Với tinh thần nhân đạo, ông tập trung phê phán các chính sách của nhà nước Phổ, nhà nước đó chỉ là “cơ quan đại diện đẳng cấp của những lợi ích cá nhân” Trong quá trình phê phán đó Các Mác đã nhận thấy hoạt động của nhà nước không phải là hiện thân của tinh thần tuyệt đối như Hêghen đã chứng minh
Như vậy, qua thực tiễn, nguyện vọng muốn cắt nghĩa hiện thực, xác lập lý tưởng tự do trong thực tế đã giúp Các Mác hình thành khuynh hướng duy vật, nhận thấy mặt hạn chế của quan điểm duy tâm Lúc này tinh thần dân chủ cách mạng sâu sắc đã không dung hợp với triết học duy tâm tư biện Vì thế sau khi báo Sông Ranh bị cấm (1843), Các Mác đặt cho mình nhiệm vụ
Trang 10duyệt lại một cách có phê phán quan niệm duy tâm của Hêghen trước hết về
xã hội và nhà nước Ông đã viết tác phẩm “góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen” để phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen Trong khi thực hiện phê phán ông nồng nhiệt tiếp nhận quan điểm duy vật của triết học Phoi Ơ Bắc Song với tinh thần phê phán ông đã thấy những mặt hạn chế, nhất là việc xa rời những vấn đề chính trị nóng hổi của Phoi Ơ Bắc Sự phê phán sâu rộng triết học Hêghen, việc khái quát kinh nghiệm lịch sử cùng với ảnh hưởng quan điểm duy vật và nhân văn của triết học Phoi Ơ Bắc đã tăng cường mạnh mẽ xu hướng duy vật trong quan điểm triết học của Các Mác Cuối tháng 10 - 1843, Các Mác sang Pari ở đây, không khí chính trị sôi sục và tiếp xúc với các đại biểu của giai cấp vô sản đã dẫn đến bước chuyển biến dứt khoát quan điểm của ông sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản Trong bài báo “lời nói đầu của cuốn sách góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”, Các Mác đã phân tích một cách sâu sắc theo quan điểm duy vật ý nghĩa và hạn chế của cuộc cách mạng tư sản chỉ là “cuộc cách mạng bộ phận”; đồng thời ông khẳng định, chỉ có cuộc cách mạng do giai cấp
vô sản thực hiện mới là “cuộc cách mạng triệt để” Các Mác nêu rõ: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình” Với bài báo này và một số bài báo khác đăng trong tạp chí Niên giám Đức - Pháp năm 1844 đánh dấu bước hoàn thành quá trình chuyển biến lập trường, quan điểm của Các Mác
3.1.2 Sự chuyển biến tư tưởng của Ph.Ăngghen
Ph.Ăngghen sinh ngày 28-11-1820, trong một gia đình chủ xưởng sợi ở tỉnh Ranh Khi còn là học sinh trung học đã có thái độ căm ghét sự chuyên quyền và độc đoán của bọn quan lại phong kiến Việc nghiên cứu triết học trong thời gian ở Béc lin, khi làm nghĩa vụ quân sự đã hướng ông đi vào con đường khoa học Song, chỉ thời gian gần hai năm sống ở Manchestơ (Anh) từ mùa thu 1842 khi nghiên cứu đời sống kinh tế và chính trị nước Anh, nhất là