MỞ ĐẦU Ngày 2 tháng 9 năm 1945, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chấm dứt chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đồng thời xoá bỏ chế độ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân đế quốc kéo dài gần 100 năm trên đất nước ta. Tuy nhiên, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn. Trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã phát huy cao độ sáng tạo, khéo léo, vững tay chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh, đi đến bến bờ vinh quang; Lãnh đạo nhân dân bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai với phương châm vừa kiến quốc vừa kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh. Có thể thấy, từ khi lãnh đạo chính quyền, một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng ta là chǎm lo xây dựng, bảo vệ chính quyền nhân dân, làm cho chính quyền ngày càng vững mạnh. Cùng với việc xây dựng, kiện toàn và đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước ở Trung ương, Đảng và Nhà nước rất quan tâm vấn đề tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Do đó, em chọn đề tài: “Việc củng cố và bảo vệ chính quyền địa phương ở nước ta thời kì 1946-1954 là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa to lớn đối với sự thắng lợi chung của cách mạng” làm bài thu hoạch của mình.
Trang 1MỞ ĐẦU
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chấm dứt chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đồng thời xoá bỏ chế độ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân đế quốc kéo dài gần 100 năm trên đất nước ta Tuy nhiên, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn Trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã phát huy cao độ sáng tạo, khéo léo, vững tay chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh, đi đến bến bờ vinh quang; Lãnh đạo nhân dân bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai với phương châm vừa kiến quốc vừa kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh
Có thể thấy, từ khi lãnh đạo chính quyền, một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng ta là chǎm lo xây dựng, bảo vệ chính quyền nhân dân, làm cho chính quyền ngày càng vững mạnh Cùng với việc xây dựng, kiện toàn và đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước ở Trung ương, Đảng và Nhà nước rất quan tâm vấn đề tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương Do đó, em chọn
đề tài: “Việc củng cố và bảo vệ chính quyền địa phương ở nước ta thời kì
1946-1954 là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa to lớn đối với sự thắng lợi chung của cách mạng” làm bài thu hoạch của mình.
Trang 2NỘI DUNG
I Tình hình đất nước sau cách mạng Tháng Tám
1.1 Thuận lợi
Trải qua 15 năm đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến, thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Một Nhà nước cách mạng kiểu mới đã ra đời ở Việt Nam - Nhà nước của dân, do dân và vì dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ mục đích và bản chất của Nhà nước Việt Nam mới không phải là cơ quan cai trị dân, mà là để phục vụ nhân dân; các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, đều là công bộc của dân, gánh việc chung cho dân “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”
Sau Cách mạng Tháng Tám, nước ta có những thuận lợi lớn Hệ thống chính quyền cách mạng được xây dựng từ Trung ương tới cơ sở trên cả nước Từ hoạt động bí mật, Đảng ta đã trở thành Đảng lãnh đạo chính quyền Đảng, Mặt trận Việt Minh và Chủ tịch Hồ Chí Minh có uy tín lớn trong dân tộc, chính quyền cách mạng được toàn dân ủng hộ Phong trào cách mạng và tinh thần yêu nước của nhân dân dấy lên từ cao trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tiếp tục phát triển với những hình thức và nội dung mới nhằm xây dựng, bảo vệ chính quyền, giữ vững thành quả cách mạng Chính quyền địa phương của Nhà nước kiểu mới được thành lập trong cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng
vũ trang giành chính quyền trong cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 Các Ủy ban giải phóng ra đời trong cuộc đấu tranh cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền
ở các huyện, các làng là hình thức chính quyền “tiền Chính phủ” của nhân dân các địa phương khi ta chưa giành được chính quyền trong cả nước Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, các Ủy ban giải phóng đã trở thành các ủy ban nhân dân - là tổ chức chính quyền tiền thân của các Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân sau này
1.2 Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi, nhân dân ta và chính quyền cách mạng phải đương đầu với những khó khǎn, thử thách nặng nề
Trang 3Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, các thế lực đế quốc, phản động quốc tế đã cấu kết, bao vây, chống phá hòng thủ tiêu mọi thành quả cách mạng của nhân dân ta, đặt lại ách thống tri của chúng, xoá bỏ nền độc lập
mà dân tộc ta vừa giành được: Gần 20 vạn quân của chính quyền Tưởng Giới Thạch (Trung Quốc) - Đồng minh của đế quốc Mỹ, kéo vào miền Bắc Ở phía Nam vĩ tuyến 16 (từ Đà Nẵng trở vào), cũng với danh nghĩa lực lượng Đồng minh, quân đội Anh vào tước vũ khí quân Nhật Trên thực tế, đế quốc Anh đã giúp cho thực dân Pháp trở lại chiếm Việt Nam và cả Đông Dương Ngày
23-9-1945, được quân Anh và quân Nhật giúp sức, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đâu cuộc xâm lược tân thứ hai của thực dân Pháp hòng đặt lại ách thống trị ở Việt Nam và Đông Dương
Sự chống phá của các thế lực phản động ở trong nước như “Đảng Nam Kỳ”, “Đảng Đông Dương tự trị”, Đại Việt cách mạng đảng, Việt Nam phục quốc, Việt Cách, Việt Quốc… cũng là một thách thức lớn Giặc ngoài, thù trong cấu kết chặt chẽ với nhau hòng tiêu diệt chính quyền cách mạng non trẻ, trong khi cách mạng Việt Nam còn chưa nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế
Nhân dân ta và chính quyền cách mạng còn phải vượt qua những khó khǎn lớn về đời sống kinh tế - xã hội Nền kinh tế nước ta vốn đã nghèo nàn, lạc hậu lại bị thực dân Pháp và phát xít Nhật vơ vét, bị chiến tranh và thiên tai tàn phá nên lại càng nghèo hơn Hậu quả nạn đói cuối nǎm 1944 đầu nǎm 1945 làm
2 triệu người chết chưa kịp khắc phục, thì nạn lụt lớn lại xảy ra, tàn phá 9 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ 50% ruộng đất bỏ hoang
Về kinh tế tài chính, công nghiệp chỉ có không quá 200 nhà máy nhỏ bé, trang bị cũ kỹ, đang lâm vào đình đốn, hàng hoá khan hiếm Tài chính quốc gia gần như trống rỗng Ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản nước ngoài Chính quyền cách mạng chỉ tiếp quản được kho bạc với khoảng hơn 1,2 triệu đồng với phân nửa là tiền rách, không đưa vào lưu hành được
Về xã hội, trên 90% số dân không biết chữ Hầu hết số người được đi học chỉ ở bậc tiểu học và vỡ lòng, trên 3 vạn dân mới có một học sinh cao đẳng hoặc đại học và chủ yếu học ở ngành luật và ngành thuốc Thực tế đó làm cho việc tổ chức, hoạt động của chính quyền mới gặp không ít khó khǎn, lúng túng
Chính quyền cách mạng tiếp thu một đất nước đổ nát với nạn đói và sự kiệt quệ về kinh tế, tài chính và biết bao hậu quả khác mà chế độ phong kiến, thực dân để lại Với những thử thách nặng nề đó, sự mất - còn của chính quyền
Trang 4đặt trong thế “ngàn cân treo sợi tóc” Trước tình hình đó, nhiệm vụ xây dựng, củng cố chính quyền được Đảng ta đặt lên hàng đầu Đảng chủ trương bất kể tình hình như thế nào cũng phải “củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân”
Để xây dựng ngay cơ sở pháp lý cho tổ chức chính quyền địa phương, chỉ vài tháng sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký hai Sắc lệnh đầu tiên về tổ chức chính quyền địa phương là: Sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 về
tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính xã, huyện, tỉnh, kỳ; Sắc lệnh
số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính thành phố, khu phố
Hai Sắc lệnh trên đã tạo tiền đề để cuộc kháng chiến của nhân dân ta được tiến hành trong điều kiện đã có chính quyền cách mạng - công cụ mạnh mẽ và hiệu lực để tổ chức, động viên nhân dân tham gia kháng chiến
II Đảng lãnh đạo xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền địa phương thời
kì 1946-1954
2.1 Những chỉ đạo chung của Đảng, Nhà nước để xây dựng, củng cố chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương cơ sở theo cách hiểu phổ biến của khoa học hành chính là chính quyền cấp thấp nhất Ở Việt Nam hiện nay, chính quyền địa phương cấp thấp nhất được gọi là “cấp xã” Chính quyền địa phương cơ sở là chính quyền được tổ chức ra nhằm bảo đảm, bảo vệ và phục vụ quyền, lợi ích của nhân dân, nhân dân là đối tượng cơ bản để chính quyền phục vụ
Thời kì 1946-1954, với sự bao trùm của cuộc chiến tranh, đòi hỏi Đảng
ta phải nhanh chóng chuyển hướng xây dựng chính quyền ở các địa phương, đặc biệt là vùng nông thôn rộng lớn - nơi chúng ta có thể xây dựng một hậu phương vững chắc phục vụ cho cuộc kháng chiến Nhận thức tầm quan trọng trên, một thời gian ngắn sau ngày Toàn quốc kháng chiến, Trung ương Đảng, Chính phủ
đã nhanh chóng chuyển hướng xây dựng chính quyền địa phương thành hệ thống tổ chức chiến đấu tập trung, thống nhất
Ngày 28/12/1946, Chính phủ đã kịp thời ban hành sắc lệnh số 3/SI/82-2,
về việc tạm hoãn các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân và ủy ban kháng chiến các cấp, kéo dài nhiệm kì làm việc của những cơ quan này trong tình hình mới Quyết định này phản ánh những khó khăn của thời kì mới Do hoàn cảnh chiến
Trang 5tranh nên hoạt động của Hội đồng nhân dân không thể duy trì một cách bình thường như trước Mọi hoạt động của cơ quan Nhà nước địa phương đều tập trung vào các ủy ban kháng chiến hành chính - cơ quan đầu não của chính quyền
địa phương Đây là nét rất độc đáo trong xây dựng chính quyền của Đảng để đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến tranh
Để thuận tiện trong việc chỉ đạo kháng chiến, phát huy khả năng độc lập sáng tạo của các địa phương, sự phân chia các đơn vị hành chính ở nước ta có
nhiều thay đổi Cả nước chia thành 4 cấp
Đơn vị hành chính cao nhất là Liên khu, được thành lập theo Sắc lệnh
120 ngày 25-1-1948 trên cơ sở một số khu nhỏ trước đây Các Liên khu này là những vùng có địa thế gần nhau, cùng có vị trí chiến lược về quân sự, được tổ chức lại cho phù hợp với tình hình kháng chiến, đồng thời giúp cho chỉ đạo của
Trung ương tới các địa phương được nhanh chóng kịp thời Liên khu I: Cao
Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên,Phúc Yên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải
Ninh, Hòn Gai, Quảng Yên Sơn Liên khu III: Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam
Định, Ninh Bình, Hòa Bình, Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải
Dương, Hà Nội Liên khu IV: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Liên khu V: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú
Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng, Gia
Lai, Công Tum, Đắc Lắc Liên khu X: Vĩnh Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên
Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, huyện Mai Đà Cuối năm 1949, Liên khu I và Liên khu X hợp nhất thành Liên khu Việt Bắc (sắc lệnh số 127/SL ngày 4/11/1949)
Sau cấp Liên khu là cấp tỉnh Các đơn vị hành chính trung gian có tên gọi
là phủ, châu, huyện, quận; nay thống nhất gọi là cấp huyện Như vậy, trong thời gian này, sự thay đổi lớn về tổ chức hành chính là việc thành lập một số Liên khu, kéo theo sự thay đổi trong quá trình xây dựng, củng cố chính quyền ở các địa phương.
Ngay sau ngày kháng chiến bùng nổ, ở các địa phương, bên cạnh Ủy ban hành chính và Ủy ban quân sự, chính phủ còn quyết định thành lập các Ủy ban bảo vệ (sắc lệnh số 1 ngày 20/12/1946) Trong thời gian đầu, các ủy ban bảo vệ
có nhiệm vụ thực hiện các kế hoạch kháng chiến của cấp trên, tổ chức các hoạt động vũ trang chống địch bảo vệ chính quyền Chiến sự lan tới đâu thì ủy ban bảo vệ ở đó đổi thành Ủy ban kháng chiến
Trang 6Cơ cấu thành phần Ủy ban kháng chiến được quy định rõ ràng, chặt chẽ.
Ủy ban kháng chiến khu và tỉnh có một đại biểu quân sự, một đại biểu hành chính và ba đại biểu nhân dân (sắc lệnh ngày 19/3/1947) Ủy ban kháng chiến huyện gồm ba đại biểu là quân sự, hành chính, nhân dân Ủy ban kháng chiến xã gồm một đại biểu nhân dân, một đại biểu quân sự (sắc lệnh ngày 26/3/1947)
Ngày 1/10/1947, Chính phủ ra Sắc lệnh số 91 về hợp nhất Ủy ban hành chính và Ủy ban kháng chiến từ cấp tỉnh trở xuống thành Ủy ban hành chính kiêm kháng chiến Ở cấp xã, ủy ban này có 5 ủy viên hành chính, một ủy viên quân sự và một ủy viên nhân dân Ở cấp huyện, tỉnh, gồm 7 ủy viên trong đó 3
ủy viên hành chính, 1 ủy viên quân sự và 3 ủy viên nhân dân
Cũng trong thời gian này, Chính phủ còn ban hành hai sắc lệnh quan trọng nhằm kiện toàn và củng cố bộ máy chính quyền ở địa phương: Sắc lệnh số 254/SL và Sắc lệnh 255/SL ngày 19/11/1948 quy định về cách tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban kháng chiến hành chính ở các địa phương nói chung và trong vùng bị tạm chiếm nói riêng
Căn cứ vào những sắc lệnh trên, có thể thấy việc xây dựng chính quyền địa phương có một số thay đổi chính sau:
- Tất cả các Ủy ban kháng chiến hành chính từ cấp xã đến cấp liên khu đều phải đảm nhận một nhiệm vụ nặng nề là lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến chống Pháp trong phạm vi địa phương mình, đồng thời phối hợp với các địa phương khác trong toàn quốc Đây là nhiệm vụ trung tâm quan trọng hàng đầu, chi phối mọi hoạt động của ủy ban trong suốt thời kì kháng chiến
- Ủy ban kháng chiến hành chính cấp liên khu ngoài những nhiệm vụ chung còn được trao thêm một số quyền hạn đặc biệt như: Quyền điều động quân đội, quyền quyết định các kế hoạch kháng chiến, huy động lực lượng và thực phẩm…trong phạm vi địa phương mình Những quyền hạn này được áp dụng trong trường hợp liên lạc với trung ương hết sức khó khăn mà yêu cấu kháng chiến lại cần kíp
- Trong hoàn cảnh kháng chiến, lần đầu tiên quyền trực tiếp lãnh đạo và điều khiển tất cả các cơ quan chuyên môn ở địa phương của các Ủy ban kháng chiến hành chính được xác nhận trong các sắc lệnh trên
Cùng với việc quy định về hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền địa phương, Chính phủ, Bộ nội vụ và các bộ còn ra nhiều Sắc lệnh, Thông tư, chỉ thị quy định, hướng dẫn cách làm việc, mối quan hệ giữa chính quyền dịa phương
Trang 7và các cơ quan chuyên môn…nhằm tăng cường mối quan hệ với nhân dân, đơn giản gọn nhẹ bộ máy chính quyền, phân công phân nhiệm, làm cho công tác chỉ đạo kháng chiến ngày càng đi vào nề nếp
2.2 - Xây dựng chính quyền ở vùng địch tạm chiếm và các khu du kích
Trong thời kì 1946-1954, để tiến hành một cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài, chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, Đảng đã ra sức giữ vững và củng cố chính quyền ở các khu du kích và những vùng địch tạm chiếm
Vùng tạm chiếm là những nơi địch đã kiểm soát hoàn toàn, chính quyền địch
đã thành lập và hoạt động công khai Chính quyền ta hoặc bị phá, hoặc vẫn còn nhưng không thể hoạt động công khai Địch đóng vị trí và đi lại tự do, các tổ chức Việt gian, gián điệp hoạt động công khai Bộ đội ta có thể tồn tại bí mật, các tổ chức quần chúng của ta bị địch phá, hoặc phải hoạt động bí mật Dân chúng bị địch kiểm soát, bắt buộc phải theo luật lệ của chính quyền địch Chủ trương của chính quyền cách mạng không thể thi hành hoặc có thi hành phải bí mật
Vùng du kích là những vùng địch và ta phải giằng co, sự đấu tranh ở đây rất ác liệt và phức tạp Chính quyền của ta tồn tại và làm việc công khai hay bán công khai, Chính quyền của địch vẫn còn phạm vi hoạt động và ảnh hưởng đã hạn chế Bộ độ địa phương và dân quân du kích của ta đi lại hoạt động được nhưng chưa đủ sức để đối phó với tất cả các cuộc đánh phá của địch Các tổ chức quần chúng của ta tồn tại và làm việc công khai hay bán công khai Địch củng cố cứ điểm nhưng không kiểm soát được địa phương, tổ chức Việt gian, gián điệp hoạt động công khai hay bán công khai Đời sống của nhân dân ta được bảo vệ nhưng luôn luôn bị uy hiếp, nhân dân chấp hành mệnh lệnh chính phủ cách mạng nhưng đối với địch cũng bị chúng khống chế một phần.Vùng tạm chiếm và vùng du kích không có ranh giới rạch ròi, luôn biến động và thay đổi theo sự phát triển của cuộc đấu tranh giữa ta và địch
Sau thất bại ở Việt Bắc - Thu đông năm 1947, âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp bị phá sản, chúng quay sang bình định rất dữ dội vùng tạm chiếm, lập hệ thống chính quyền bù nhìn, thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” Để phá tan âm mưu của địch, ta phát động phong trào chiến tranh du kích rộng lớn, đưa chiến tranh vào sâu trong lòng địch nhằm phá nát thế kìm kẹp của chúng, biến hậu phương của chúng thành tiền phương, thậm chí thành hậu phương của ta
Trang 8Cùng với sự phát triển của kháng chiến, vùng tạm chiếm ngày càng thu hẹp, khu du kích ngày càng mở rộng Đặc biệt là sau thời kì Đông Xuân
1953-1954, khu du kích phát triển có tính nhảy vọt, tạo thành thế liên hoàn, làm ruỗng nát hậu phương của kẻ thù Ở vùng tạm chiếm, hầu như ta chỉ có cơ sở chính trị
và đấu tranh chính trị là chủ yếu Chính quyền ta hoặc bị phá, hoặc vẫn còn nhưng không thể hoạt động được
Ở vùng tạm chiếm, địch dựa vào bọn tay sai lập ra chính quyền Ngụy Do
đó từ năm 1948 trở đi, chúng ta có chủ trương nắm tề, diệt tề Các cấp lãnh đạo nhiều nơi lập ra chính quyền ngụy trá hình Một số đảng viên bề ngoài tham gia chính quyền địch, bên trong cung cấp thông tin địch cho ta Đây là một biện pháp cần thiết thể hiện sự năng động, sáng tạo của Đảng ta trong xây dựng chính quyền, nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất của ta ở vùng tạm chiếm
Một tình hình khá phổ biến ở vùng tạm chiếm là nhiều nơi phong trào quần chúng mạnh, tuy chưa có chính quyền cách mạng nhưng uy tín của Việt minh có ý nghĩa như một chính quyền thực sự Các tổ chức của Việt Minh đã chủ trương lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống lại âm mưu chia rẽ của giặc Pháp trong việc tạo ra những cái gọi là “Xứ Nùng tự trị”, “xứ Thái tự trị”,” “xứ Mường tự trị”, chống lại âm mưu “dùng người Việt chống người Việt”…
Đối với vùng du kích, chính quyền ta hoạt động công khai, hoặc bán công
khai song song với chính quyền địch Ở những vùng này, sự tồn tại của chính quyền rất khó khăn và đặc biệt Có nơi chính quyền địch làm chủ ban ngày, còn ban đêm, chính quyền cách mạng hoàn toàn khống chế Một số nơi ta sử dụng ngay tổ chức tề ngụy để che mắt địch, rào làng chiến đấu, mua sắm vũ khí Ở những nơi này, hội tề hoàn toàn trên danh nghĩa làm nhiệm vụ liên hệ với địch giải quyết những công việc thường nhật, còn Ủy ban kháng chiến hành chính mới thực sự tổ chức điều hành mọi công việc kháng chiến Nhìn chung, công tác xây dựng chính quyền trong vùng tạm chiếm và khu du kích gặp nhiều khó khăn
do những biến động của cuộc chiến Hoạt động của chính quyền cách mạng ở vùng tạm chiếm, vùng du kích phần lớn là tự động công tác trong trường hợp mất liên lạc với cấp trên
2 3 - Xây dựng chính quyền ở vùng tự do
Bên cạnh vùng tạm chiếm là những vùng tự do Ở vùng tự do, cách mạng làm chủ hoàn toàn, chính quyền hoạt động công khai, mọi chủ trương và chính sách của Đảng, Chính phủ được thực hiện, nhân dân được hưởng các quyền tự
Trang 9do, dân chủ Điển hình là các vùng tự do như khu IV, khu V ở Trung bộ, khu IX
ở Nam bộ và đặc biệt là Việt Bắc - khu căn cứ địa của cuộc kháng chiến cả nước
Các vùng tự do không ngừng được mở rộng theo sự lớn mạnh của cách mạng Trong những năm cuối của cuộc kháng chiến, Việt Bắc đã được mở rộng
từ Tây sang Đông, đánh thông với khu IV, và qua đó nối liền với vùng giải phóng Lào Tại những vùng tụ do này, có thể xây dựng hâu phương toàn diện với quy mô ngày càng rộng lớn để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc chiến tranh nhất là chiến tranh chính quy
Tháng 1/1949, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 họp kiểm điểm công tác xây dựng chính quyền qua hai năm kháng chiến và chỉ ra 8 công việc phải làm để củng cố chính quyền dân chủ nhân dân.1
Tháng 2/1950, trong Thư gửi Hội nghị kháng chiến hành chính toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh với những vấn đề quan trọng như: chỉnh đốn
và kiện toàn bộ máy chính quyền, sửa đổi và thống nhất cách làm việc, thiết thực thực hiện quân dân nhất trí, giải quyết vấn đề cán bộ, chỉnh đốn và đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc.2
Thực hiện các chủ trương trên, ngày 19/4/1949, Bộ Nội vụ ra Thông tư số 814/NV/TC về việc bầu cử Hội đồng nhân dân xã và tỉnh Ngày 25/4/1949, Chính phủ ra Sắc lệnh 29/SL cho phép bầu lại hội đồng nhân dân tỉnh Ngày 22/5//1950, Chính phủ ra tiếp sắc lệnh 80 về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh,
xã theo tinh thần của sác lệnh 63/SL ngày 22/11/1945 Sắc lệnh ghi rõ trong những vùng bị địch uy hiếp, Bộ trưởng bộ Nội vụ có thể tạm hoãn bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh, chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh có thể tạm hoãn bầu hội đồng nhân dân xã Các sắc lệnh trên được triển khai trong các vùng
tự do và một số vùng thuộc căn cứ du kích
Theo báo cáo của Bộ Nội vụ gửi Văn phòng Chính phủ thì toàn quốc đã bầu Hội đồng nhân dân xã khóa 2, Tỉnh Thanh Hóa (vùng tự do) có 206.918 cử tri đi bầu, chiếm 99%, đứng đầu toàn quốc Ngoài ra,một số lớn tỉnh cũng bầu hội đồng nhân dân tỉnh khóa 2, số người đi bỏ phiếu rất đông Tỉ lệ cử tri đi bầu
có thấp hơn so với Hội đồng nhân dân xã , song nói chung vẫn cao Ở Quảng Ngãi (vùng tự do), tỉ lệ cử tri đi bầu chiếm 89%
Trang 10Đại hội đại biểu toàn quốc lần 2 đầu năm 1951 đã diễn ra trong tình hình thế giới và trong nước có những biến chuyển: sau chiến thắng Biên giới, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam nhận được sự chi viện của các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa Cùng từ năm 1950 trở đi, Mĩ ngày càng can thiệp sâu vào các nước ở bán đảo Đông Dương Được Mĩ viện trợ, thực dân Pháp đã
đề ra chủ trương mới với nội dung chủ yếu là xây dựng lực lượng chủ lực cơ động mạnh, tăng cường lực lượng ngụy quân, xây dựng tuyến phòng ngự bao quanh vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ để ngăn chặn chủ lực ta, tăng cường bình định vùng địch tạm chiếm, tiến công phá căn cứ của ta và chuẩn bị tiến công ra chiếm các vùng tự do
Trước tình hình trên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần 2 đã quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai, củng cố, tổ chức bổ sung và hoàn chỉnh đường lối cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong giai đoạn mới, nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn Do đó, trong giai đoạn này, Đảng, Chính phủ đã có nhiều biện pháp kiên quyết và thích hợp để kiện toàn nhà nước cách mạng
Nguyên tắc kiện toàn chính quyền là phải thực sự dân chủ, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiện toàn các cơ quan Nhà nước trước hết là kiện toàn
“thành phần công nông, nhất là trong các Hội đồng nhân dân, ủy ban kháng chiến hành chính các cơ quan kinh tế, công an”, “việc đề bạt công nông giữ địa
vị và công việc ngày càng quan trọng hơn trong các cơ quan chính quyền là một điểm cấp thiết”3
Nam 1952, một số nơi đã tiến hành trong toàn quốc đã tiến hành bầu cử hội đồng nhân dân tỉnh xã khóa 3 và kiện tòan Ủy ban kháng chiến hành chính theo các thông tư, sắc lệnh của Chính phủ Kết quả, ở như một số tỉnh như Tuyên Quang: 70% đi bầu, ứng cử: 39, số hội viện chính thức: 20 Trong đó, công nhân: 1, bần cố nông: 2, trung nông: 12, tiểu tư sản: 54
Cùng với việc kiện toàn hội đồng nhân dân, ủy ban kháng chiến hành chính các cấp một số liên khu được chấn chỉnh
Chính quyền liên khu là nhà nước cao nhất ở địa phương Việc xây dựng liên khu trở thành một đơn vị kháng chiến tương đối độc lập là chủ trương đúng đắn của Đảng, nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của các địa phương Bên