1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Anh chị hãy phân tích tác động của cuộc CMCN 4 0 tới giáo dục đại học việtnam trên các khía canh triết lý giáo dục; phương pháp tiếp cận; tổ chức giảngdạy, kiểm tra đánh giá và chuẩn đầu ra sản phẩm đào tạo

14 86 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của cuộc CMCN 4.0 tới giáo dục đại học Việt Nam trên các khía cạnh triết lý giáo dục; phương pháp tiếp cận; tổ chức giảng dạy, kiểm tra đánh giá và chuẩn đầu ra sản phẩm đào tạo
Trường học Trường Đại học Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Bài thu hoạch
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Con số này khác xa với 96% cán bộ phụ trách đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng lại rất tự tin cho rằng trường của họ đang đào tạo sinh viên cho các nghề nghiệp tương lai.Khảo sát điề

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

-♦ -♦ -♦ -CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG

NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM ĐẠI HỌC

BÀI THU HOẠCH CHUYÊN ĐỀ: ………

Mã: 930

Học viên:

Ngày sinh:

Nơi sinh:

Đơn vị công tác:

Năm 2021

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin chân thành cám ơn trường Đại học Hà Nội đã tạo điều kiện cho em tham gia lớp Nghiệp vụ sư phạm với những Giảng viên giảng dạy rất nhiệt tình, đầy tâm huyết, đảm bảo đầy đủ nội dung theo chương trình; đặc biệt khơi nguồn, đã thắp lên ngọn đuốc soi sáng con đường mà em đã tự chọn lựa, và quyết tâm tự bước đi đến đích cuối cùng trong thời gian tới mặc dù con đường đó sẽ có rất nhiều gian nan, thử thách nhưng cũng nhiều niềm vui với sự nghiệp trồng người cao quý này

Một lần nữa, em xin gửi cám ơn chân thành, lòng biết ơn sâu sắc trường với kỳ vọng là em sẽ được làm “người lái đò” tốt trong thời gian tới, để được góp phần công sức nhỏ cho phát triển sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo của nước nhà./

Hà Nội, ngày 27 tháng 07 năm 2021

Trang 3

Anh chị hãy phân tích tác động của cuộc CMCN 4.0 tới giáo dục Đại học Việt Nam trên các khía canh triết lý giáo dục; phương pháp tiếp cận; tổ chức giảng dạy, kiểm tra đánh giá và chuẩn đầu ra sản phẩm đào tạo.

1.Bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Thuật ngữ “cách mạng công nghiệp 4.0” lần đầu tiên được nói đến ở Đức năm

2011, đến nay đã được sử dụng rộng rãi, bằng nhiều thứ tiếng trên thế giới Thành tựu

mà các cuộc cách mạng công nghiệp mang lại rất to lớn, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của xã hội loài người Với những tiến bộ khoa học - công nghệ, máy móc thay thế dần sức lao động của con người, hình thành các mô hình sản xuất, kinh doanh mới, năng suất lao động ngày càng cao, sản lượng của cải vật chất được tạo ra ngày càng nhiều Nhờ đó, cuộc sống của loài người ngày càng được nâng cao; khả năng tư duy, cách sống và phương pháp quản lý xã hội cũng thay đổi theo hướng ngày càng khoa học hơn Từ gần 200 năm trước, C.Mác từng dự đoán về vai trò to lớn của khoa học -công nghệ, coi sự phát triển tri thức là đặc trưng lớn nhất của các cuộc cách mạng công nghệ: Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến

đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp Các nhà nghiên cứu cho rằng, tất cả các yếu tố của Cách mạng công nghiệp 4.0, từ phát triển tri thức, tiến bộ kỹ thuật, năng suất lao động, lượng của cải tạo ra, đến các biến đổi về cấu trúc của nền hành chính - thể chế, quản lý - quản trị đều có sự phát triển với tốc độ theo cấp số nhân Theo đó, một quốc gia muốn phát triển nhanh, theo kịp tốc độ của các nước tiên tiến thì phải xây dựng được chiến lược thực hiện Cách mạng công nghiệp 4.0

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là sự gắn kết giữa các nền công nghệ, làm xóa đi ranh giới giữa thế giới vật thể, thế giới số hóa và thế giới sinh học Đó là các công nghệ internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, người máy, xe tự lái, in ba chiều, máy tính siêu thông minh, công xưởng thông minh, công nghệ nano, công nghệ sinh học… Đây là cuộc cách mạng về sản xuất thông minh dựa trên các thành tựu đột phá trong các lĩnh vực công nghệ khác nhau với nền tảng là các đột phá của công nghệ số Trung tâm của cuộc cách mạng 4.0 là công nghệ thông tin và internet kết nối vạn vật (IoT), không chỉ giúp con người giao tiếp với nhau, mà còn là con người giao tiếp với máy, với đồ vật;

và đồ vật giao tiếp với nhau Nó tác động mạnh mẽ đến tất cả các ngành công nghiệp, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ cho phép xã hội loài người có cuộc sống ngày càng

Trang 4

đầy đủ, phồn vinh hơn Đồng thời, nó cũng tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến bất bình đẳng, thất nghiệp khi công nghệ mới sẽ dần thay thế sức lao động của con người Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra sự phát triển với tốc độ theo cấp số nhân, từ các yếu tố, như tri thức, tiến bộ kỹ thuật, năng suất lao động, lượng của cải tạo ra, cho đến các biến đổi về cấu trúc của nền hành chính - thể chế, quản lý - quản trị

Nền sản xuất “tự động” đặc trưng của cách mạng công nghiệp lần thứ 3 sẽ sớm chuyển sang nền sản xuất “thông minh”, trong đó các máy móc được kết nối internet

và liên kết với nhau qua một hệ thống có thể tự vận hành toàn bộ quá trình sản xuất theo một kế hoạch đã được xác lập từ trước Làn sóng công nghệ mới với sản xuất thông minh sẽ giúp công nghệ phát triển và kéo theo năng suất tăng cao Nhưng để có thể áp dụng được “sản xuất thông minh” vào thực tiễn thì không thể thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao Vì vậy, một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững thì phải xây dựng chiến lược để thực hiện, đặc biệt là giáo dục và đào tạo Nhiệm vụ đặt ra đối với ngành giáo dục nước ta là phải có định hướng cụ thể để thích ứng với thời đại mới, để đào tạo ra nguồn nhân lực tốt, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thị trường lao động hiện đại

2.Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với giáo dục đại học tại Việt Nam.

Theo các chuyên gia trong ngành giáo dục, thời đại mới người ta sẽ không còn quá quan trọng tấm bằng một cách hình thức, nguồn gốc xuất thân hay các mối quan hệ

mà yêu cầu là kiến thức, trình độ chuyên môn, kỹ năng, Có thể nói đối với kỷ nguyên CMCN 4.0 là thời đại làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, tất cả mọi cơ hội đều san đều cho tất cả Ai có năng lực thực sự, trình độ chuyên môn tốt, có kỹ năng, tạo ra nhiều giá trị cho xã hội thì đó sẽ là người thành công Thực tế cho thấy, nghiên cứu năm 2013 của Lumina Foundation/Gallup phát hiện rằng chỉ 11% lãnh đạo kinh doanh cho rằng sinh viên tốt nghiệp đại học theo ngành nghề họ đang tìm kiếm là làm việc được Con số này khác xa với 96% cán bộ phụ trách đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng lại rất tự tin cho rằng trường của họ đang đào tạo sinh viên cho các nghề nghiệp tương lai.Khảo sát điều tra của Học viện chế tạo và Hãng Deloitte với 450 giám đốc điều hành sản xuất cho thấy những lĩnh vực mà nhân công thiếu kỹ năng nhất là: Công nghệ và máy tính (70%), giải quyêt vấn đề (69%), đào tạo kỹ thuật cơ bản (67%) và kỹ năng tính toán (60 %).Cuộc CMCN 4.0 có ảnh hưởng trực tiếp, lớn nhất đến giáo dục -nơi trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp

Trang 5

4.0.Để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền công nghiệp mới và đồng thời tận dụng thế mạnh của công nghệ thông tin (CNTT), nhiều trường đại học trên thế giới đã và đang đổi mới toàn diện

Những vấn đề đặt ra và giải pháp đối với GDNN Việt Nam trong CMCN 4.0

Sự dịch chuyển từ cuộc CMCN lần thứ ba san cuộc CMCN 4.0 thực chất là sự chuyển dịch từ cách mạng số(đơn giản, máy móc) sang cuộc cách mạng của sự sáng tạo (dựa trên sự kết hợp giữa các công nghệ).Công nghệ đã giúp các doanh nghiệp có những thiết bị mới, bao gồm cả thiết bi ảo để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới với phương thức cung ứng mới (đặt hàng và cung hàng qua mạng ) Mặt khác, cuộc CMCN 4.0 và với những phiên bản 4.1; 4.2 sẽ tạo ra sự cạnh tranh ngày càng mạnh

mẽ giữa các doanh nghiệp, giữa các nền kinh tế và năng lực con người chứ không phải

là nguồn vốn tài chính sẽ trởthành nhân tố quyết định của nền sản xuất Hàng loạt nghề nghiệp cũ sẽ mất đi và thay thế vào đó là những nghề nghiệp mới Thị trường lao động trong nước cũng như quốc tế sẽ phân hóa mạnh mẽ giữa nhóm lao động có kỹ năng thấp và nhóm lao động có kỹ năng cao Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra ằng cuộc cách mạng 4.0 không chỉ đe dọa việc làm của những lao động trình độ thấp mà ngay

cả lao động có kỹ năng bậc trung(trung cấp, cao đẳng)cũng sẽ bịảnh hưởng, nếu như

họ không được trang bị những kỹ năng mới-kỹ năng sáng tạo cho nền kinh tế 4.0.Những sự thay đổi này của sản xuất và cơ cấu nhân lực trong TTLĐ tương lai, đặt

ra nhiều vấn đề đối với GDNN, đó là:

-Thứ nhất, để đáp ứng được nhu cầu nhân lực có chất lượng cao và đa dạng ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế4.0, các cơ sở GDNN phải đổi mới mạnh mẽ từ hoạt động đào tạo đến quản trị nhà trường để tạo ra những “sản phẩm”-người lao động tương lai có năng lực làm việc trong môi trường sáng tạo và cạnh tranh

-Thứ hai, để đáp ứng nhân lực cho nền kinh tếsáng tạo, đòi hỏi phải thay đổi các hoạt động đào tạo, nhất là phương thức và phương pháp đào tạo với sự ứng dụng mạnh mẽ của CNTT Tuy nhiên, hiện nay các điều kiện đảm bảo cho sự thay đổi này vẫn còn hạn chế.Trong một số năm gần đây, trong khuôn khổ của chương trình MTQG, ngành dạy nghề đã triển khai các hoạt động của dự án ứng dụng CNTT trong quản lý, hoạt động dạy và học nghề

-Thứ ba, sự thay đổi trong quản trị nhà trường Đào tạo ảo, mô phỏng, số hóa bài giảng sẽ là xu hướng đào tạo nghề nghiệp trong tương lai Điều này tác động đến bố trí cán bộ quản lý,phục vụ và đội ngũ giáo viên của các cơ sở GDNN Đội ngũ này

Trang 6

phải được chuyên nghiệp hóa và có khả năng sáng tạo cao, có phương pháp đào tạo hiện đại với sự ứng dụng mạnh mẽ của CNTT và điều này dẫn đến sự thay đổi về quy

mô và cơ cấu giáo viên (cả về trình độ và kỹ năng), sẽ xuất hiện hiện tượng thừa và thiếu nhân lực

-Thứ tư, song song với việc nâng cao chất lượng “máy cái”, đổi mới mô hình nhà trường là giải pháp rất cần thiết Cần chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình chỉ đào tạo “những gì thị trường cần” và hướng tới chỉ đào tạo “những gì thị trường sẽ cần”.Theo mô hình mới này, việc gắn kết giữa cơ sở GDNN với doanh nghiệp là yêu cầu được đặt ra; đồng thời, đẩy mạnh việc hình thành các cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp để chia sẻ các nguồn lực chung: cơ sở vật chất, tài chính, nhân lực, quan trọng hơn là rút ngắn thời gian chuyển giao từ kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn cuộc sống -Thứ năm, vấn đề đổi mới quản lý cả ở cấp vĩ mô và cấp cơ sở đối với GDNN Với sự xuất hiện ở những lớp học ảo, nghề ảo,chương trình ảo, và những yêu cầu của TTLĐ với những kỹ năng sáng tạo mới, đòi hỏi có quản lý chung để một mặt hướng tới sự đảm bảo “mặt bằng”chất lượng; mặt khác, đáp ứng nhu cầu đa dạng của nền kinh tế sáng tạo và cạnh tranh cả ở cấp vĩ mô và cấp cơ sở, khi hệ thống cơ sở pháp lý đang trong quá trình bổ sung, hoàn thiện Mặt khác, về mặt quản lý, sự chưa đồng bộ; sự chưa rạch ròi giữa các chức năng QLNN và quản trị nhà trường là những hạn chế đã được chỉ ra và gần đây mới bước đầu được khắc phục

Từ những vấn đề nêu trên, để nâng cao chất lượng đào tạo nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế sáng tạo, trong lĩnh vực GDNN, theo chúng tôi, cần thực hiện những giải pháp sau:

-Hoàn thiện các cơ chế chính sách, phù hợp với thực tiễn đối với đội ngũ nhà giáo, người học, cơ sở GDNN, người lao động trước khi tham gia TTLĐ, doanh nghiệp tham gia đào tạo; hoàn thiện các cơ chế chính sách về phân bổ và sử dụng tài chính trong lĩnh vực GDNN Trong đó, đối với nhà giáo, cần xây dựng các chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng sư phạm ởcác cấp trình độ, kỹ năng ứng dụng CNTT trong thiết kế bài giảng Đổi mới việc tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng cho nhà giáo GDNN Đổi mới chính sách tiền lương đối với giáo viên GDNN phù hợp để thu hút người có kiến thức kỹ năng làm nhà giáo GDNN

-Đổi mới cơ chế, chính sách đối với cơ sởGDNN Tăng cường tình tự chủ trong hoạt động đào tạo và quản trị nhà trường đối với các cơ sở GDNN, nhằm tạo sự linh hoạt thích ứng với sự thay đổi của KH-CN và yêu cầu của TTLĐ Các cơ sở GDNN tự chịu trách nhiệm về phát triển đổi ngũ theo hướng tinh gọn, năng động, có khả năng

Trang 7

làm việc trong môi trường cạnh tranh cao.Đổi mới quản lý GDNN, ứng dụng CNTT trong quản lý

-Cần hoàn thiện cơ chế, bộmáy quản lý nhà nước về GDNN theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, gắn với trách nhiệm; giảm dần sự can thiệp của các

cơ quan chủ quản vào các hoạt động đào tạo và quản trị nhà trường;chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa đội ngũ quản lý GDNN ở các cấp, nhất là ở cấp địa phương; tăng cường các công cụ quản lý

-Ứng dụng mạnh mẽ CNTT trong công tác quản lý GDNN; đổi mới cơ chế tiếp nhận

và xử lý thông tin trong quản lý GDNN; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về GDNN -Hiện đại hóa hạ tầng CNTT trong toàn bộ hệ thống, từ trung ương tới địa phương phục vụ công tác quản lý và điều hành lĩnh vực GDNN; xây dựng trung tâm tích hợp

dữ liệu; trung tâm quản lý, điều hành tổng thể về GDNN; đầu tư các thiết bị, hệ thống thông tin quản lý; ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý dạy, học tại các cơ sở GDNN

-Xây dựng thư viện điện tử, hệ thống đào tạo trực tuyến; khuyến khích các cơ sở GDNN xây dựng phòng học đa phương tiện, phòng chuyên môn hóa; hệ thống thiết bị

ảo mô phỏng, thiết bị thực tế ảo, thiết bịdạy học thuật và các phần mềm ảo mô phỏng thiết bịdạy học thực tế trong dạy học cho các cơ sở GDNN

-Triển khai các hoạt động dự báo nhu cầu nhân lực và nhu cầu đào tạo theo cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội theo từng giai đoạn

-Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người học, người sử dụng lao động và môi trường làm việc ( bao gồm cả môi trường làm việc ảo),đòi hỏi các hoạt động đào tạo phải thay đổi căn bản Sẽ không còn khái niệm đào tạo theo niên chế và không gian đào tạo cũng sẽ thay đổi Chương trình đào tạo phải được thiết kế linh hoạt, một mặt đáp ứng chuẩn đầu ra của nghề; mặt khác, tạo sự liên thông giữa các trình độ trong một nghề và giữa các nghề

-Trong môi trường 4.0, phương pháp đào tạo cần phải thay đổi căn bản trên cơ sở lấy người học làm trung tâm và sự ứng dụng CNTT trong thiết kế bài giảng và truyền đạt bài giảng Cùng với đó là sự đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi,kiểm tra trong GDNN theo hướng đáp ứng năng lực làm việc và tính sáng tạo của người học.Nâng cao năng lực và chất lượng của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý GDNN -Để đáp ứng yêu cầu đào tạo trong môi trường mới, đội ngũ giáo viên GDNN phải có những năng lực mới, năng lực sáng tạo và do đó đòi hỏi phải có những phẩm chất mới

Trang 8

trên cơ sở chuẩn hóa, thông qua các hoạt động đào tạo, tự đào tạo và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề, kỹ năng sư phạm và những kỹ năng mềm cần thiết khác

-Đổi mới chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo về nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng nghề trên cơ sởchuẩn nhà giáo GDNN

-Thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và kỹ năng nghề cho đội ngũ giáo viên GDNN ở nước ngoài và các chương trình tiên tiến ở trong nước -Đối với đội ngũ cán bộ quản lý GDNN, cũng cần được chuẩn hóa, trên cơ sở chức danh nghề nghiệp, gắn với vị trí việc làm Đội ngũ này phải có đủ năng lực làm việc trong môi trường sáng tạo cao và tự chịu trách nhiệm Do vậy, cần tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cả trong nước và ngoài nước để đáp ứng được yêu cầu công việc Đồng thời có cơ chế sàng lọc để nâng cao chất lượng đội ngũ và hiệu quả công tác

3.Trong tổ chức giảng dạy

3.1.Định hướng đối với Nhà trường

Các trường đại học cần chuyển mô hình đào tạo từ truyền thụ kiến thức sang hình thành phẩm chất và phát triển năng lực người học; từ đào tạo chủ yếu theo số lượng sang nâng cao cả số lượng, chất lượng và hiệu quả; từ chỉ chú trọng truyền đạt kiến thức sang kết hợp ba mục tiêu: kiến thức, kỹ năng và thái độ để phát huy tốt nhất tiềm năng cá nhân Đối với sinh viên, cần chuyển từ học thuộc, nhớ nhiều sang hình thành năng lực vận dụng, thích nghi, giải quyết vấn đề, xử lý tình huống, rèn luyện tư duy Không chỉ học trong giáo trình, sách vở, mà phải học qua thực hành, thực tế kinh tế- xã hội, qua trò chơi, liên hệ tương tác, qua dự án, và phải xác định học là công việc thường xuyên, liên tục và học cả đời

Chương trình đào tạo cần xác định cụ thể các chuẩn đầu ra, phẩm chất chung và năng lực chuyên môn; phải nhanh chóng đổi mới từ khâu tuyển sinh đến khâu đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục, nhất là đánh giá sinh viên tốt nghiệp Mục tiêu đào tạo phải hướng tới sinh viên ra trường có năng lực tư duy và sáng tạo, đổi mới, có

kỹ năng phân tích và tổng hợp thông tin, có khả năng làm việc độc lập và ra quyết định dựa trên cơ sở phân tích các dữ liệu Trường đại học phải là nơi dẫn dắt tư duy và tạo động lực cho sinh viên khởi nghiệp, kết nối với thị trường và doanh nghiệp

Như vậy, hệ thống giáo dục đại học phải tập trung vào phát triển phẩm chất và năng lực của người học thông qua việc định hướng các con đường phù hợp nhất cho

các nhóm sinh viên khác nhau để giúp họ phát huy được tiềm năng của mỗi cá

Trang 9

nhân.Để đáp ứng yêu cầu đó, các trường đại học cần có nhiều chương trình, cả đào tạo

và bồi dưỡng dành cho các đối tượng khác nhau, nhất là cựu sinh viên, giúp họ cập nhật tri thức mới để tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chính mình Nghĩa là các trường phải

là nơi hỗ trợ sinh viên học tập suốt đời; phải thường xuyên đổi mới Cụ thể:

Một là, thường xuyên rà soát, đổi mới chương trình đào tạo, gắn lý thuyết với thực tiễn Công tác đào tạo đại học trước hết cung cấp hệ thống lý luận cơ bản, như là nền

tảng vững chắc để sinh viên có “vốn” để tiếp cận những vấn đề thực tiễn đang biến đổi không ngừng Tạo điều kiện tối đa cho sinh viên thực hành, thực tập, làm quen và nắm bắt được những tiến bộ của khoa học - công nghệ trên lĩnh vực được đào tạo

Hai là, đa dạng hóa các chương trình, phục vụ mọi nhu cầu học tập của sinh viên Mỗi sinh viên có nhu cầu và khả năng học tập khác nhau Nhà trường xây dựng

cơ chế để phát hiện, nuôi dưỡng và tạo động lực để sinh viên xác định và theo đuổi sự quan tâm, niềm đam mê của mình Điều này đòi hỏi trường đại học xây dựng các chương trình, lộ trình đào tạo khác nhau để phục vụ cho những nhu cầu và phong cách học tập khác nhau

Ba là, đẩy mạnh học ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy-học và quản trị nhà trường Trong bối cảnh toàn cầu hóa

và hội nhập sâu rộng như hiện nay, ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh là chìa khóa để mở rộng, cập nhật tri thức nhân loại Không giỏi ngoại ngữ, không thể đạt thành tựu về khoa học công nghệ Nên ứng dụng công nghệ tiên tiến trong giảng dạy ngoại ngữ, với

hệ thống học liệu điện tử phù hợp mọi đối tượng để người học có thể học ngoại ngữ mọi lúc, mọi nơi, bằng mọi phương tiện, đặc biệt trong phát triển kỹ năng nghe và kỹ năng nói Kiến tạo môi trường học ngoại ngữ trong nhà trường, gia đình và xã hội để mọi người cùng nhau học ngoại ngữ Tạo điều kiện cho người học tiếp cận kỹ thuật số

và công nghệ để dễ dàng tiếp thu thành tựu mới về khoa học - công nghệ của thế giới

Bốn là, phải xây dựng các trường đại học thành các trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ Các trường đại học cần thể hiện vai trò tiên phong của mình trong

việc thực hiện sứ mệnh nghiên cứu khoa học- công nghệ; là bệ đỡ thúc đẩy sáng tạo, cung cấp một bệ phóng cho giới trẻ và các công ty khởi nghiệp, giữ nhịp phát triển cho các ngành công nghiệp Các trường đại học cũng cần đón đầu xu hướng là thời gian đào tạo người lao động trình độ cao sẽ không chỉ giới hạn trong thời gian ngắn,

mà là trong suốt cuộc đời lao động của họ, khi người học tiếp tục quay trở lại để có thêm kiến thức và kỹ năng sau khi tốt nghiệp

3.2.Định hướng đối với giảng viên

Trang 10

Theo phương pháp giáo dục truyền thống, người thầy truyền tải tri thức, thông tin cho sinh viên, hiện nay các trang mạng trên In ternet đang dần thay thế vai trò đó, cung cấp thông tin một cách nhanh chóng, tiện lợi và miễn phí Vấn đề đặt ra là, khi công nghệ hỗ trợ tối đa mục tiêu kiến thức và kỹ năng, nhưng không thể thay thế người thầy chuyền tải, truyền cảm hứng cho sinh viên về thái độ sống và làm việc, thích ứng với mọi thay đổi, về tính hợp tác và năng lực sáng tạo

Các hình thức học online, học trực tuyến đòi hỏi người thầy không phải truyền thụ kiến thức nữa, mà phải là người hướng dẫn, điều phối tạo ra môi trường học tập cho sinh viên; không phải giảng bài mà tập trung giúp sinh viên định hướng việc học Người giảng viên không chỉ phải giỏi về chuyên môn, sẵn sàng giải đáp câu hỏi của sinh viên, mà còn phải có bản lĩnh, thường xuyên nâng cao năng lực thích ứng với hoàn cảnh mới, nhất là kịp thời đổi mới phương pháp dạy học, tối đa hóa ứng dụng công nghệ thông tin, phương tiện trực quan vào quá trình dạy học

Vì vậy, vai trò của giảng viên thay đổi mạnh mẽ Để đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp 4.0, đội ngũ giảng viên cần phải được bồi dưỡng, nâng cao trình độ năng lực bằng những biện pháp như tập huấn sử dụng công nghệ phục vụ dạy học, ứng dụng các hình thức tiên tiến, mô hình trực tuyến vào công tác bồi dưỡng giảng viên, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng theo hướng nghiên cứu và nâng cao trình độ ngoại ngữ Cụ thể:

Một là, nâng cao năng lực chuyên môn Phải bồi dưỡng cho giảng viên nắm bắt được

và tham gia các hình thức đào tạo tiên tiến, đào tạo trực tuyến, đào tạo từ xa để vừa nâng cao trình độ chuyên môn, vừa tiếp cận các mô hình dạy học mới, qua đó giúp họ

bổ sung kiến thức chuyên môn, đa dạng hóa các hình thức giảng dạy Trong thời gian tới, các mô hình giảng dạy trực tuyến sẽ được ứng dụng trong đào tạo đại học, như E-learning (mô hình hệ thống quản lý qua mạng); B-E-learning (mô hình dạy học kết hợp học tập trên lớp và học hợp tác qua mạng và tự học); hội thảo truyền hình (nhiều người hội thảo từ xa, thông qua truyền hình trao đổi, giao tiếp với nhau)

Hai là, nâng cao năng lực sử dụng các thiết bị, phương tiện hiện đại trong giảng dạy Đó là năng lực quản lý tài nguyên, dữ liệu trên internet, sử dụng thành thạo các

phương tiện công nghệ mới phục vụ quá trình dạy học Vì vậy, đội ngũ giảng viên phải thường xuyên được học tập, bồi dưỡng về tin học, phương pháp sử dụng công nghệ thông tin, để chủ động hướng dẫn sinh viên cập nhật kiến thức và công nghệ

Ngày đăng: 29/11/2022, 13:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w