Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-∞∞∞∞∞∞ -
NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN
XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 9380107
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Lê Hồng Hạnh
2 TS Nguyễn Minh Hằng
HÀ NỘI, 2022
Trang 3Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Lê Hồng Hạnh
2 TS Nguyễn Minh Hằng
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sỹ cấp Trường, họp tại Trường Đại học Luật Hà Nội, vào hồi h ngày tháng năm 2022
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1 Thư viện Quốc gia
2 Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 4CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
CÓ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Nguyễn Thị Hoàng Yến (2013), “Đổi mới chính sách pháp luật về
phân cấp quản lý ngân sách nhà nước”, Tạp chính Tài chính, số
09 (587), tr 47-50
2 Nguyễn Thị Hoàng Yến (2014), “Pháp luật tài chính đối với an
sinh xã hội: Một số ý kiến hoàn thiện”, Tạp chính Tài chính, số 4
(594), tr 42-44
3 Nguyễn Thị Hoàng Yến (2017), “Huy động vốn đầu tư xây dựng
nông thôn mới: Những vấn đề pháp lý cần giải quyết”, Tạp chính
Tài chính, số 9 (665), tr 14-16
4 Nguyễn Thị Hoàng Yến (2020), “Quy định pháp lý về huy động đóng góp của người dân và cộng đồng dân cư thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới – Kiến nghị hoàn
thiện”, Tạp chí Pháp luật & Phát triển, số 1+2/2020, tr 34-40
5 Nguyễn Thị Hoàng Yến (2021), “Chính sách pháp luật về huy động nguồn lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng nông
thôn mới ở Việt Nam – Kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Pháp luật
& Phát triển, số 3+4/2021, tr 68-78
Trang 5MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nông nghiệp, nông thôn (NN, NT) và xây dựng nông thôn mới (NTM) là nhiệm vụ quan trọng của các quốc gia Để phát triển NN, NTcần có những điều kiện cần thiết như vốn, nguồn nhân lực và thể chế pháp luật Huy động vốn đầu tư và xây dựng thể chế huy động các nguồn vốn là ưu tiên của các quốc gia để phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng NTM bền vững
Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn đặt ra mục tiêu xây dựng NTM: “Nông thôn mới
có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”, Xây dựng NTM được cụ thể hóa
thành Chương trình MTQG từng giai đoạn và thực hiện trên toàn quốc với 11 nội
dung thành phần với 19 tiêu chí Kết quả thực hiện chương trình được đo bằng các tiêu chí đánh giá theo Bộ tiêu chí quốc gia về NTM Vốn đầu tư xây dựng NTM được huy động chủ yếu từ ngân sách nhà nước (NSNN), vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp, nguồn lực của người dân và cộng đồng dân cư (CĐDC) Xây dựng NTM thời gian qua đã đạt được kết quả nhất định nhưng so với tiềm lực còn hạn chế
Một là: kết quả xây dựng NTM chưa bền vững, nông thôn phát triển chưa đồng
đều, nhiều nơi chưa trú trọng đúng mức đến phát triển sản xuất, tạo sinh kế, xây dựng đời sống văn hóa, một số vấn đề xã hội phức tạp phát sinh ở nhiều địa phương Nhiều nơi đạt chuẩn NTM nhưng đời sống người dân còn khó khăn Nguyên nhân là do thiếu vốn NSNN trong khi huy động các nguồn vốn khác khó khăn
Hai là: đầu tư xây dựng NTM cần nguồn vốn lớn nhưng vốn huy động được còn
chưa đạt yêu cầu Vốn NSNN còn hạn chế, vốn tín dụng còn khó khăn khi tiếp cận Kết quả huy động vốn doanh nghiệp thấp, đóng góp của người dân và CĐDC chưa đạt tỷ
lệ quy định, có xu hướng giảm.Thiếu vốn đầu tư và nợ đọng xây dựng NTM đã xảy ra
ở nhiều địa phương ảnh hưởng đến huy động và bố trí nguồn lực
Ba là: thể chế về phát triển NN, NT đặc biệt là yếu tố pháp luật mới ở giai
đoạn hình thành nền tảng, chưa có văn bản luật tạo nền tảng vững chắc cho xây dựng NTM Huy động vốn đầu tư xây dựng NTM chủ yếu áp dụng các văn bản luật chuyên ngành, còn nhiều văn bản chậm được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, còn thiếu những quy định cụ thể thực thi.Vốn NSNN đầu tư xây dựng NTM chủ yếu
là các khoản chi ngân sách, hỗ trợ tử NSNN Cơ chế huy động vốn tín dụng chưa thực sự phù hợp song chậm được thay đổi, bổ sung Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho NN, NT chưa hiệu quả với chương trình xây dựng NTM Quy định huy động đóng góp của người dân và CĐDC chưa đầy đủ, thiếu thống nhất đồng bộ dẫn đến việc áp dụng sai, gây lạm thu cũng như tiêu cực ở nhiều nơi.Việc nghiên cứu, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM là cần thiết cả về lý luận và thực tiễn.Về lý luận, luận án đưa ra những luận
Trang 6điểm khoa học cho việc xây dựng pháp luật trơng lĩnh vực huy động vốn đầu tư xây dựng NTM khá phức tạp, rất thiếu những nền tảng lý luận cần thiết.Về thực tiễn, giải pháp hoàn thiện pháp luật mà luận án đưa ra nhằm khắc phục hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện, giúp huy động vốn dễ dàng hợn, đạt hiệu quả cao hơn Do đó, NCS chọn vấn đề này làm đề tài Luận án Tiến sĩ chuyên
ngành Luật Kinh tế
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xây dựng khái niệm liên quan đến nội hàm pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM, xác định các nhân tố chi phối, nội dung, hình thức pháp luật
- Đánh giá thực trạng xây dựng NTM ở khía cạnh xây dựng và thực hiện thể chế huy động vốn đầu tư xây dựng NTM, phân tích đánh giá ưu điểm, hạn chế của thể chế chính sách pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM dựa trên khảo sát định tính, định lượng
Xác định định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu: (i) các chính sách là nền tảng của pháp luật huy
động vốn xây dựng NTM (ii) các quan điểm lý luận về huy động vốn xây dựng NTM, nội hàm của pháp luật và thực tiễn thi hành ở Việt Nam (iii) các định hướng
và giải pháp hoàn thiện pháp luật huy động vốn xây dựng NTM
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian Luận án giới hạn các quan điểm lý luận về pháp luật thu
hút vốn đầu tư xây dựng NTM ở Việt Nam và một số quốc gia khác Phạm vi về
thời gian, luận án tập trung nghiên cứu hệ thống chính sách pháp luật về huy động
vốn đầu tư xây dựng NTM giai đoạn từ năm 2011 đến nay
Giới hạn và trọng tâm của nội dung nghiên cứu: trọng tâm nghiên cứu là
các quy định pháp luật về huy động vốn đầu tư xây dựng NTM và việc thi hành trong thực tiễn Nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM được đề cập gồm vốn bằng tiền, tài sản, hiện vật, đất đai, sức lao động được quy đổi thành tiền theo quy định
4 Phương pháp nghiên cứu:
4.1 Cách tiếp cận
Luận án sử dụng cách tiếp cận toàn diện, vấn đề cần nghiên cứu được phân tích đánh giá đa chiều cả từ góc độ lý luận lẫn thực tiễn, từ góc độ kinh tế lẫn pháp luật, từ các tác động tích cực lẫn tiêu cực với trọng tâm được xác định căn cứ vào nội hàm cụ thể của vấn đề nghiên cứu Bên cạnh đó, Luận án sử dụng cách tiếp cận kinh tế luật để nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến hiệu quả pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
(i) Phương pháp phân tích, được sử dụng trong phần lớn các nội dung của Luận án (ii) Phương pháp luật học so sánh được sử dụng để nghiên cứu các mô hình và pháp luật xây dựng NTM ở các quốc gia được lựa chọn (iii) Phương pháp
tổng hợp, phương pháp thống kê, được sử dụng để minh họa cho các nội dung
Trang 7nghiên cứu cụ thể (iv) phương pháp khái quát hóa khái quát các phân tích, đánh
giá thực tiễn, lý luận về pháp luật hình thành định hướng, giải pháp và chuyển hóa chúng thành các nguyên tắc hay các quy định cụ thể của pháp luật
5 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của Luận án:
Đóng góp về khoa học của luận án:
Thứ nhất, Luận án đã bổ sung vào khoa học pháp lý của đất nước một số
quan điểm khoa học về NTM, về phương thức điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động huy động vốn đầu tư xây dựng NTM Đóng góp này thực sự có ý nghĩa khi vấn đề NTM, xây dựng NTM chưa được nghiên cứu nhiều từ góc độ luật học và pháp luật huy động vốn để xây dựng NTM chưa có được vị trí rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện nay
Thứ hai, Luận án sử dụng phương pháp phân tích để đưa ra các bình luận
quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM Cung cấp những đánh giá định tính, định lượng về thực trạng pháp luật huy động nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM, giúp hình thành những căn cứ thực tiễn cho việc hoàn thiện thể chế phát triển nông thôn ở Việt Nam
Thứ ba, Luận án cung cấp những thông tin tin cậy về xây dựng NTM cũng như
pháp luật về huy động vốn để thực hiện hoạt động này ở một số quốc gia được lựa chọn dựa trên tiêu chí thành công và tiêu chí có sự tương thích về điều kiện với Việt Nam Từ đó, nêu ra những bài học kinh nghiệm có thể chọn lọc, tiếp thu để áp dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam Những thông tin này có giá trị tham khảo nhất định đối với các cơ quan chức năng trong việc xây dựng chính sách, pháp luật
về phát triển NN, NT và xây dựng NTM ở Việt Nam
Thứ tư, Luận án đã sử dụng phương pháp so sánh luật với pháp luật về đầu
tư cho NN, NT của các quốc gia điển hình như Mỹ, Nhật, Úc, Trung Quốc, Hàn Quốc để làm rõ mức độ xây dựng thể chế, chính sách thu hút đầu tư của doanh nghiệp, người dân và CĐDC cho phát triển khu vực nông thôn ở Việt Nam
Thứ năm, Luận án đưa các định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động
vốn đầu tư xây dựng NTM ở Việt Nam để nâng cao hiệu quả huy động vốn, coi đó là công cụ chủ yếu để thực hiện vai trò vừa là chủ thể quản lý phát triển KT-XH vừa là chủ thể tham gia hoạt động huy động và sử dụng vốn hiệu quả
6 Kết cấu của luận án:
Ngoài các phần khác, luận án được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về huy động vốn đầu tư và pháp luật huy
động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới
Chương 2.Thực trạng pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thông
mới ở Việt Nam
Chương 3 Giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư
xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Trang 8PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 Những kết quả nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến
đề tài luận án
1.1 Đánh giá các nghiên cứu về lý luận
Một là, các công trình đã làm khá rõ những vấn đề lý luận về mô hình xây
dựng NTM ở các quốc gia ở cả khía cạnh lý luận lẫn thực tiễn Nhận diện và phân tích các khái niệm cơ bản về xây dựng NTM, đặc trưng của xây dựng NTM, chỉ ra đặc điểm, vai trò, cơ chế, chính sách và biện pháp huy động vốn, sự cần thiết phải
huy động vốn và kiện toàn thể chế pháp luật
Hai là, vấn đề lý luận về vốn đầu tư xây dựng NTM và cơ chế, chính sách huy
động vốn được các công trình đề cập chi tiết, so sánh những nguồn vốn truyền thống
và các hình thức huy động vốn mới trong điều kiện nguồn lực đầu tư công hạn hẹp Tuy nhiên, bản chất pháp lý của các nguồn vốn cho xây dựng NTM chưa được phân tích sâu trong các nghiên cứu giúp tìm kiếm các giải pháp hoàn thiện pháp luật cụ thể
Ba là, các nghiên cứu đã tạo ra các nền tảng lý luận cho việc xây dựng và hoàn
thiện pháp luật huy động nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM, trong đó nhà nước vừa là chủ thể cung cấp vốn, vừa là chủ thể huy động vốn từ các chủ thể khác.Nhà nước kiến tạo, ban hành các cơ chế, chính sách và cam kết, đảm bảo việc thực hiện chính sách Khuyến khuyến nghị hoàn thiện thể chế chính sách đầu tư cho khu vực nông thôn cần hướng tới giảm dần sự bao cấp, hỗ trợ từ NSNN, tăng đầu tư cho khu vực nông thôn, phân cấp và trao quyền chủ động cho các địa phương
Bốn là, chỉ ra nguồn lực huy động từ người dân, doanh nghiệp và cộng đồng cho
xây dựng NTM có vai trò quan trọng, nguồn lực chính phủ có vai trò hỗ trợ, dẫn dắt, thu hút nguồn vốn khác Giải pháp huy động vốn cho xây dựng NTM được đề cập gồm: xây dựng và hoàn thiện thể chế huy động vốn đầu tư phát triển NN, NT và xây dựng NTM, kết hợp vốn đầu tư từ khu vực công và khu vực tư nhân
1.2 Đánh giá các nghiên cứu về thực tiễn
Một là, các công trình nghiên cứu đã làm rõ kết quả huy động nguồn vốn đầu
tư xây dựng NTM ở Việt Nam, hệ thống hóa và phân tích chính sách pháp luật về huy động nguồn vốn đầu tư Chỉ ra vai trò và tác động ảnh hưởng của thể chế, chính sách đến kết quả huy động nguồn vốn
Hai là, nhu cầu về vốn đầu tư phát triển khu vực nông thôn là rất lớn luôn cao
hơn khả năng đáp ứng của khu vực công, không một chủ thể nào có thể tự mình đứng ra đảm nhận một cách độc lập Nhà nước cần có cơ chế, chính sách, biện pháp huy động đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư phát triển NN, NT, xây dựng NTM
Ba là, chỉ ra hạn chế của các cơ chế, chính sách huy động vốn, còn thiếu hụt
các quy định pháp lý đảm bảo huy động vốn hiệu quả Đề xuất giải pháp vĩ mô và giải pháp cụ thể có thể nghiên cứu, chọn lọc tiếp thu khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM
Bốn là, chính sách huy động vốn đầu tư cho chương trình phát triển nông thôn ở các
quốc gia, đặc biệt là các nước có phong trào phát triển nông thôn trong cộng đồng là
Trang 9những bài học thực tiễn có giá trị để luận án tiếp tục nghiên cứu đề xuất hoàn thiện thể thể chế pháp luật huy động vốn đáp ứng mục tiêu xây dựng NTM ở Việt Nam
2 Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong Luận án
Nội hàm của xây dựng NTM ở Việt Nam: Nội hàm của xây dựng NTM ở Việt Nam
chưa được xác định một cách toàn diện mặc dù nhiều vấn đề lý luận về xây dựng NTM được nhận diện và phân tích ở các công trình khoa học trong và ngoài nước
Những vấn đề lý luận về pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM: luận
án sẽ tìm cách phân tích và xác định bản chất pháp lý, đặc điểm, hình thức, nội hàm của vốn và pháp luật huy động vốn xây dựng NTM là những vấn đề chưa được đề cập trong các nghiên cứu trước đó
Thực trạng chính sách, pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM ở Việt Nam:
Luận án tổng hợp, hệ thống hóa và phân tích quy định pháp luật về huy động vốn
đầu tư xây dựng NTM và thực tiễn thi hành trong quá trình xây dựng NTM
Các giải pháp hoàn thiện pháp luật thúc đẩy và nâng cao hiệu quả huy động,
sử dụng vốn đầu tư xây dựng NTM: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về huy động
vốn đầu tư xây dựng NTM vẫn còn thiếu vắng rất nhiều trong các nghiên cứu trước
đó Đây là nội dung mà Luận án cần phải nghiên cứu và có những đề xuất phù hợp
3 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, dự kiến kết quả nghiên cứu
3.1 Câu hỏi nghiên cứu 1 Nội hàm của huy động vốn đầu tư xây dựng NTM
là gì? Những thành tố cơ bản trong nội hàm của khái niệm này?
Giả thuyết nghiên cứu: Huy động vốn đầu tư xây dựng NTM là huy động tổng
hợp các nguồn vốn của nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và CĐDC thông qua các cơ chế huy động cụ thể nhằm đầu tư cho các dự án xây dựng NTM Nội hàm của khái niệm này bao gồm các nguồn vốn với những đặc trưng về bản chất, phương thức huy động vốn phù hợp với các nguồn vốn đó
Cơ sở lý thuyết Việc trả lời câu hỏi nghiên cứu này dựa trên các lý thuyết về
vốn đầu tư, lý thuyết kinh tế về chi phí - lợi ích và các quan điểm về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
Dự kiến kết quả nghiên cứu: Những yếu tố cấu thành khái niệm huy động vốn
đầu tư xây dựng NTM và bản chất, đặc trưng của từng yếu tố
3.2 Câu hỏi nghiên cứu 2 Pháp luật về huy động vốn đầu tư xây dựng NTM bao
gồm những nội dung gì và vị trí của nó trong hệ thống pháp luật quốc gia
Giả thuyết nghiên cứu: Pháp luật về huy động vốn đầu tư xây dựng NTM là
chế định pháp luật mới có tính liên ngành gắn với pháp luật đầu tư, pháp luật đất đai, pháp luật ngân hàng và pháp luật tài chính ngân sách bao gồm các quy định pháp luật về huy động, sử dụng vốn với mục đích xác định là xây dựng NTM
Cơ sở lý thuyết Câu hỏi này được nghiên cứu và xác định dựa trên các quan
điểm lý luận về nhà nước và pháp luật, nhất là về điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật
Trang 10Dự kiến kết quả nghiên cứu: Nội dung, vị trí của chế định pháp luật huy động
vốn xây dựng NTM trong hệ thống pháp luật và vai trò của chế định này đối với sự phát triển nông thôn
3.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
Thực trạng quy định pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM ở Việt Nam? Cơ chế pháp lý cần thay đổi như thế nào để khắc phục hạn chế, bất cập, tạo ra quy định phù hợp để huy động, sử dụng hiệu quả nguồn vốn cho xây dựng NTM?
Giả thuyết nghiên cứu: quy định pháp luật về huy động vốn đầu tư xây
dựng NTM chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, hiệu lực chưa cao, thiên về huy động vốn NSNN, chưa tạo được nền tảng vững chắc cho huy động vốn doanh nghiệp, người dân
Cơ sở lý thuyết Các vấn đề phát sinh từ câu hỏi nghiên cứu này được thực
hiện dựa trên lý thuyết về hiệu quả pháp luật, tức là lý thuyết đánh giá tác động của các quy định pháp luật đối với sự phát triển của khách thể được điều chỉnh
Dự kiến kết quả nghiên cứu: những đánh giá định tính và định lượng về tác
động tích cực, tiêu cực của pháp luật hiện hành về huy động vốn đầu tư xây dựng NTM đối với việc thực hiện chương trình xây dựng NTM ở Việt Nam hiện nay
3.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
Các giải pháp pháp luật nào cần thực hiện để hoàn thiện để thúc đẩy và nâng cao
hiệu quả huy động vốn đầu tư thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng NTM ở Việt Nam?
Giả thuyết nghiên cứu: xây dựng NTM là chương trình phát triển nông thôn
quốc gia, được thực hiện trong thời gian dài, phạm vi rộng và cần nguồn vốn rất lớn Bố trí nguồn vốn từ NSNN, tìm kiếm giải pháp huy động vốn từ khu vực khác thông qua việc sử dụng công cụ pháp luật điều chỉnh việc huy động, quản lý, sử dụng vốn là cần thiết Xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật huy động các nguồn vốn phù hợp với thực tiễn, đồng bộ, khả thi, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành.Tổ chức thực hiện pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật, trách nhiệm đóng góp của người dân và CĐDC là những giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả huy động vốn đầu tư xây dựng NTM
Cơ sở lý thuyết Việc trả lời câu hỏi nghiên cứu này dựa trên các lý thuyết kinh
tế học pháp luật, lý thuyết kinh tế về chi phí - lợi ích và các quan điểm về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
Dự kiến kết quả nghiên cứu: Các giải pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật
thực định điều chỉnh hoạt động huy động vốn đầu tư thực hiện xây dựng NTM
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ VÀ PHÁP LUẬT HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1 Những vấn đề lý luận về huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Khái niệm về nông thôn mới và huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới Nông thôn mới hiện nay chưa có khái niệm đồng nhất Mỗi quốc gia xây dựng cho mình một mô hình phát triển nông thôn phù hợp với những tên gọi khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu phát triển Ở Hàn Quốc có phong trào “làng mới”, Trung Quốc có phong trào “xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa”, Nhật Bản có phong trào “mỗi làng một sản phẩm”, Việt Nam có “chương trình MTQG xây dựng NTM” hay “chương trình phát triển nông thôn quốc gia” ở các quốc gia phát triển Thông qua những nguyên tắc về mô hình NTM nhằm tập hợp các cách thức phát triển nông thôn giúp xây dựng thể chế huy động
nguồn lực phù hợp Luận án định nghĩa như sau: Nông thôn mới là nông thôn có tổng thể
những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn có thể chế, thiết chế đồng
bộ, đạt được tiêu chí mới đáp ứng tính tiến tiến, hiện đại, có cơ sở hạ tầng phù hợp, kinh
tế nông thôn phát triển, xã hội nông thôn ổn định, đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân được nâng cao
Xây dựng NTM cần có nguồn vốn đủ lớn để thực hiện.Vốn đầu tư xây dựng NTM gồm các khoản đầu tư nhằm mục đích sinh lời và các nguồn lực đầu tư không vì mục tiêu lợi nhuận, được huy động từ nhà nước và toàn xã hội Vốn đầu tư xây dựng
NTM được hiểu như sau: “Vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới bao gồm vốn bằng tiền,
tài sản, sức lao động, của cải vật chất, tài nguyên thiên nhiên, KHCN… được biểu hiện bằng tiền, được huy động từ NSNN, doanh nghiệp, người dân và CĐDC theo quy định của pháp luật để đầu tư cho các công trình, dự án theo tiêu chí nông thôn mới”
Vốn đầu tư xây dựng NTM có đặc trưng: Một là, quy mô nguồn vốn lớn, thời gian
đầu tư dài, rủi ro cao, lợi nhuận thấp hoặc không có khả năng sinh lời Chủ thể huy động vốn cũng là chủ thể sử dụng vốn; quy trình, thủ tục huy động, quản lý, sử dụng vốn khá
phức tạp, dễ xảy ra thất thoát lãng phí vốn nhưng lại khó xác định trách nhiệm Hai là,
vốn đầu tư xây dựng NTM đa dạng gồm cả vốn bằng tiền, tài sản, đất đai, tài nguyên, KHCN, nguyên vật liệu, ngày công lao động… được xác định bằng tiền, có mục đích sử
dụng và cơ chế giải ngân khác nhau Ba là, vốn đầu tư xây dựng NTM thuộc nhiều chủ
sở hữu khác nhau, không hạn chế trong khuôn khổ các nhà đầu tư thương mại.Tương ứng với mỗi nguồn vốn lại có các hình thức quản lý, sử dụng khác nhau do mục tiêu và chủ thể sử dụng vốn là khác nhau
Vốn đầu tư xây dựng NTM có vai trò quan trọng tạo nền tảng tài chính cho xây dựng NTM Để có vốn đầu tư cần phải huy động vốn Huy động vốn đầu tư xây dựng NTM là tổng thể các biện pháp được nhà nước sử dụng để tập hợp các nguồn vốn NSNN, vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, đóng góp của người dân và CĐDC để đạt được tổng mức vốn đầu tư cho các công trình, dự án theo tiêu chí NTM
Huy động vốn đầu tư xây dựng NTM gắn với chính sách, kế hoạch, qui hoạch phát triển NN,NT của nhà nước Nhà nước là chủ thể huy động tập hợp các nguồn vốn,
Trang 12ban hành cơ chế huy động vốn linh hoạt, vừa dựa trên các cân đối NSNN vừa dựa trên các thỏa thuận dân sự, thương mại mại bình đẳng theo các qui luật của thị trường
Nội dung huy động vốn đầu tư xây dựng NTM gồm: (i) Xác định địa vị pháp lý
của chủ thể tham gia quan hệ huy động vốn (ii)Tiến hành các hoạt động huy động vốn iii) Phân loại nguồn vốn huy động, điều kiện huy động vốn (iv) Công cụ huy động vốn gồm pháp luật cơ chế, chính sách, biện pháp kinh tế, tài chính, hành chính, các hình thức vận động, thuyết phục (vi) Xác định các tiêu chí đánh giá kết quả huy động vốn
1.1.2 Nguồn vốn huy động cho xây dựng NTM
Vốn NSNN được huy động thông qua cơ chế chi ngân sách, hỗ trợ từ NSNN, phân cấp NSNN Vốn tín dụng cho NTM gồm tín dụng nhà nước và tín dụng thương mại.Vốn doanh nghiệp đầu tư cho các công trình, dự án Nguồn lực người dân đầu tư trực tiếp và đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện
1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Bản chất, nội hàm của pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới
Pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM bao gồm các thành tố cụ thể: (i) Nhóm các qui phạm pháp luật (QPPL) điều chỉnh phương thức huy động, quản lý và sử dụng vốn từ NSNN (ii) Nhóm các qui phạm điều chỉnh việc huy động vốn đầu tư của các doanh nghiệp cho các dự án xây dựng NTM (iii) Nhóm các quy phạm điều chỉnh việc huy động các nguồn vốn tín dụng thông qua hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng (iv) Nhóm các qui phạm huy động vốn đầu tư dưới dạng đóng góp tự nguyện của cá nhân, tổ chức dựa trên các nguyên tắc quan hệ dân sự
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về huy động vốn đầu tư xây dựng NTM là các quan hệ huy động vốn Bản chất của quan hệ huy động vốn là chuyển nhượng nguồn tài chính dưới một số hình thức hợp đồng khác nhau, thể hiện ở khía cạnh sau: (i) khách thể của quan hệ pháp luật về huy động vốn rất đa dạng so với các quan hệ thương mại, dân sự truyền thống khác, khách thể có thể là tài sản và cũng có thể là sức lao động được quyết định bởi tính chất đa dạng của các dự án xây dựng NTM, nguồn vốn huy động và phương thức sử dụng (ii) các quan hệ pháp luật về huy động vốn đa dạng Chúng có thể là quan hệ hành chính, quan hệ ngân sách, quan hệ đầu tư, thương mại, dân sự (iii) chủ thể tham gia các quan hệ huy động vốn đầu tư xây dựng NTM đa dạng: cá nhân, tổ chức có tư cách pháp nhân, tổ chức không có tư cách pháp nhân, hộ gia đình, CĐDC v.v đều có thể trở thành chủ thể của các quan hệ này (iv) quan hệ huy động vốn xây dựng NTM có mục đích rất thống nhất là thực hiện các công trình, dự án thỏa mãn 19 tiêu chí xây dựng NTM (v) Các quan hệ huy động vốn xây dựng NTM không có văn bản pháp luật riêng nên rất khó xác định vị trí của các quan hệ pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM nằm ở chế định nào hay lĩnh vực nào trong hệ thống pháp luật
Pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM là tích hợp các quy phạm pháp luật chứa đựng trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình tự thủ tục nhất định nhằm điều chỉnh các quan
Trang 13hệ về huy động nguồn vốn đầu tư cho các công trình, dự án phục vụ xây dựng NTM theo các qui hoạch, chương trình và các dự án xác định
1.2.2 Vị trí và vai trò, nội dung pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới
Pháp luật về huy động vốn xây dựng NTM là tích hợp các quy phạm pháp luật (QPPL) từ các lĩnh vực pháp luật, các nguồn luật khác nhau để điều chỉnh hoạt động huy động vốn Để xác định vị trí của pháp luật huy động vốn xây dựng NTM trong hệ
thống pháp luật cần làm rõ các khía cạnh sau: Thứ nhất, các QPPL về huy động vốn
xây dựng NTM có thể tạo thành một ngành luật mới hay không?Theo tác giả Luận án thì câu trả lời là không vì các qui phạm này chỉ được tích hợp từ các lĩnh vực pháp luật
cụ thể và điều chỉnh quan hệ huy động vốn một cách độc lập căn cứ vào nguồn vốn huy
động Thứ hai, các QPPL về huy động vốn xây dựng NTM có thể tạo thành chế định
pháp luật độc lập tương tự như chế định hợp đồng, thừa kế trong pháp luật dân sự, đánh giá tác động môi trường trong pháp luật môi trường hay chế định PPP trong lĩnh vực đầu tư v.v Theo tác giả, rất khó xác định đây là chế định pháp luật Chế định pháp luật
là hệ thống các qui phạm gắn kết với nhau rất chặt chẽ bởi không chỉ các quan hệ mà
nó điều chỉnh mà cả ở cấu trúc, phương pháp điều chỉnh thống nhất Thứ ba, các quan
hệ xã hội được điều chỉnh bởi các QPPL về huy động vốn xây dựng NTM đa dạng về tính chất, không tạo ra được một nền tảng thống nhất vốn rất đặc trưng cho các lĩnh vực
pháp luật hay chế định pháp luật Tác giả đưa ra định nghĩa: Pháp luật về huy động vốn
xây dựng nông thôn mới là tích hợp các qui phạm pháp luật từ những lĩnh vực pháp luật khác nhau tạo thành một thể chế đặc thù cho việc huy động vốn từ các nguồn đa dạng, quản lý và sử dụng nguồn vốn huy động để thực hiện các hoạt động khác nhau gắn với mục tiêu thống nhất: Xây dựng nông thôn mới
Vai trò của pháp luật huy động vốn xây dựng NTM: (i) giúp khắc phục sự rời rạc, phân tán trong việc điều chỉnh các hoạt động huy động vốn khác nhau trong xây dựng NTM (ii) tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho huy động vốn đầu tư xây dựng NTM từ các chủ thể khác nhau trong đời sống kinh tế, xã hội (iii) thúc đẩy việc thực hiện các chương trình xây dựng NTM thông qua việc đảm bảo sự cân bằng nguồn lực, kiểm soát nguồn lực huy động
Nội dung của pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM gồm: (i)
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong huy động vốn NSNN Chủ thể và các bên tham
gia quan hệ này gồm cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan đến lập, thực hiện kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm từ nguồn NSNN thuộc chương trình NTM, có quyền, nghĩa vụ cụ thể theo qui định của pháp luật NSNN, pháp luật đầu tư công (ii)Quyền và nghĩa vụ của các bên trong huy động vốn tín dụng Các bên tham gia
quan hệ huy động vốn gồm nhà nước, các tác nhân, thể nhân cho vay với nhà nước (cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, ngân hàng…) chịu sự điều chỉnh của pháp luật
đối với nguồn vốn tín dụng (iii) quyền và nghĩa vụ của các bên trong huy động vốn
đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp:các bên tham gia quan hệ này gồm cơ quan nhà
nước, chủ đầu tư, doanh nghiệp, HTX Tùy theo phương thức huy động vốn, các
bên tham gia quan hệ sẽ có quyền và nghĩa vụ tương ứng (iv) Quyền và nghĩa vụ
Trang 14của các bên trong huy động vốn từ đóng góp của cá nhân, cộng đồng Chính quyền
địa phương là chủ thể huy động, người dân và CĐDC là đối tượng huy động, có quyền và nghĩa vụ cụ thể theo quy định và thỏa thuận thống nhất giữa các bên
1.2.3 Yếu tố chi phối của pháp luật, bao gồm (i) chủ trương, chính sách của nhà nước
(ii) khả năng cung ứng vốn, phương thức huy động, nhu cầu, hiệu quả sử dụng vốn (iii)
cơ cấu đầu tư, phương thức huy động vốn (iv) yếu tố truyền thống và tập quán
1.2.4 Xu hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật được ghi nhận ở thực tiễn các
quốc gia
Thứ nhất, pháp luật về huy động vốn tạo ra nhiều giải pháp nhằm huy động
tối đa nguồn vốn đầu tư cho xây dụng NTM theo hướng cân bằng tiến đến giảm dần tỷ trọng vốn NSNN trong tổng vốn đầu tư xây dựng NTM Việc rất nhiều quốc gia ban hành luật về đối tác công tư (PPP) và thi hành phổ biến trong xây dựng
NTM là một minh chứng rõ Thứ hai, các quốc gia trên thế giới đều có xu hướng
tích hợp các quy định pháp luật thích hợp với việc huy động từng loại vốn mà không tạo ra một nguồn luật riêng cho huy động vốn Một số quốc gia ban hành các văn bản riêng về phát triển NN, NT song trong đó cũng chỉ quy định về đa dạng hóa nguồn vốn mà không quy định phương thức cụ thể, dành việc điều chỉnh quan hệ phát sinh cho các lĩnh vực pháp luật liên quan, đặc biệt là luật ngân sách, đầu tư,
tín dụng, dân sự Thứ ba, pháp luật về huy động vốn xây dựng NTM chú trọng quy
định các giải pháp nhằm đảm bảo tính minh bạch trong việc huy động, quản lý và sử dụng vốn đầu tư xây dựng NTM Tính minh bạch này là đòi hỏi luật định trong việc huy động vốn từ tất cả các nguồn khác nhau, đặc biệt vốn đóng góp của cá nhân, tổ
chức, doanh nghiệp Thứ tư, pháp luật về huy động vốn đầu tư xây dựng NTM có
xu hướng chú trọng tích hợp các giải pháp thực hiện các quy định pháp luật về đất đai, pháp luật thuế, pháp luật tín dụng để áp dụng trong việc huy động vốn Sự tích hợp các giải pháp trong các lĩnh vực pháp luật nêu trên để áp dụng tổng thể là nhằm tạo hiệu quả cao cho việc huy động vốn khi các vấn đề liên quan đến góp vốn dưới hình thức chuyển sở hữu đất, cho vay cũng như các vấn đề phát sinh, ví dụ vấn đề thuế, vấn đề
đăng ký sở hữu v.v Thứ năm, quy định về huy động đóng góp người dân và CĐDC
tiếp tục theo nguyên tắc huy động đóng góp tự nguyện, cần có quy định cụ thể hình thức động viên bắt buộc đối với một số công trình phúc lợi cụ thể
1.3 Pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới qua các giai đoạn
Các qui định về huy động vốn đầu tư xây dựng NTM được hình thành và phát triển qua 3 giai đoạn với nhiều thay đổi về nội dung, cách tiếp cận và phương pháp điều chỉnh:
Giai đoạn 1: (2001-2010), xây dựng NTM được thực hiện thí điểm trong phạm
vi hẹp (cấp xã, cấp thôn bản) với nguồn lực chủ yếu dựa vào sự bao cấp từ NSNN Huy động vốn doanh nghiệp chưa được đặt ra, huy động đóng góp của người dân xây dựng CSHT mới bắt đầu được thực hiện Văn bản pháp luật được ban hành, chủ yếu về quản
lý nguồn vốn đầu tư từ NSNN, vốn tín dụng người nghèo và đối tượng chính sách
Giai đoạn 2: (2011- 2015), pháp luật về huy động vốn được ban hành khá đầy
đủ: vốn NSNN cho xây dựng NTM thực hiện theo quy định của Luật NSNN 2003