Tại Long An, Ban quản lý Tiểu dự án do Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định thành lập, văn phòng thường trực đặt tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) có nhiệm vụ quản lý, triển khai hoạt động dự án đạt các mục tiêu cam kết với Ban quản lý dự án BYT. Dự án triển khai từ tháng 62018 và kết thúc vào tháng 7 2024. Đối với tuyến huyện, thành phố dự án do Trung tâm Y tế quản lý gồm huyện Bến Lức, huyện Đức Hòa và thành phố Tân An, đây là 3 địa bàn có số người nhiễm HIV cao nhất trong tổng số 15 huyện, thị và thành phố của tỉnh, đồng thời cũng đã có sẵn cơ sở tư vấn, xét nghiệm HIV và cơ sở điều trị HIVAIDS. Dự án đã triển khai 2 năm tại 6 tỉnh nhưng chưa có bất kỳ nghiên cứu nào đánh giá kết quả và yếu tố ảnh hưởng tới việc tìm ca nhiễm mới HIV từ bạn tình, bạn chích người nhiễm HIV kết nối điều trị ARV. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại huyện Đức Hòa, Bến Lức và thành phố Tân An của tỉnh Long An với mục tiêu mô tả kết quả triển khai hoạt động tìm ca nhiễm mới HIV từ bạn tình, bạn chích người nhiễm HIV kết nối điều trị ARV và một số yếu tố ảnh hưởng. Nghiên cứu sẽ cung cấp các bằng chứng khoa học để đề xuất những khuyến nghị phù hợp cho nhà tài trợ, các đơn vị liên quan và hệ thống PC HIVAIDS của tỉnh Long An trong việc điều chỉnh giải pháp và chính sách nhằm góp phần tiến tới đạt mục tiêu 909090 đã đề ra.
Trang 1LÊ VĂN TUẤN
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TÌM CA NHIỄM MỚI HIV KẾT NỐI ĐIỀU TRỊ ARV TẠI HUYỆN ĐỨC HÒA, BẾN LỨC VÀ THÀNH PHỐ TÂN AN
TỈNH LONG AN, NĂM 2020
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II TỔ CHỨC QUẢN LÝ Y TẾ
Hà Nội, 2020
Trang 2LÊ VĂN TUẤN
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TÌM CA NHIỄM MỚI HIV KẾT NỐI ĐIỀU TRỊ ARV TẠI HUYỆN ĐỨC HÒA, BẾN LỨC VÀ THÀNH PHỐ TÂN AN
TỈNH LONG AN, NĂM 2020
Luận văn Chuyên khoa II: Tổ chức quản lý Y tế
Mã ngành: CKII 62.72.76.05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thanh Hương
Hà Nội, 2020
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
ĐẶT VẤN ĐỀ
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Mục tiêu 90 – 90 – 90 và một số khái niệm liên quan
1.2 Tình hình HIV/AIDS
1.3 Kết quả phát hiện ca nhiễm HIV mới từ bạn tình và bạn chích của người nhiễm HIV, kết nối điều trị ARV
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng kết quả tìm ca nhiễm HIV mới kết nối điều trị ARV
1.5 Dự án hỗ trợ kỹ thuật phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam
1.6 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
KHUNG LÝ THUYẾT
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.3 Thiết kế nghiên cứu
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.6 Biến số và chủ đề nghiên cứu
2.7 Phương pháp phân tích số liệu
2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Kết quả triển khai mạng lưới Cộng tác viên
3.2 Kết quả triển khai cơ sở dịch vụ HIV/AIDS
3.3 Kết quả xét nghiệm HIV và phát hiện trường hợp HIV dương tính mới
3.4 Kết quả chuyển tiếp trường hợp HIV dương tính mới điều trị ARV
3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến phát hiện trường hợp HIV dương tính mới chuyển tiếp điều trị ARV thành công
Chương 4: BÀN LUẬN
Trang 44.1 Kết quả nâng cao năng lực HIV/AIDS cho nhân viên y tế và mạng lưới Cộng
tác viên
4.2 Kết quả nâng cao chất lượng cơ sở dịch vụ HIV/AIDS
4.3 Kết quả xét nghiệm phát hiện trường hợp HIV dương tính mới
4.4 Kết quả chuyển tiếp trường hợp HIV dương tính mới điều trị ARV nhờ áp dụng phương pháp PNS
4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát hiện trường hợp HIV dương tính mới chuyển tiếp điều trị ARV thành công
KẾT LUẬN
KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (Acquired
Immuno Deficiency Syndrom)ARN Axít ribonucleic
ARV Thuốc kháng retro virus (Antiretroviral)
CBO Tổ chức dựa vào cộng đồng
CD4 Tế bào bạch cầu lympho T-CD4
CDC Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (Centers for
Disease Control and Prevention)HIV Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (Human Immuno-deficiency
Virus)MDGs Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (Millennium Development
Goals)MSM Nam quan hệ tình dục đồng giới (males who have sex with males)PEPFAR Kế hoạch cứu trợ khẩn cấp của tổng thống Hoa Kỳ về phòng,
chống HIV/AIDS (President's Emergency Plan For AIDS Relief)
PLHIV Người sống chung với HIV (People living with HIV)
PNS Dịch vụ thông báo người phơi nhiễm (Partner Notification Service)SDGs Những mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development
Goals)STI Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (Sexually
Transmissible Infection)UNAIDS Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (The
Joint United Nations Programme on HIV/AIDS)WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tỷ lệ nhiễm HIV các nhóm đối tượng qua giám sát trọng điểm ở Việt
Nam (2013-2019) 9
Bảng 2.1: Mô tả cỡ mẫu phỏng vấn sâu 31
Bảng 2.2: Mô tả cỡ mẫu thảo luận nhóm 32
Bảng 3.1: Kết quả tuyển chọn mạng lưới Cộng tác viên 37
Bảng 3.2: Kết quả đào tạo mạng lưới Cộng tác viên 37
Bảng 3.3: Kết quả giao ban và giám sát hỗ trợ kỹ thuật mạng lưới Cộng tác viên .39
Bảng 3.4: Kết quả bố trí cán bộ tại cơ sở dịch vụ HIV/AIDS 40
Bảng 3.5: Kết quả nâng cao năng lực cán bộ tại cơ sở dịch vụ HIV/AIDS 41
Bảng 3.6: Kết quả xét nghiệm HIV 42
Bảng 3.7: Kết quả phát hiện trường hợp HIV dương tính mới 42
Bảng 3.8: Kết quả phát hiện ca nhiễm HIV mới theo nhóm nguy cơ 44
Bảng 3.9: Kết quả chuyển tiếp trường hợp HIV dương tính mới điều trị ARV 46
Bảng 3.10: Kết quả trường hợp nhiễm HIV mới chuyển tiếp điều trị ARV 48
Bảng 3.11: Kết quả trường hợp nhiễm HIV mới chuyển tiếp điều trị ARV 48
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mục tiêu 90 -90 -90 4
Hình 1.2 Quy trình triển khai dự án VAAC-US.CDC tại tỉnh Long An 23
Hình 1.3: Bản đồ địa giới hành chính tỉnh Long An 27
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1: Số ca nhiễm HIV-tỉnh Long An (2009- 6 tháng/2020) 10
Biểu đồ 1.2: Kết quả triển khai mục tiêu 90-90-90 của 20 tỉnh miền Nam 14
Biểu đồ 1.3: Kết quả triển khai mục tiêu 90-90-90 tỉnh Long An năm 2019 15
Biểu đồ 3.1: Kết quả phát hiện ca nhiễm HIV mới theo nơi xét nghiệm 45
Biểu đồ 3.2: Kết quả trường hợp nhiễm HIV mới chuyển tiếp điều trị ARV theo nơi phát hiện 47
Biểu đồ 3.3: Kết quả trường hợp nhiễm HIV mới chuyển tiếp điều trị ARV theo nhóm đối tượng 47
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Dự án tăng cường hỗ trợ kỹ thuật phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Namgọi tắt là dự án EPIC do Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) Hoa Kỳ tài trợthông qua Ban quản lý dự án EPIC – Bộ Y tế triển khai tại tỉnh Long An từ tháng
6 năm 2018 với mục tiêu tìm người nhiễm HIV mới kết nối điều trị ARV nhằmđạt mục tiêu 90-90-90
Nghiên cứu mô tả một số kết quả và yếu tố ảnh hưởng đến tìm ca nhiễmmới HIV từ bạn tình người nhiễm HIV và kết nối điều trị ARV tại huyện ĐứcHòa, Bến Lức và thành phố Tân An, tỉnh Long An trong 2 năm (6/2018-5/2020),
từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để triển khai các hoạt động được hiệu quả hơn
Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng phương pháp phân tích số liệuthứ cấp kết hợp nghiên cứu định tính, phỏng vấn sâu 4 nhóm đối tượng gồm 15người và thảo luận nhóm 6 nhóm đối tượng gồm 30 người là cán bộ lãnh đạo dự
án, nhân viên y tế, cộng tác viên, người nhiễm HIV và thân nhân
Dự án đã xây dựng mạng lưới Cộng tác viên gồm 15 tư vấn viên cộngđồng và 6 nhân viên hỗ trợ điều trị thuộc cộng đồng MSM làm nhiệm vụ tiếpcận, tư vấn, giới thiệu người phơi nhiễm HIV cao trong cộng đồng tiếp cận dịch
vụ xét nghiệm và điều trị HIV/AIDS, đồng thời đào tạo đội ngũ nhân viên y tếtại cơ sở cung cấp dịch vụ HIV/AIDS đủ kiến thức, kỹ năng đáp ứng tốt công tác
tư vấn, xét nghiệm, điều trị HIV/AIDS và áp dụng phương pháp tiếp cận bạntình/bạn chích người nhiễm HIV (PNS) trong tìm ca nhiễm HIV mới
Trong 2 năm (6/2018-5/2020) đã xét nghiệm phát hiện 766 ca nhiễm HIVmới, trung bình 380 ca năm cao hơn 150 ca so với giai đoạn 2013-2017, tỷ lệ caHIV dương tính chiếm 5% cao gấp 2 giai đoạn 2013-2015 chỉ dao động từ 2-3%
Số bệnh nhân (BN) phát hiện bằng PNS là 180 chiếm 23,5% và 371 BN thuộccộng đồng nam quan hệ tình dục đồng giời (MSM) chiếm 48,1% Số ca HIVdương tính mới chuyển tiếp điều trị ARV 692 chiếm tỷ lệ 90,3%, nâng tỷ lệ
Trang 9người nhiễm HIV được điều trị ARV ở Long An hơn 80%, trong đó tỷ lệ pháthiện bằng PNS ở cơ sở y tế 26,1%, ở cộng đồng 13,2%
Áp dụng PNS, thái độ phục vụ của nhân viên y tế và hình thức tiếp cậnqua mạng xã hội đã góp phần tăng số lượng người nhiễm HIV mới kết nối điềutrị ARV Yếu tố kỳ thị, phân biệt đối xử, sự hiểu biết về điều trị HIV/AIDS chưađầy đủ và tình trạng việc làm chưa ổn định là rào cản ảnh hưởng tiếp cận xétnghiệm và điều trị HIV/AIDS
Bài học kinh nghiệm là tiếp tục áp dụng chính sách hỗ trợ về hoạt độngtìm ca nhiễm HIV và gói hiệu suất đảm bảo chất lượng điều trị ARV Ngoài ra,chống phân biệt đối xử và kỳ thị HIV/AIDS và tăng thêm thời gian phục vụngoài giờ là những giải pháp thiết thực góp phần tăng số lượng người nhiễm HIVtiếp cận điều trị ARV
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo thống kê của Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS(UNAIDS), trên toàn thế giới có 37,9 triệu người đang sống chung với HIV và 23,3triệu người nhiễm vi rút nguy hiểm này đang được điều trị thuốc kháng vi rút HIV(ARV) HIV được xác định là nguyên nhân thứ tư gây tử vong ở các nước thu nhậpthấp và đứng hàng thứ 2 ở các nước châu Phi cận Sahara, một trong những nguyênnhân là hạn chế dịch vụ tư vấn, xét nghiệm và chăm sóc điều trị HIV/AIDS nên nhữngngười có nguy cơ phơi nhiễm HIV cao như nghiện chích ma túy, mại dâm, MSM bị bỏsót không tiếp cận được dịch vụ (1)
Tại Việt Nam, đến ngày 31/10/ 2019 có 211.981 người nhiễm HIV hiện cònsống, số người nhiễm HIV tử vong 103.426 HIV/AIDS được xem là vấn đề sức khỏecông cộng quan trọng, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnhtật Mặc dù số người nhiễm HIV có xu hướng giảm mạnh so với giai đoạn 2005-2010nhưng mỗi năm cả nước vẫn phát hiện khoảng 10.000 người nhiễm HIV mới, tập trunglây truyền cao qua đường tình dục, nhất là trong nhóm MSM (2)
Giai đoạn 2010-2018 cả nước ước tính có trên 250.000 người nhiễm HIV nhưngthực tế đến ngày 31/9/2019 chỉ có 142.604 BN đang điều trị ARV(3) Số người nhiễmHIV chưa điều trị ARV tập trung cao trong nhóm MSM và bạn tình, bạn chích củangười đã nhiễm HIV là thách thức lớn trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS (PCHIV/AIDS) Vì vậy, tăng cường tìm người nhiễm HIV trong nhóm người dễ phơinhiễm HIV nêu trên kết nối điều trị ARV là giải pháp quan trọng để đạt mục tiêu 90-90-90 tiến tới kết thúc đại dịch HIV vào năm 2030 Mục tiêu 90-90-90 là có 90% sốngười nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm của họ, 90% số người chẩn đoán nhiễmHIV được điều trị ARV, 90% số người điều trị ARV có tải lượng vi rút HIV dướingưỡng ức chế (4)
Dự án EPIC do CDC Hoa Kỳ tài trợ thông qua đối tác Bộ Y tế (BYT) triển khaitại 6 tỉnh, thành của Việt Nam gồm Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng, Bà Rịa - Vũng
Trang 11Tàu, Bình Dương và Long An Mục tiêu chính của dự án là triển khai các giải pháp tìmngười nhiễm HIV mới kết nối điều trị ARV nhằm đạt mục tiêu 90-90-90 mà Chính phủViệt Nam đã cam kết với UNAIDS tiến tới kết thúc đại dịch HIV/AIDS vào năm 2030.Đối tượng chính của dự án là những người phơi nhiễm HIV cao gồm bạn tình, bạnchích của người đã nhiễm HIV và MSM Thông qua giải pháp tiếp cận, tư vấn củamạng lưới cộng tác viên PC HIV/AIDS và nhân viên y tế, giúp đối tượng tiếp cận đượcvới dịch vụ xét nghiệm và điều trị HIV/AIDS.
Tại Long An, Ban quản lý Tiểu dự án do Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết địnhthành lập, văn phòng thường trực đặt tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) cónhiệm vụ quản lý, triển khai hoạt động dự án đạt các mục tiêu cam kết với Ban quản lý
dự án BYT Dự án triển khai từ tháng 6/2018 và kết thúc vào tháng 7/ 2024 Đối vớituyến huyện, thành phố dự án do Trung tâm Y tế quản lý gồm huyện Bến Lức, huyệnĐức Hòa và thành phố Tân An, đây là 3 địa bàn có số người nhiễm HIV cao nhất trongtổng số 15 huyện, thị và thành phố của tỉnh, đồng thời cũng đã có sẵn cơ sở tư vấn, xétnghiệm HIV và cơ sở điều trị HIV/AIDS
Dự án đã triển khai 2 năm tại 6 tỉnh nhưng chưa có bất kỳ nghiên cứu nào đánhgiá kết quả và yếu tố ảnh hưởng tới việc tìm ca nhiễm mới HIV từ bạn tình, bạn chíchngười nhiễm HIV kết nối điều trị ARV Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tạihuyện Đức Hòa, Bến Lức và thành phố Tân An của tỉnh Long An với mục tiêu mô tảkết quả triển khai hoạt động tìm ca nhiễm mới HIV từ bạn tình, bạn chích người nhiễmHIV kết nối điều trị ARV và một số yếu tố ảnh hưởng Nghiên cứu sẽ cung cấp cácbằng chứng khoa học để đề xuất những khuyến nghị phù hợp cho nhà tài trợ, các đơn
vị liên quan và hệ thống PC HIV/AIDS của tỉnh Long An trong việc điều chỉnh giảipháp và chính sách nhằm góp phần tiến tới đạt mục tiêu 90-90-90 đã đề ra
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kết quả các hoạt động tìm ca nhiễm mới HIV từ bạn tình, bạn chíchngười nhiễm HIV và kết nối điều trị ARV tại huyện Đức Hòa, Bến Lức và thành phốTân An, tỉnh Long An trong 2 năm (6/2018-5/2020)
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động tìm ca nhiễm mớiHIV từ bạn tình và bạn chích của người nhiễm HIV và kết nối điều trị ARV tại huyệnĐức Hòa, Bến Lức và thành phố Tân An, tỉnh Long An trong 2 năm (6/2018-5/2020)
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Mục tiêu 90 – 90 – 90 và một số khái niệm liên quan
1.1.1 Mục tiêu 90 – 90 – 90
Vào năm 2015, các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (Millennium DevelopmentGoals: MDGs) của Liên Hiệp Quốc được thay thế bằng 17 mục tiêu phát triển bềnvững (Sustainable Development Goals: SDGs) để đến năm 2030 trên thế giới này sẽkhông còn ai bị bỏ lại phía sau, kể cả những người sống chung với HIV (People livingwith HIV: PLHIV) (5) Nhóm mục tiêu phát triển bền vững SDGs 3 bao gồm mục tiêu3.3 và 3.8 liên quan đến HIV, cụ thể: Kết thúc đại dịch AIDS như mối đe dọa đối vớisức khỏe công cộng vào năm 2030 và đảm bảo mọi người, kể cả người sống chung vớiHIV được tiếp cận với các dịch vụ y tế thiết yếu (6) Trên cơ sở đó, UNAIDS đã xâydựng kế hoạch tổng lực (Fast Track Strategy) đẩy mạnh đáp ứng đối với đại dịchHIV/AIDS tại các quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu SDG 3 và kết thúc AIDS vàonăm 2030 (7) Kế hoạch tổng lực thiết lập dựa trên các mục tiêu dự phòng và điều trị,được biết đến với mục tiêu 90-90-90 và giảm số người nhiễm mới HIV hàng năm trênthế giới dưới mức 500.000 ca vào năm 2020 và ít hơn 200.000 ca vào năm 2030 và kếtthúc đại dịch AIDS như là mối đe dọa với sức khỏe công cộng (8) Mục tiêu 90-90-90nghĩa là có 90% số người nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm của họ, 90% số ngườinhiễm HIV được điều trị ARV, 90% số người điều trị ARV có tải lượng vi rút HIVdưới ngưỡng ức chế (<1.000 bản sao/ 1 ml máu) (Hình 1.1)
Hình 1.1 Mục tiêu 90 -90 -90
90% có tải lượng vi rút dưới ngưỡng
ức chế
90% người chẩn đoán được điều trị
90% người
nhiễm HIV
được chẩn
đoán
Trang 14Mục tiêu 90-90-90 được xem như là một mô hình liên tục, kết nối người nhiễmHIV từ chẩn đoán, đến điều trị và duy trì điều trị để đạt được tải lượng vi rút HIV dướingưỡng ức chế Một khi người nhiễm HIV đạt được tải lượng vi rút dưới ngưỡng ứcchế thì sức khỏe của họ không còn bị tác động của HIV và họ cũng không lây truyềnHIV sang cho người khác thông qua quan hệ tình dục Đối với sự lây nhiễm HIV quađường máu và mẹ nhiễm HIV truyền sang con chưa có những bằng chứng khoa họcđược khẳng định.Để hỗ trợ cho mục tiêu 90-90-90, WHO cũng đã khuyến nghị tất cảmọi người nhiễm HIV đều được điều trị, không dựa vào chỉ số CD4 như trước đây (4)
Để đạt được mục tiêu đầy tham vọng và thách thức này, UNAIDS nhấn mạnhđến hoạt động dự phòng, bao gồm phát hiện sớm, chẩn đoán sớm, kết nối điều trị ngaytrong ngày, dùng thuốc ARV có hiệu quả và thực hiện các can thiệp phù hợp nhằmngăn chặn sự lây truyền HIV ra cộng đồng (7)
1.1.2 Tìm kiếm, phát hiện sớm các ca nhiễm HIV trong cộng đồng và thông báo người phơi nhiễm
Tìm kiếm, phát hiện sớm và chẩn đoán sớm nhiễm HIV là một trong những hoạtđộng quyết định sự thành công của chiến lược kết thúc dịch AIDS vào năm 2030.Trong hơn 10 năm qua, nhiều giải pháp, can thiệp đã được triển khai và đã góp phầnvào việc tìm kiếm, phát hiện sớm những ca nhiễm HIV trong cộng đồng Tuy nhiên,các phương pháp, can thiệp trong thời gian qua vẫn chưa thật sự hiệu quả trong hoạtđộng tìm ca nhiễm HIV trong cộng đồng, nhiều ca được phát hiện muộn hoặc rấtmuộn Trong bối cảnh đó, việc lựa chọn và thực hiện phương pháp thông báo bạn tình,bạn chích của người nhiễm HIV hay còn gọi tắt là phương pháp thông báo người phơinhiễm (Partner Notification Service: PNS) có một ý nghĩa quan trọng, thúc đẩy chươngtrình phòng chống HIV sang một giai đoạn mới kiểm soát dịch HIV/AIDS tốt hơn,chương trình tìm ca HIV có hiệu quả hơn, góp phần duy trì và cải thiện được sức khỏe,chất lượng cuộc sống của những người sống chung với HIV (9-11)
Thông báo người phơi nhiễm (PNS) là một quá trình cung cấp các dịch vụ y tếdành cho bạn tình, bạn chích của người nhiễm HIV, những người này có nguy cơ cao
Trang 15nhiễm HIV và các bệnh có liên quan như bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc cácbệnh lây truyền do sử dụng bơm kim tiêm chung Quá trình thông báo người phơinhiễm bao gồm tiếp cận người phơi nhiễm, tư vấn, thực hiện các xét nghiệm, cung cấpdịch vụ điều trị, chuyển gửi phù hợp dành cho bạn tình, bạn chích của người nhiễmHIV Ngoài việc phát hiện sớm các ca nhiễm HIV, và cắt đứt đường lây truyền HIV,PNS còn có ý nghĩa trong việc giảm tái phát các bệnh lây truyền qua đường tình dục(STI- Sexually Transmissible Infections), ngăn chặn các biến chứng và hậu quả nghiêmtrọng của nhiễm trùng, góp phần giáo dục sức khỏe cho người phơi nhiễm và khuyếnkhích việc thay đổi hành vi Cách đây hơn 100 năm, PNS đã được sử dụng để ngănchặn sự lây truyền STI và tác động của PNS đối với sức khỏe cộng đồng còn bao gồmkiểm soát bệnh STI, giảm tỷ lệ mắc và chết của STI, và tiếp cận với những ngườinhiễm STI không có triệu chứng (12).
1.1.3 Một số định nghĩa và thuật ngữ liên quan đến thông báo người phơi nhiễm
Theo tài liệu về chính sách và tiêu chuẩn thực hành dịch vụ các đối tác HIV của
Sở Y tế Wisconsin nêu rõ một số thuật ngữ liên quan đến thông báo người phơi nhiễmHIV như sau (13):
Ca chỉ dẫn (index case) là người nhiễm HIV mới phát hiện chưa điều trị ARV
có thể lây truyền HIV cho bạn tình/bạn chích Từ ca chỉ dẫn áp dụng PNS để phát hiệnthêm ca nhiễm HIV mới
Người phơi nhiễm (contacts) là người có quan hệ tình dục hoặc tiêm chíchchung với ca chỉ dẫn
Bạn tình, bạn chích của người nhiễm HIV hay còn gọi là người phơi nhiễm lànhững người có quan hệ tình dục hoặc tiêm chích chung với người nhiễm HIV
Chùm lây nhiễm (HIV transmission cluster) là những người nhiễm HIV đã đượcchẩn đoán hay chưa được chẩn đoán, có liên quan với nhau về dịch tễ học và đường lâytruyền HIV, chủ yêu thông qua quan hệ tình dục hoặc tiêm chích chung Một số trườnghợp có thể lây truyền từ mẹ sang con
Trang 16Tìm ca nhiễm HIV mới từ bạn tình và bạn chích của người nhiễm HIV (PNS),đồng thời kết nối điều trị ARV nhằm tăng tỷ lệ người nhiễm HIV tiếp cận ARV là mụctiêu đích của dự án EPIC, đây cũng là mục tiêu quan trọng nhằm hướng tới đạt mụctiêu 90-90-90 góp phần đạt được mục tiêu chiến lược quốc gia chấm dứt dịch bệnhAIDS năm 2030 Chính phủ đã phê duyệt tại Quyết định 1246/QĐ-TTg ngày14/8/2020.
1.1.4 Các khái niệm về xét nghiệm HIV
Tư vấn, xét nghiệm HIV tại cộng đồng là quá trình tư vấn và xét nghiệm HIVđược thực hiện ngoài cơ sở y tế (14)
Tư vấn xét nghiệm HIV do những nhân viên không làm trong các phòng xétnghiệm HIV được thực hiện bởi những người đã được tập huấn để cung cấp dịch vụ tưvấn và xét nghiệm HIV, nhưng không được đào tạo chuyên ngành về xét nghiệm vàkhông làm trong cơ sở tư vấn, xét nghiệm
Tự xét nghiệm HIV là quá trình người được xét nghiệm tự thực hiện tất cả cácbước của việc xét nghiệm HIV bao gồm tự lấy mẫu, tự làm xét nghiệm HIV và tự đọckết quả
Hỗ trợ, kết nối xét nghiệm HIV cho bạn tình, bạn chích chung của người nhiễmHIV là loại hoạt động nhân viên tư vấn hướng dẫn, hỗ trợ người nhiễm HIV tiết lộ tìnhtrạng nhiễm HIV và đưa bạn tình, bạn chích chung đi làm xét nghiệm HIV (15)
1.1.5 Khái niệm về Cộng tác viên tham gia phòng, chống HIV/AIDS
Theo Văn kiện dự án Tăng cường hỗ trợ kỹ thuật phòng, chống HIV/AIDS tạiViệt Nam (EPIC) đã đưa ra một số khái niệm về Cộng tác viên tự nguyện tham gia PCHIV như sau:
Nhân viên hỗ trợ điều trị là người có thể hỗ trợ, giúp đỡ người nhiễm HIV sửdụng thuốc ARV đúng chỉ định, duy trì việc uống thuốc đầy đủ mỗi ngày, và lắng nghe
và khuyến khích BN tuân thủ quy trình điều trị nhằm đạt được và duy trì tải lượng virút dưới ngưỡng ức chế (16)
Trang 17Tư vấn viên cộng đồng là người có thể tham gia các hoạt động tiếp cận, tìm ca,cung cấp các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV tại cộng đồng phù hợp với quy địnhcủa chương trình phòng chống HIV/AIDS (16).
1.2 Tình hình HIV/AIDS
1.2.1 Tình hình HIV/AIDS trên thế giới
HIV/AIDS tiếp tục là vấn đề sức khỏe toàn cầu Năm 2018, ước tính có đến 37,9triệu người sống chung với HIV, bao gồm 1,7 triệu trẻ em với tỷ lệ hiện nhiễm HIVtrên toàn cầu là 0,8% đối với người lớn Ước tính có khoảng 21% số người sống chungvới HIV nhưng không biết tình trạng nhiễm HIV của chính họ Kể từ đầu đại dịchHIV/AIDS đến 2018, có khoảng 74,9 triệu người đã nhiễm HIV và khoảng 32 triệungười đã chết vì căn bệnh HIV/AIDS Tính riêng trong năm 2018, có 770,000 ngườichết vì HIV/AIDS Con số tử vong liên quan đến HIV/AIDS năm 2018 đã giảmkhoảng 55% so với đỉnh số ca tử vong là 1,7 triệu người vào năm 2004, và 1,4 triệungười vào năm 2010 Phần lớn người nhiễm HIV đang sống ở các nước có thu nhậpthấp hoặc trung bình, với ước lượng khoảng 68% đang sống ở khu vực cận Saharan –Châu Phi (17)
1.2.2 Tình hình HIV/AIDS ở Việt Nam
Sau 29 năm dịch bùng phát (1990-2019), đến ngày 31/10/2019 63 tỉnh, thành có
211.981 người nhiễm HIV hiện còn sống, số tử vong 103.426 Số ca nhiễm HIV caotập trung ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, chiếm 35% số người nhiễm HIV cảnước; tiếp đến là các tỉnh, thành Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Phòng, QuảngNinh, An Giang, Thái Nguyên, Đồng Nai, mỗi tỉnh chiếm khoảng 3% số người nhiễmHIV cả nước (2)
Số người nhiễm mới HIV tập trung chủ yếu ở độ tuổi 16-29 (38%) và 30-39(36%) Đường lây chủ yếu là quan hệ tình dục không an toàn (63%) và qua đường máu(23%) Trong số nhiễm mới HIV, có 36% là phụ nữ lây từ chồng, bạn tình bị nhiễmHIV, 24% là nhóm Nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) và người chuyển giới nữ,
Trang 1823% là người nghiện chích ma túy, 10% là người mua dâm, 5% là nam giới lây từ vợ,bạn tình bị nhiễm HIV, 2% là phụ nữ bán dâm (2).
Kết quả giám sát trọng điểm HIV năm 2018 ở nhóm phụ nữ bán dâm tại 13 tỉnh
và nhóm MSM ở 8 tỉnh cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV nhóm phụ nữ bán dâm là 3,58% vànhóm MSM là 10,78% Kết quả so sánh với nhiều năm gần đây, tỷ lệ nhiễm HIV trongnhóm phụ nữ bán dâm thay đổi không đáng kể so với năm 2017 và tăng hơn 1% so vớinăm 2016, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM có xu hướng giảm so với năm 2017(12,19%) Số liệu phát hiện nhiễm mới nhìn chung không có nhiều thay đổi so với năm
2018 Dịch HIV tập trung ở nam giới chiếm 75% và có xu hướng gia tăng những nămgần đây.Tỷ lệ nhiễm HIV nhóm nghiện chích ma túy đang có xu hướng giảm, thay vào
đó tỷ lệ này MSM đang ngày càng gia tăng và có khả năng sẽ trở thành nhóm chínhtrong lây nhiễm HIV (2) (Bảng 1.1)
Bảng 1.1: Tỷ lệ nhiễm HIV các nhóm đối tượng qua giám sát trọng điểm ở Việt
-(Nguồn: Báo cáo tổng kết HIV/AIDS – Cục PC HIV/AIDS năm 2019)
Theo nghiên cứu của Cục PC HIV/AIDS năm 2018 về ước tính số người hiệnmắc HIV ở Việt Nam, hiện có khoảng 250.000 người nhiễm HIV hiện còn sống, songchỉ có khoảng gần 200.000 người được xét nghiệm phát hiện HIV Dịch HIV có xuhướng giảm mạnh so với giai đoạn 2005-2010 nhưng vẫn chưa ổn định, mỗi năm pháthiện khoảng 10.000 người Vì vậy, nguy cơ lây lan tiềm ẩn vẫn là thách thức của cộngđồng (18)
Trang 191.2.3.Tình hình HIV/AIDS ở tỉnh Long An
Long An phát hiện trường hợp nhiễm HIV đầu tiên tại Thành phố Tân An vàotháng 8 năm 1993, đến tháng 6 năm 2020, toàn tỉnh phát hiện 4.444 trường hợp nhiễmHIV, 1.506 ca tử vong Hiện có 15/15 huyện, thị, thành phố với 100% xã phường củatỉnh đã phát hiện người nhiễm HIV, dịch tập trung cao ở các vùng giáp ranh thành phố
Hồ Chí Minh, biên giới Campuchia và dọc quốc lộ 1A từ thành phố Hồ Chí Minh quaLong An đi về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long là huyện Đức Hòa, Cần Giuộc, BếnLức, Thủ Thừa và thành phố Tân An (19) Số người nhiễm HIV trên 100.000 dân ởLong An là 215, xếp thứ 13/20 tỉnh, thành khu vực phía Nam (20)
Giai đoạn 2009 - 2012 số người nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tăng hàng năm,năm sau cao hơn năm trước, giai đoạn 2013-2017 số người nhiễm ổn định, đến năm
2018 gia tăng trở lại (19) (Hình 1.2)
2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 6th/
2020 0
300 298
143
Biểu đồ 1.1: Số ca nhiễm HIV-tỉnh Long An (2009- 6 tháng/2020)
(Nguồn: Báo cáo công tác phòng, chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2020)
Về hành vi nhiễm HIV, số người nhiễm HIV trên địa bàn tỉnh lây chủ yếu quađường máu trên nhóm người nghiện chích ma túy cao hơn khoảng 10% so với chỉ sốquốc gia và các tỉnh trong khu vực, năm 2014 tỷ lệ nhiễm 17,9%, năm 2015 là 17,5%,năm 2016 là 19,5%, đến năm 2017 tỷ lệ giảm 7% (19) Đối với nhóm dân cư bìnhthường trong cộng đồng, qua xét nghiệm giám sát trên nhóm thanh niên khám tuyểnnghĩa vụ quân sự hàng năm từ 2014-2018, tỷ lệ nhiễm HIV năm sau cao hơn năm
Trang 20trước, năm 2014 tỷ lệ nhiễm 0,18%, năm 2015: 0,23%, năm 2016: 0,24%, năm 2017:0,29% và năm 2018: 0,46% (19) Điểm lưu ý năm 2017 và năm 2018, Trung tâm PCHIV/AIDS đã xét nghiệm 82 trường hợp nam quan hệ tình dục đồng giới tự nguyện và
đã phát hiện 33 trường hợp HIV dương tính (40,24%), xét nghiệm ngẫu nhiên ở cộngđồng 79 mẫu phát hiện 3 trường hợp HIV dương tính (3,95%), đây là chỉ số cảnh báonguy cơ lây nhiễm HIV ra cộng đồng nếu không có những can thiệp tích cực trên nhómđối tượng nguy cơ này do lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục (19)
1.3 Kết quả phát hiện ca nhiễm HIV mới từ bạn tình và bạn chích của người nhiễm HIV, kết nối điều trị ARV
1.3.1 Trên thế giới
Theo nghiên cứu của WHO năm 2016, với mục tiêu 90 thứ nhất, chỉ có khoảng79% số người nhiễm biết được tình trạng nhiễm HIV của họ vào năm 2018, với mụctiêu 90 thứ hai có khoảng 78% số người nhiễm HIV được điều trị ARV và mục tiêu 90thứ ba có 86% số người điều trị ARV có tải lượng vi rút dưới ngưỡng ức chế 1.000 bảnsao/1 ml máu (21)
Số ca nhiễm HIV mới hàng năm ở nhóm người lớn tuổi hiện đang giảm chậmlại trong những năm gần đây Năm 2018 có 1,7 triệu người nhiễm HIV mới – khôngcải thiện nhiều so với số ca nhiễm HIV mới trong năm 2017 là 1,8 triệu người Trongvòng 8 năm qua, số ca nhiễm HIV mới hàng năm giảm chỉ 16%, từ 2,1 triệu ca trongnăm 2010 Mặc dù con số này gần bằng một nửa so với đỉnh dịch năm 1997 với số canhiễm HIV mới là 2,9 triệu người, tuy nhiên trong những năm gần đây tốc độ giảmkhông mạnh, và khó đạt được mục tiêu tìm được dưới 500.000 người nhiễm HIV mớivào năm 2020 (1)
Để đạt được mục tiêu 90-90-90 vào năm 2020, WHO đã ban hành hướng dẫnthực hiện phát hiện ca nhiễm HIV mới từ bạn tình và bạn chích (PNS) vào năm 2016với mục tiêu là gia tăng hiệu quả tiếp cận, tìm ca và phát hiện sớm các trường hợpnhiễm HIV chưa được chẩn đoán (21)
Trang 21Trước đó, WHO cũng đã có nhiều khuyến cáo liên quan đến tìm ca nhiễm HIVbằng phương pháp PNS trong việc thực hiện các hoạt động của chương trình phòngchống HIV/AIDS Năm 2012, hướng dẫn các bạn tình, các cặp vợ chồng cùng tham giaxét nghiệm HIV và chia sẻ thông tin với nhau để cùng nhau hỗ trợ vượt qua căn bệnhHIV/AIDS Năm 2013, WHO ban hành hướng dẫn xét nghiệm HIV tại cộng đồng, baogồm hướng dẫn cung cấp dịch vụ xét nghiệm tới hộ gia đình và các thành viên của giađình có người bị nhiễm HIV (4).
Các nghiên cứu và đánh giá hệ thống cho thấy hiệu quả của việc cung cấp dịch
vụ PNS, góp phần phát hiện các ca nhiễm HIV chưa được chẩn đoán, kết nối ca nhiễmvào hệ thống chăm sóc, điều trị và hỗ trợ những người có nguy cơ cao trong chùm lâynhiễm nhận được các dịch vụ dự phòng phù hợp, góp phần cắt đứt đường lây, tiến tớikhống chế dịch HIV/AIDS (4) WHO khuyến khích thực hiện phương pháp PNS dựatrên nguyên tắc tự nguyện, có sự đồng thuận của ca chỉ dẫn và ca chỉ dẫn có quyền từchối bất kỳ lúc nào Các đánh giá hệ thống cho thấy thực hiện phương pháp PNS làmgia tăng số người xét nghiệm HIV, đặc biệt là những người là bạn tình, bạn chích củangười nhiễm HIV, cải thiện tỷ lệ dương tính trong xét nghiệm HIV, phương pháp PNSgóp phần tăng tỷ lệ kết nối từ chẩn đoán HIV đến điều trị ARV (21)
Nghiên cứu của tác giả Nwachimere-Eze O A tại Anambra State năm 2019 chothấy PNS là phương pháp tiếp cận quan trọng để đạt được mục tiêu 90% người nhiễmHIV biết được tình trạng của họ Tỷ lệ khách hàng xét nghiệm HIV dương tính từ PNS
là 40,5% kết nối vào điều trị ARV là 100% Từ 430 ca chỉ dẫn, có 816 người phơinhiễm từ bạn tình và bạn chích người nhiễm HIV được áp dụng phương pháp PNS,nhưng chỉ có 242 người được xét nghiệm HIV và có 98 người được chẩn đoán dươngtính HIV (tỷ lệ 40,5%) (22)
Nghiên cứu ở Tanzania cho thấy tính khả thi của PNS rất cao, từ 653 ca nhiễmHIV đã tìm ra 390 người tham gia PNS qua đó cung cấp danh sách 438 người phơinhiễm và có 249 người được chuyển gởi thành công đến cơ sở y tế xét nghiệm HIV
Trang 22chiếm 96%, trong đó có 148 ca HIV dương tính được chẩn đoán mới chiếm 59,44% và
104 người được kết nối thành công điều trị ARV 70,3% (23)
Tại Ethiopia, mặc dù đã đạt tiến bộ đáng kể trong việc giảm ca nhiễm mới và tửvong do HIV nhưng những thành tựu này đang bị thách thức do cuộc khủng hoảng cấpquốc gia ở nước này Hàng năm có 13.000 người nhiễm HIV mới nhưng chỉ có 79%người nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm HIV của mình, 71% người nhiễm HIVđược điều trị ARV và 87% người điều trị ARV đạt ngưỡng tải lượng HIV ức chế dưới1.000 bản sao/1 ml máu (24)
Tại Kenya, tỷ lệ nhiễm HIV ở mức 4,9% với trên 96% số người biết tình trạngnhiễm HIV của mình và được tiếp cận dịch vụ điều trị ARV Với kết quả này đã giảm
số người nhiễm HIV tại Kenya từ 106.000 năm 2012 còn 36.000 vào năm 2018 (25)
Trong một thập kỷ qua, ở nước Anh công tác xét nghiệm tìm ca nhiễm HIV kếtnối điều trị ARV ngay sau khi có kết quả là ưu tiên hàng đầu và đã có tác động đếnthành tựu PC HIV/AIDS ở quốc gia này, các số liệu cho thấy số người nhiễm HIVngày càng giảm trong nhóm MSM, từ khoảng 2.300 lần lây truyền năm 2014 còn 800lần năm 2018, sau 4 năm giảm 73% (26)
1.3.2 Tại Việt Nam
Tính đến cuối năm 2019, trên 63 tỉnh, thành ước tính có khoảng 230.000 ngườicòn sống nhiễm HIV, trong đó có 183.373 người đã được chẩn đoán nhiễm HIV(79,7%), tuy nhiên chỉ có 140.053 người được kết nối điều trị ARV (76%) Tỷ lệ hiệnnhiễm HIV trên toàn bộ dân số là 0,24% vào năm 2019 (2)
Với kết quả trên cho thấy số người nhiễm HIV được phát hiện còn khá thấpchưa đạt mục tiêu 90%, vì vậy hoạt động tiếp cận, tìm ca nhiễm HIV trong cộng đồng
là một thách thức lớn, nếu không có những can thiệp mới, mang tính đột phá, Việt Namkhó đạt được mục tiêu 90-90-90 vào năm 2020 như cam kết với các tổ chức quốc tế
Báo cáo thống kê của Văn phòng CDC Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minhtháng 6 năm 2019 về kết quả triển khai mục tiêu 90-90-90 cho thấy 20 tỉnh, thành phíaNam trong đó có 7 tỉnh, thành trọng điểm do PEPFAR hỗ trợ gồm thành phố Hồ Chí
Trang 23Minh, Long An, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh và Tiền Giangchỉ rõ kết quả tìm ca nhiễm HIV kết nối điều trị ARV cao hơn 13 tỉnh không có hỗ trợ,một trong những yếu tố tác động là áp dụng PNS trong việc tìm ca HIV kết nối điều trịARV (27) (Biểu đồ 1.2).
20 tỉnh miền Nam 7 tỉnh PEPFAR 13 tỉnh ngoài PEPFAR0
Tỷ lệ người biết tình trạng nhiễm HIV đến tháng 6/2019
Tỷ lệ BN đang điều trị ARV đến tháng 6 năm 2019
Biểu đồ 1.2: Kết quả triển khai mục tiêu 90-90-90 của 20 tỉnh miền Nam
Trong 12 tỉnh thành đạt kết quả tìm ca HIV cao hơn 95% có 6/7 tỉnh, thành doPEPFAR hỗ trợ ngoài tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và 6/13 tỉnh ngoài PEPFAR gồm BạcLiêu, Bình Phước, Cà Mau, Đồng Tháp, Kiên Giang và Vĩnh Long Đối với mục tiêukết nối người nhiễm HIV điều trị ARV chỉ có tỉnh An Giang đạt trên 90%, tỉnh BìnhDương và tỉnh Cần Thơ đạt 80%, 17 tỉnh còn lại đạt kết quả rất thấp Đây là thách lớntác động đến kết quả đạt mục tiêu 90-90-90 vào năm 2020 (27)
1.3.3 Kết quả phát hiện ca nhiễm HIV kết nối điều trị ARV ở Long An
Theo ước tính của Cục PC HIV/AIDS năm 2018, tỉnh Long An có 3.200 ngườinhiễm HIV, theo mục tiêu 90-90-90 Long An cần xét nghiệm tìm 2.880 ca nhiễm HIVtrong cộng đồng, điều trị ARV 2.592 BN và đạt tải lượng HIV dưới ngưỡng là 2.333
BN (3) Thực tế, đến tháng 12 năm 2019, tỉnh Long An đã tìm được 2.334 ca nhiễm
Trang 24HIV đạt tỷ lệ 81,04%, kết nối điều trị ARV 2.053 BN đạt tỷ lệ 79,2% và số BN điều trịARV đạt tải lượng HIV dưới ngưỡng 1.000 bản sao/ml máu là 1.602 BN đạt tỷ lệ68,7% (28) Để đạt mục tiêu 90-90-90 Long An cần xét nghiệm tìm 546 ca nhiễm HIV,điều trị ARV 539 BN và có 731 BN đạt tải lượng HIV dưới ngưỡng (28).
Biểu đồ 1.3: Kết quả triển khai mục tiêu 90-90-90 tỉnh Long An năm 2019
Trong số 2.334 người nhiễm HIV phát hiện tại Long An đến thời điểm cuối năm
2019, theo phân tích của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh có 51,9% lây qua đườngmáu chủ yếu trên nhóm nghiện chích ma túy, 47% lây qua đường tình dục, tuy nhiên
hệ thống thu thập số liệu và thống kê không có phân tích tỷ lệ người nhiễm HIV pháthiện từ bạn tình và bạn chích của người đã nhiễm HIV (Ca chỉ dẫn)
Giai đoạn 2009-2010, mỗi năm có khoảng 150 người nhiễm HIV được phát hiện
và kết nối điều trị ARV trong đó trên 70% là người nghiện ma túy, giai đoạn
2011-2015 khoảng 180-200 BN, giai đoạn 2016 – 2018 khoảng 250 BN Đến cuối năm 2018
có 1.734 người nhiễm HIV được điều trị (Bệnh viện Đa khoa tỉnh 582, Bệnh viện Đakhoa khu vực Hậu Nghĩa 505, Trung tâm Y tế huyện Bến Lức 647) Tỷ lệ BN đạt tảilượng HIV dưới 1.000 bản sao/1 ml máu chiếm 96,87% và dưới 200 bản sao/1 ml máuchiếm 90,99% (19)
Trang 251.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tìm ca nhiễm HIV mới kết nối điều trị ARV
1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới về kết quả tìm ca nhiễm HIV mới kết nối điều trị ARV bằng phương pháp PNS
Phần lớn các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy ca chỉ dẫn và phương pháptiếp cận PNS có vai trò quan trọng tác động tích cực đến việc tiếp cận bạn tình và bạnchích của người đã nhiễm HIV và nhóm đối tượng MSM, những người phơi nhiễmHIV sẽ được xét nghiệm HIV và kết nối điều trị ARV đối với trường hợp HIV dươngtính
Các nghiên cứu can thiệp của Canada cho thấy xét nghiệm PNS được chấpnhận cao, phát hiện nhiều ca nhiễm HIV chưa được chẩn đoán, tăng tỷ lệ kết nối vàođiều trị, đặc biệt với hình thức PNS do cán bộ y tế thực hiện (29)
Ở Tanzania cho thấy ca chỉ dẫn đã kết hôn chuyển gửi bạn tình đi xét nghiệmHIV thành công cao gấp 2,5 lần so với ca chỉ dẫn chưa kết hôn, và nam giới chuyểngửi bạn tình đi xét nghiệm cao gấp 2,2 lần so với ca chỉ dẫn là nữ Nghiên cứu cũng chỉ
ra chuyển gởi bạn tình không chính thức, hoặc bạn tình trong quá khứ đi xét nghiệmHIV ít thành công hơn bạn tình hợp pháp Triệu chứng nghi nhiễm HIV là nhân tố thúcđẩy việc chuyển gửi xét nghiệm HIV thành công (30)
Trong phương pháp PNS, phần lớn nam giới cảm thấy trách nhiệm thực hiệnthông báo người phơi nhiễm Tuy nhiên có đến 21% sẽ không sẵn sàng tham gia PNSđối với bạn tình không thường xuyên so với 5,3% đối với bạn tình chính và 7.5% đốivới bạn tình thường xuyên (31)
1.4.2 Các phương pháp tiếp cận đối với cộng đồng MSM
Nghiên cứu về áp dụng phương pháp PNS ở Peru trong cộng đồng MSM vàngười chuyển giới (TG) có khoảng 52,5% bạn tình của MSM/TG nhiều khả năng hoặc
có khả năng sẽ được thông báo về tình trạng HIV Việc thông báo người phơi nhiễmchủ yếu xảy ra ở bạn tình chính thức, so với bạn tình không chính thức là bạn tìnhkhông thường xuyên hoặc người bán dâm Các yếu tố ảnh hưởng đến PNS bao gồm
Trang 26cảm nhận rằng bạn tình là nguồn lây bệnh và quan hệ tiếp tục quan hệ tình dục với bạntình trong tương lai (32).
Ca chỉ dẫn từ chối cung cấp thông tin bạn tình, bạn chích khác nhau tùy cơ sở từ7%-88% Ca chỉ dẫn nam đối tượng MSM, trẻ dưới 25 tuổi có khuynh hướng từ chốiPNS cao Có khoảng 72% người phơi nhiễm được xác định và cung cấp dịch vụ PNS.Người phơi nhiễm được xác định và xét nghiệm HIV đạt mức 38% trong phương phápthỏa thuận thực hiện và đạt mức 98% trong phương pháp hai bên cùng phối hợp giữacán bộ y tế và ca chỉ dẫn (33)
Đối với bạn tình nhất là trong nhóm MSM, các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ rayếu tố tác động đến sự gia tăng số bạn tình tiếp cận dịch vụ xét nghiệm và điều trịHIV/AIDS có liên quan đến sự kỳ thị HIV và các phương tiện tiếp cận bạn tình
Nghiên cứu sử dụng phương tiện thông tin liên lạc mới để tăng cường PNStrong nhóm MSM cho thấy giảm sự kỳ thị và có nhiều phương tiện liên lạc mới có thểlàm gia tăng sự thực hiện dịch vụ PNS trong nhóm MSM Có đến 73% MSM vẫn ưatích phương pháp thông báo người phơi nhiễm trực tiếp, tuy nhiên các phương tiệngiao tiếp, liên lạc mới cũng được chấp nhận để thông báo người phơi nhiễm như tinnhắn, email, webside, ứng dụng trên điện thoại di động (34)
Nghiên cứu vô danh về PNS cho thấy sử dụng mạng internet hoặc ứng dụng trênđiện thoại di động để cung cấp thông tin về bạn tình một cách vô danh là một can thiệp
có hiệu quả với chi phí thấp, có thể thực hiện được và được MSM chấp nhận, có khảnăng phát hiện ca nhiễm sớm (35)
1.4.3 Kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV/AIDS và cung cấp dịch vụ HIV/AIDS
Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về các yếu tố ảnh hưởng đếnkết quả tìm ca nhiễm HIV mới kết nối điều trị ARV để đạt được mục tiêu giảm canhiễm HIV đều là những nghiên cứu định tính, các nghiên cứu đã chỉ ra yếu tố ảnhhưởng tiêu cực đến người có nguy cơ nhiễm HIV tiếp cận dịch vụ xét nghiệm, chăm
Trang 27sóc và điều trị HIV/AIDS bao gồm yếu tố phân biệt, đối xử HIV và cung cấp dịch vụHIV/AIDS.
Thiếu trách nhiệm, lo sợ kỳ thị, lo sợ bị lộ thông tin hoặc hình sự hóa tội lâytruyền HIV sang người khác là những lý do chính mà nhóm MSM không tham giaPNS Khách hàng tự thực hiện PNS là phương pháp được lựa chọn đối với bạn tìnhchính, trong khi đó các bạn tình không thường xuyên được các MSM lựa chọn phươngpháp thông báo qua nhân viên y tế, hoặc dùng các phương tiện liên lạc khác thẻ thôngtin điện tử (31)
Nghiên cứu tại tỉnh Zhejiang Trung Quốc năm 2012 của tác giả Pan Xiaohong
và cộng sự cho thấy kết quả tìm ca HIV phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoài phân biệt đối
xử còn phụ thuộc vào tuổi tác người nhiễm HIV, đường lây truyền HIV, tình trạng cưtrú và hôn nhân (36)
Nghiên cứu tại Tanzania đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng ở mức độ cá nhân, chủyếu là bản thân người nhiễm HIV và hệ thống y tế, những giải pháp can thiệp phòng,chống HIV/AIDS Ngoài ra, các yếu tố có thể kể đến như sự kỳ thị, phân biệt đối xử,thiếu hiểu biết, năng lực của hệ thống y tế, chất lượng dịch vụ, và các mô hình tiếp cận,tìm ca HIV và kết nối điều trị ARV (37)
Nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng xét nghiệm HIV đối với nam giới ở BurkinaFaso năm 2015 cho thấy hệ thống y tế, các rào cản tiếp cận dịch vụ y tế, thái độ, độnglực thay đổi của người nhiễm HIV, sự hiểu biết và cảm nhận nguy cơ có tác động đếnkết quả tìm ca HIV kết nối điều trị ARV ở nam giới (38)
Kết quả nghiên cứu về PNS tại Hoa Kỳ năm 2013-2014 của tác giả Song W chothấy chương trình đã thành công trong việc tìm ca nhiễm HIV, và các yếu tố ảnh hưởngđến hiệu quả chương trình bao gồm yếu tố nhân khẩu học (tuổi, giới, dân tộc ), sựkhác biệt vùng miền, sự đa dạng các mô hình dịch vụ PNS (39)
Nghiên cứu của tác giả Damian D J và cộng sự về bộc lộ tình trạng nhiễm HIVcủa phụ nữ nhiễm HIV điều trị ARV tại Kilimanjaro region, Tanzania năm 2019 chothấy các yếu tố ảnh hưởng đến sự bộc lộ tình trạng nhiễm HIV với bạn tình bao gồm kỹ
Trang 28năng giao tiếp, chia sẻ, kỹ năng thảo luận và thương thuyết của người nhiễm HIV Sựbộc lộ tình trạng HIV có ý nghĩa quan trọng để tác động đến bạn tình, bạn chích tiếpcận dịch vụ xét nghiệm, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS (40).
Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy chất lượng phục vụ tại cơ sở dịch vụ xétnghiệm, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS và sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễmHIV/AIDS có liên quan đến việc tăng số ca nhiễm HIV kết nối điều trị ARV từ bạntình và bạn chích của họ
Nghiên cứu năm 2019 đánh giá can thiệp tăng cường kết nối tới điều trịHIV/AIDS của người nhiễm HIV tại Ninh Bình năm 2015-2016 của Lê BảoChâu,Trường Đại học Y tế công cộng đã chỉ ra nếu không có các hoạt động kết nốihoặc kết nối không hiệu quả, các nỗ lực mở rộng hoạt động tư vấn xét nghiệm HIV vàđiều trị ARV sẽ bị lãng phí, người nhiễm HIV không hoặc chậm trễ trong việc điều trị,ảnh hưởng tới sức khoẻ và gia tăng nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng Nghiên cứucũng cho thấy kỳ thị, phân biệt đối xử và lo sợ lộ tình trạng bệnh là rào cản quan trọngnhất ảnh hưởng tới quyết định tìm kiếm và tiếp cận điều trị của người nhiễm Bên cạnh
đó, thiếu kiến thức, thông tin về điều trị HIV do tư vấn chưa hiệu quả, hệ thống chuyểngửi thụ động, một chiều, không hài lòng, không tin tưởng chất lượng dịch vụ tư vấn xétnghiệm và điều trị HIV cùng với việc thiếu hỗ trợ từ nhóm đồng đẳng là những rào cảnchính dẫn đến trì hoãn tiếp cận điều trị của người nhiễm (41)
Nghiên cứu chỉ số đo lường mức độ kỳ thị với người có HIV ở Việt Nam doMạng lưới quốc gia người sống với HIV tại Việt Nam tiến hành năm 2014 trên 1.625người có HIV ở 5 tỉnh, thành là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, ĐiệnBiên và Cần Thơ đã chỉ ra kỳ thị và phân biệt đối xử là những rào cản chính ở ViệtNam đã khiến cho những người có HIV không thể tiếp cận các dịch vụ y tế, vì vậy cóthể ảnh hưởng đến kết quả thực hiện mục tiêu 90-90-90 Nghiên cứu cho thấy 29,1%người nhiễm HIV bị kỳ thị ở cộng đồng dưới hình thức “xì xào” vì bị nhiễm HIV và bịxúc phạm, 10,9 % bị phân biệt đối xử nên mất việc làm Ở cơ sở y tế, có 7,7% bị épbuộc xét nghiệm và 37,5% bị tiết lộ kết quả xét nghiệm Nghiên cứu cũng chỉ ra chỉ số
Trang 29khá tiêu cực 63,7% người có HIV không dám bộc lộ tình trạng nhiễm HIV với bạntình Đối với nhóm MSM thì mức độ kỳ thị và phân biệt đối xử cao hơn nhóm nguy cơkhác: 79,6% cảm thấy xấu hổ, 29,6% muốn tự tử, 15,7% bị bạn tình và 14,1% bị giađình kỳ thị, phân biệt đối xử (42).
Nghiên cứu về thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người nhiễmHIV/AIDS tại tỉnh Khánh Hòa năm 2013 của Lê Xuân Huy và cộng sự Viện PasteurNha Trang cho thấy sự kỳ thị và phân biệt đối xử đã tác động tiêu cực đến thể chất,tinh thần của người nhiễm HIV, trong đó có 72,5% do sợ kỳ thị đã không tiếp cận dịch
vụ tư vấn, xét nghiệm HIV tự nguyện và 16,7% không tiếp cận điều trị ARV Nghiêncứu phát hiện có 4,5% người nhiễm HIV bị xâm phạm quyền, 3% bị ruồng bỏ và 8% bị
từ chối tham gia các hoạt động cộng đồng (43)
Nghiên cứu mô tả cắt ngang về nguy cơ lây nhiễm HIV trong gia đình có ngườinhiễm HIV tại Bình Thuận năm 2014 của Hà Văn Tuân và Nguyễn Văn Hanhcho thấy
có 94% người nhiễm HIV sống với người thân trong gia đình, 44,7% nghĩ rằng họ đãlây nhiễm HIV cho người thân và chỉ có 12% thông báo cho người thân biết mình đãnhiễm HIV (44)
Về cung cấp dịch vụ HIV/AIDS, các nghiên cứu cũng chỉ ra những rào cản ảnhhưởng đến người tiếp cận dịch vụ do chất lượng dịch vụ vả thái độ phục vụ của nhânvuên y tế chưa tốt
Nghiên cứu về tư vấn, xét nghiệm HIV tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm
2009 của Ngô Quang Huy cho thấy rằng cách bố trí phòng tư vấn, xét nghiệm và kỹnăng của nhân viên tư vấn có tác động đến khách hàng ngại tiếp cận dịch vụ, có 57%khách hàng không hài lòng về sự kín đáo và 33,7% khách hàng chưa hài lòng về sựliên hoàn giữa phòng tư vấn và xét nghiệm (45)
Nghiên cứu của Đoàn Duy Dậm về thực trạng và kết quả hoạt động của phòng
tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện tại Quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ năm 2010tương tự nghiên cứu Ngô Quang Huy là khách hàng chưa thực sự hài lòng về tính kín
Trang 30đáo, sự dễ tìm của phòng tư vấn, xét nghiệm Thái độ nhiệt tình của cán bộ tư vấn làyếu tố quan trọng giúp khách hàng an tâm trong việc tiếp cận các dịch vụ liên quanHIV/AIDS (46).
Nghiên cứu mức độ chấp nhận và tính sẵn sàng chi trả cho tự xét nghiệm HIV
trong nhóm quần thể nguy cơ cao ở Việt Nam năm 2015 Kimberly và cộng sự cho thấykhách hàng đến phòng tư vấn, xét nghiệm HIV có liên quan đến thời gian chờ đợi, lolắng về tính bảo mật và sự kỳ thị, khó khăn về giao thông, đi lại Nghiên cứu nhắc lạihướng dẫn của WHO về tầm quan trọng xét nghiệm HIV ở cộng đồng bao gồm tự xétnghiệm và xét nghiệm do nhân viên không chuyên thực hiện để đạt mục tiêu 90 thứnhất là 90% người nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm HIV của mình Nghiên cứuphát hiện tỷ lệ các quần thể nguy cơ cao chấp nhận giải pháp tự xét nghiệm HIV khácao gồm nhóm nghiện chích ma túy 69%, phụ nữ bán dâm 56% và MSM 64% với lý
do đảm bảo tính riêng tư trên 70% (47)
1.5 Dự án hỗ trợ kỹ thuật phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam
1.5.1 Chính sách và định hướng
Dự án hỗ trợ kỹ thuật phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam (Dự án EPIC) là
Dự án hợp tác giữa Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ (US.CDC)
và Cục Phòng, chống HIV/AIDS (VAAC) - BYT Việt Nam trong khuôn khổ Kế hoạchcứu trợ khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ về PCHIV/AIDS (PEPFAR) Chính sách vàđịnh hướng ưu tiên của Nhà tài trợ PEPFAR thông qua CDC Hoa Kỳ là hỗ trợ cácquốc gia bị ảnh hưởng nặng nề do đại dịch HIV/AIDS có thêm nguồn lực về tài chính
và kỹ thuật trong cuộc chiến chống lại đại dịch HIV/AIDS
Dự án triển khai trong giai đoạn 7 năm từ 01/7/2013-31/12/2019 tại Long An và
27 tỉnh, thành phố cùng 8 Viện, Bệnh viện trực thuộc BYT Giai đoạn từ 01/01/2020đến 30/9/2024, dự án tăng cường hỗ trợ 2 khu vực ưu tiên bao gồm khu vực trọng điểmkinh tế phía bắc (NEZ) gồm Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên và khu vực trọngđiểm kinh tế phía Nam (HCMMetro) gồm Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu và Long An(16,48)
Trang 31Tại Long An, Dự án triển khai ở 3 huyện, thành phố trọng điểm về tình hìnhdịch HIV/AIDS gồm huyện Bến Lức, huyện Đức Hòa và Thành phố Tân An Đây là 3địa bàn có số người nhiễm HIV còn sống cao nhất trong tổng số 15 huyện, thị xã vàthành phố của tỉnh, đồng thời đã triển khai các cơ sở cung cấp dịch vụ dự phòng, chămsóc và điều trị HIV/AIDS
Trang 32Hình 1.2 Quy trình triển khai dự án VAAC-US.CDC tại tỉnh Long An
1.5.2 Mục tiêu của Dự án
1.5.2.1 Mục tiêu chung: Đạt được mục tiêu 90-90-90 và hướng tới cơ bản kết thúc
dịch HIV ở Việt Nam vào năm 2030 (16)
1.5.2.2 Mục tiêu cụ thể: Dự án tập trung vào 4 mục tiêu chính như sau:
- Triển khai các mô hình đổi mới về dự phòng và xét nghiệm HIV
- Mở rộng và nâng cao chất lượng điều trị BN tại các cơ sở điều trị HIV/AIDS
Xây dựng mạnglưới CTV
Xét nghiệm cho bệnhnhân/khách hàng tại cơ
sở y tế (bạn tình,bạnchích người nhiễmHIV đang điều trịARV)
Xét nghiệm HIV tại
cộng đồng, tự xét
nghiệm… cho bạn
tình, bạn chích người
nhiễm HIV, nhóm
nguy cơ cao…
Đào tạo nângcao năng lực
Giám sát, hỗ trợ
kỹ thuật
Tìm ca HIV tại cơ sở
y tế (Cơ sở xét nghiệmHIV, cơ sở điều trịARV)
Mục tiêu
90 – 90 -90
PNS
Trang 33- Tăng cường hệ thống theo dõi và giám sát trong PC HIV/AIDS
- Tăng cường giám sát hỗ trợ kỹ thuật về PC HIV/AIDS (16)
1.5.3 Một số hoạt động dự án triển khai tại tỉnh Long An
1.5.3.1 Tiếp cận tìm ca HIV tại cộng đồng kết nối điều trị ARV
Dự án triển khai tiếp cận tìm ca nhiễm HIV tại cộng đồng qua nhiều hình thứcgồm: Tiếp cận tìm ca thông qua nhân viên y tế tại cộng đồng, các Tổ chức dựa vàocộng đồng (CBO), mạng lưới những người nguy cơ cao, người có HIV và tiếp cận tìm
ca thông qua khách hàng của cơ sở chăm sóc, điều trị HIV, điều trị nghiện các chấtdạng thuốc phiện bằng Methadone, tư vấn xét nghiệm HIV
Về mặt kỹ thuật, hoạt động sẽ áp dụng phương pháp PNS, thông báo xét nghiệmbạn tình, bạn chích của người nhiễm HIV và Tiếp cận-Xét nghiệm-Điều trị-Duy trì chonhóm người có hành vi nguy cơ cao, thực hiện xét nghiệm tại cộng đồng (Laytest), tựxét nghiệm (Selttest)
Đối với hoạt động tiếp cận tìm ca sẽ bao gồm:
- Tìm ca HIV cũ là những ca đã nhiễm HIV nhưng chưa điều trị ARV hoặc
- Tìm ca mới là ca nhiễm HIV chưa được chẩn đoán
+ Phương pháp tiếp cận PNS: Nhân viên y tế huyện, xã tiếp cận những ngườiHIV có trong danh sách quản lý, các CBO, mạng lưới người có HIV tiếp cận với ngườiHIV tự nguyện bộc lộ, tư vấn cho người HIV để họ bộc lộ danh sách bạn tình, bạnchích, vợ, chồng, con sinh ra từ mẹ nhiễm HIV (gọi là người phơi nhiễm) Sau đó,người phơi nhiễm sẽ được tiếp cận để xét nghiệm HIV, nếu dương tính kết nối điều trịHIV và tiếp tục thực hiện phương pháp PNS
Trang 34+ Tìm ca trong quần thể người có hành vi nguy cơ cao gồm nghiện chích matúy, mại dâm, MSM: Nhân viên y tế huyện, xã tiếp cận những người nguy cơ nhiễmHIV cao có trong danh sách quản lý, đồng thời các CBO tiếp cận họ để tư vấn và xétnghiệm HIV, nếu HIV dương tính kết nối điều trị ARV và tiếp tục thực hiện phươngpháp PNS.
+ Các chỉ số chính của hoạt động tiếp cận tìm ca HIV gồm: Số người có hành vinguy cơ cao được tiếp cận; Số người có hành vi nguy cơ cao được lảm xét nghiệmHIV; Số người nhiễm HIV được kết nối điều trị ARV, trong đó có người nhiễm HIV
cũ và người nhiễm HIV mới (16)
1.5.3.2 Hoạt động tư vấn, xét nghiệm HIV
Dự án cung cấp dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV bằng các mô hình: Tư vấn xétnghiệm HIV tại cơ sở y tế, tư vấn xét nghiệm HIV tại cộng đồng, tư vấn xét nghiệmHIV cho bạn tình, bạn chích của người nhiễm HIV, tư vấn xét nghiệm HIV lưu động,
tự xét nghiệm, xét nghiệm chẩn đoán mới nhiễm (Recency testing) nhằm tăng số ngườinhiễm HIV mới được phát hiện để thực hiện mục tiêu 90-90-90
Hoạt động tư vấn xét nghiệm HIV sẽ phối hợp với tiếp cận tìm ca, hoạt độngchăm sóc điều trị HIV/AIDS và hoạt động theo dõi – đánh giá để triển khai hoạt độngPNS (16)
1.5.3.3 Hoạt động Chăm sóc và điều trị HIV/AIDS
Dự án hỗ trợ cung cấp dịch vụ điều trị HIV/AIDS theo tình trạng bệnh đượcWHO khuyến cáo nhằm tăng số người nhiễm HIV được điều trị ARV, tăng tính tuânthủ điều trị của người bệnh Năm 2018, 2019, các sáng kiến điều trị ARV trong ngày,điều trị ARV nhanh, cấp phát thuốc ARV nhiều tháng đã được triển khai (16)
1.5.3.4 Hoạt động theo dõi đánh giá
Dự án hỗ trợ theo dõi lượng giá tiến độ và chất lượng triển khai các hoạtđộng để đạt mục tiêu 90 – 90 – 90 tại tỉnh, ngoài ra, dự án còn triển khai hoạt động ràsoát số liệu người nhiễm HIV để làm cơ sở đánh giá tiến độ thực hiện mục tiêu 90 thứnhất (28)
Trang 351.6 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Huyện Đức Hòa nằm ở phía Bắc tỉnh Long An, có diện tích tự nhiên là 42.169
ha, phía Đông giáp 3 huyện Củ Chi, Bình Chánh và Hóc Môn của thành phố Hồ ChíMinh, địa bàn có số người nhiễm HIV cao nhất nước Huyện Đức Hòa gồm 3 thị trấn
và 17 xã có 97.278 hộ dân với 315.711 nhân khẩu, chiếm 18,7% dân số tỉnh Long An
Huyện Bến Lức nằm ở cửa ngõ phía Bắc của miền Tây Nam Bộ, cách trungtâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30 km về hướng Tây Nam và cách Thànhphố Tân An 15 km về hướng Đông Bắc.Huyện Bến Lức có 15 đơn vị hành chính gồm
01 thị trấn và 14 xãvới diện tích 288,74 km2, số hộ 52.067, dân số 181.660 người
Thành phố Tân An là đô thị loại II nằm về phía Tây Nam của tỉnh , cách thànhphố Hồ Chí Minh 47 km với 9 phường và 5 xã với 42.782 hộ dân và 145.120 nhânkhẩu, là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế, khoa học kỹ thuật của tỉnh (49)
Huyện Đức Hòa có số người nhiễm HIV cao nhất trên tổng số 15 huyện, thị,thành phố của tỉnh Long An, đến cuối năm 2018 huyện phát hiện 851 người nhiễmHIV, tử vong 316, số người nhiễm HIV quản lý ở cộng đồng 496, số người nhiễm HIVđược điều trị ARV là 457 Năm 2009, Bệnh viện Đa khoa khu vực Hậu Nghĩa nằm trênđịa bàn huyện triển khai cơ sở khám và điều trị HIV/AIDS (Phòng khám ngoại trú).Đến tháng 12 năm 2018, có 493 người nhiễm HIV còn điều trị ARV tại cơ sở (50)
Huyện Bến Lức có số người nhiễm HIV đứng thứ hai của tỉnh Long An, đếncuối năm 2018, phát hiện 568 người nhiễm HIV, tử vong 271, số người nhiễm HIVquản lý ở cộng đồng 283, số người nhiễm HIV được điều trị ARV là 257 Trung tâm Y
tế huyện gồm 2 chức năng y tế dự phòng và khám, điều trị bệnh Năm 2010, triển khai
cơ sở khám và điều trị HIV/AIDS Đến tháng 12 năm 2018, có 649 người nhiễm HIVcòn điều trị ARV, trong đó người nhiễm HIV trên địa bàn là 212 Vào tháng 01 năm
2019, Trung tâm Y tế huyện Bến Lức và Bệnh viện Đa khoa khu vực Hậu Nghĩa đãđược BYT cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện xét nghiệm khẳng định HIV dương tính(50)
Trang 36Thành phố Tân An có số người nhiễm HIV đứng thứ 4 với 513 người nhiễmHIV, tử vong 189, số người nhiễm HIV quản lý ở cộng đồng 182, số người nhiễm HIVđiều trị ARV là 149 Năm 2008, Bệnh viện Đa khoa tỉnh nằm trên địa bàn thành phốTân An triển khai cơ sở khám và điều trị HIV/AIDS Đến tháng 12 năm 2018, có 568người nhiễm HIV trên toàn tỉnh và các tỉnh lân cận còn điều trị ARV tại cơ sở (50).
Hình 1.3: Bản đồ địa giới hành chính tỉnh Long An
Trang 37KHUNG LÝ THUYẾT
Giám sát hỗ trợ kỹ thuật
CS cung cấp dịch
vụ HIV/AIDS và
đa dạng mô hình xét nghiệm HIV
Xây dựng mạng lưới CTV viên
Đào tạo, nâng
cao năng lực
PNS
(Tìm ca nhiễm HIV từ bạn tình
và bạn chích người nhiễm HIV)
- Số người XNHIV
- Số ca HIV (+)
- Số ca HIV (+)phát hiện bằngPNS
- Số ca HIV (+)điều trị ARV
Các y u t tác ế ố
đ ng c a b n bè ộ ủ ạ
và CTV tự nguy n ệ
- Phương pháp tiếp cận của CTV
- Tác động truyền thông
- Thái độ đối vớingười nhiễm HIV
- Kỳ th , phân bi t ị ệ
đ i xố ử
S ng ố ườ i nhi m ễ HIV m i phát ớ
hi n t b n tình, ệ ừ ạ
b n chích k t ạ ế
n i đi u tr ARV ố ề ị
Các yếu tố môi trường, chính sách
- Thái độ của cộng đồng
- Chính sách phòng, chống HIV/AIDS
- Chế độ đãi ngộ chocán bộ y tế
Trang 38Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên mục tiêu dự án tăng số người nhiễmHIV mới tiếp cận điều trị ARV và giải pháp trọng tâm là áp dụng phương pháp PNSphát hiện ca nhiễm mới HIV từ bạn tình và bạn chích người nhiễm HIV Nghiên cứuđánh giá kết quả các hoạt động tìm ca nhiễm mới HIV từ bạn tình, bạn chích ngườinhiễm HIV và kết nối điều trị ARV bao gồm các chỉ số về người nhiễm HIV mới đượcphát hiện tiếp cận điều trị ARV, hoạt động xây dựng mạng lưới cộng tác viên, đào tạonâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên y tế và cộng tác viên tham gia dự án, cungcấp dịch vụ xét nghiệm, điều trị HIV/AIDS và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tiếpcận dịch vụ xét nghiệm và điều trị HIV/AIDS của khách hàng.
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Sổ sách, báo cáo định kỳ về xét nghiệm và điều trị HIV/AIDS tại 3 cơ sở cungcấp dịch vụ xét nghiệm, điều trị HIV/AIDS trên địa bàn nghiên cứu
- Người nhiễm HIV được kết nối điều trị ARV tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnhviện Đa khoa khu vực Hậu Nghĩa và Trung tâm Y tế huyện Bến Lức của tỉnh Long An.Đây là những cơ sở cung cấp dịch vụ HIV/AIDS trong vùng dự án và đồng thời nằmtrên địa bàn của nghiện cứu này
- Cán bộ quản lý và phụ trách lĩnh vực HIV/AIDS cấp tỉnh: Lãnh đạo Sở Y tế,cán bộ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật phụ trách tư vấn, xét nghiệm HIV
- Lãnh đạo và cán bộ trực tiếp phục vụ tại cơ sở xét nghiệm, điều trị HIV/AIDS
- Cộng tác viên phòng, chống HIV/AIDS: Nhân viên hỗ trợ điều trị HIV/AIDS
và Tư vấn viên cộng đồng
- Người nhiễm HIV và thân nhân (Vợ, chồng, bạn thân)
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Huyện Đức Hòa, huyện Bến Lức và thành phố Tân An tỉnh Long An
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 01/5/2020 đến ngày 15/10/2020
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng vàđịnh tính
Kết hợp theo trình tự, trong đó nghiên cứu định lượng được tiến hành trước để
mô tả kết quả tìm ca nhiễm mới và kết nối điều trị ARV, nghiên cứu định tính đượcthực hiện sau để bổ sung cho kết quả định lượng và phân tích một số yếu tố ảnh hưởngđến kết quả tìm ca nhiễm mới và kết nối điều trị ARV
Trang 402.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Nghiên cứu định lượng: Thu thập số liệu thứ cấp nhằm mô tả kết quả tìm canhiễm mới HIV từ bạn tình, bạn chích người nhiễm HIV kết nối điều trị ARV đánh giámục tiêu 1 của nghiên cứu Thu thập các số liệu hoạt động liên quan đến kết quả tìm caHIV gồm: Xây dựng mạng lưới cộng tác viên, đào tạo nâng cao năng lực, giám sát hỗtrợ, xét nghiệm và điều trị HIV/AIDS Nguồn thông tin thu thập từ toàn bộ sổ sách, báocáo định kỳ về xét nghiệm và điều trị HIV/AIDS tại cơ sở điều trị HIV/AIDS trên địabàn nghiên cứu Thời gian từ ngày 01/6/2018 đến ngày 31/5/2020
- Nghiên cứu định tính: Nhằm thu thập thông tin phân tích các yếu tố ảnh hưởngđến kết quả tìm ca nhiễm mới HIV kết nối điều trị ARV từ bạn tình, bạn chích củangười nhiễm HIV Thông tin thu thập từ những cán bộ y tế trực tiếp công tác trong lĩnhvực tư vấn xét nghiệm, điều trị HIV/AIDS tại cơ sở điều trị HIV/AIDS trên địa bànnghiên cứu và cộng tác viên PC HIV/AIDS, người nhiễm HIV và thân nhân trên địabàn nghiên cứu
+ Phỏng vấn sâu: Chọn mẫu có chủ đích dựa trên nguyên tắc đối tượng nghiêncứu là người cung cấp và nhận dịch vụ gồm những cán bộ y tế phụ trách lĩnh vực tưvấn, xét nghiệm, điều trị HIV/AIDS tuyến tỉnh, huyện và cộng tác viên PC HIV/AIDS
đã tham gia dự án và đồng ý trả lời phỏng vấn Nghiên cứu gồm 15 cuộc phỏng vấn sâucho 4 nhóm đối tượng, mỗi cuộc tiến hành hết từ 30-45 phút với 02 bản câu hỏi hướngdẫn phỏng vấn sâu, gồm 01 cho nhóm cán bộ y tế và 01 cho mạng lưới Cộng tác viên:Nhân viên hỗ trợ điều trị, tư vấn viên cộng đồng (Bảng 2.1)
Bảng 2.2: Mô tả cỡ mẫu phỏng vấn sâu
/TTKSBT
BVĐKKV Hậu Nghĩa
TTYT Bến Lức
Tổng cộng