Thế nên việc áp dụng mô hình tổ chức kế toán trách nhiệm trong cơ cấu tổ chức sẽ giúp doanh nghiệp có một hệ thống cung cấp thông tin tin cậy, đưa ra các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá th
Trang 1Đ I H C UEH Ạ Ọ
KHOA QU N TR Ả Ị
-Cơ cấu tổ chức và tổ chức kế toán trách nhiệm
Trang 2Lời Mở Đầu
- Tính cấp thiết
Nền kinh tế nước ta chuyển mình từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của con người Xu hướng toàn cầu hóa ngày càng được lan rộng, được các quốc gia hưởng ứng, và Việt Nam cũng từng bước gia nhập vào môi trường quốc tế này Trong môi trường hội nhập đa dạng tiềm năng này vừa là cơ hội lại là thách thức cho các doanh nghiệp bởi sức cạnh tranh khốc liệt hơn bao giờ hết Việc này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp nước ta phải nâng cao nội lực của chính mình Xây dựng nội lực chính là tự tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp từ khâu bố trí nhân sự, dùng con người đúng đắn để chính con người là nguồn tài nguyên quý báu cho doanh nghiệp Một cơ cấu tổ chức tốt xuất phát từ việc lựa chọn một
mô hình cơ cấu phù hợp Xây dựng cơ cấu tổ chức là việc rất quan trọng, nó là xương sống của tổ chức vì nó cho biết bộ phận nào làm việc gì, ai chịu trách nhiệm cho việc này, ai quản lý và ai báo cáo cho ai Vai trò của việc xây dựng cơ cấu tổ chức là không thể thiếu đối với nhà quản trị.Việc hội nhập tác động đến nền kinh tế nước ta cũng đặt ra vấn đề sống còn cho các doanh nghiệp Thế nên việc áp dụng mô hình tổ chức kế toán trách nhiệm trong cơ cấu tổ chức sẽ giúp doanh nghiệp
có một hệ thống cung cấp thông tin tin cậy, đưa ra các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá thường kỳ kết quả của mỗi người, mỗi bộ phận trong tổ chức Xuất phát từ những lí do trên, nhóm em đã chọn đề tài “Cơ cấu tổ chức và tổ chức kế toán trách nhiệm” để phân tích, thảo luận về cơ cấu tổ chức và công tác kế toán trách nhiệm tại công ty FPT
- Phương pháp phân tích
Vận dụng cơ sở lý luận về cơ cấu tổ chức và kế toán trách nhiệm để phân tích thực trạng về cơ cấu
tổ chức và kế toán trách nhiệm tại công ty FPT
- Ý nghĩa đề tài
Hoàn thiện, bổ sung cho công tác tổ chức kế toán trách nhiệm, có những đánh giá và đưa ra định hướng về cơ cấu tổ chức tại công ty FPT
Trang 3Phần 1: Giới thiệu đơn vị đang phân tích - FPT
I Khái quát, lịch sử hình thành:
- FPT có tên gọi đầy đủ Công ty cổ phần FPT (tên tiếng anh: FPT Group) là công ty dịch vụ công nghệ thông tin Công ty FPT hoạt động trong 3 lĩnh vực chính gồm: công nghệ, viễn thông và giáo dục FPT sở hữu hạ tầng viễn thông phủ khắp 59/63 tỉnh thành tại Việt Nam và không ngừng mở rộng hoạt động trên thị trường toàn cầu Hiện công ty có 46 văn phòng tại 22 quốc gia và vùng lãnh thổ bên ngoài Việt Nam
- Trong suốt quá trình hoạt động, FPT luôn không ngừng nỗ lực với mục tiêu cao nhất là mang lại
sự hài lòng cho khách hàng Với hơn 30 năm hoạt động và phát triển, công ty đã gặt hái được không ít những thành tựu nổi bật Doanh thucủa công ty trong năm 2019 đạt 27.717 tỷ đồng Tổng
số cán bộ nhân viên của công ty hiện nay hơn 28.700 người
- Điểm qua những dấu mốc quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần FPT
Ngày 13/9/1988: FPT được thành lập với tên gọi ban đầu là là Công ty cổ phần chế biến Thực phẩm hoạt động trong lĩnh vực công nghệ sấy, công nghệ thông tin và công nghệ tự động hóa
Ngày 27/10/1990 : Đổi tên thành Công ty Đầu tư và phát triển Công nghệ với hoạt động kinh doanh cốt lõi là công nghệ thông tin
Tháng 4/2002: Công ty Đầu tư và Phát triển công nghệ trở thành công ty cổ phần
Ngày 01/01/2007: FPT thành lập Công ty TNHH Bán lẻ FPT với mô hình Công ty TNHH một thành viên
Ngày 13/3/2007: Thành lập Công ty cổ phần Quảng cáo FPT (FPT Promo JSC) và Công ty phần mềm Châu Á Thái Bình Dương đặt tại Singapore
Năm 2014: FPT mua lại công ty CNTT RWE IT Slovakia (đơn vị thành viên của Tập đoàn năng lượng Châu Âu, RWE)
Ngày 12/9/2017: FPT đã ký kết được thỏa thuận hợp tác với nhà đầu tư Synnex Technology International Corporation
Năm 2019: Đạt tổng doanh thu là 27.717 tỷ đồng, tăng trưởng 19,8%
- Năm 2021, trong bối cảnh các doanh nghiệp lao đao vì đại dịch Covid-19 thì công ty cổ phần FPT vẫn đạt mức tăng trưởng khả quan Lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ, đạt mức
937 tỷ và 747 tỷ đồng, lần lượt tăng 18% và 19,3% Điều đó đã giúp cổ phiếu của công ty đạt lãi cơ bản ở mức 1.101 đồng/cổ phiếu Theo đó, FPT đã đạt được mức tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận trước thuế lần lượt là 17,0% và 18,9% so với cùng kỳ năm 2019 Mức doanh thu này tương đương với 6.631 tỷ đồng và 1.142 tỷ đồng hoàn thành 102% kế hoạch đặt ra
II Tầm nhin, sứ mệnh:
- Sứ mệnh: "FPT mong muốn trở thành một tổ chức kiểu mới, giàu mạnh bằng nỗ lực lao động
sáng tạo trong khoa học kỹ thuật và công nghệ, làm khách hàng hài lòng, góp phần hưng thịnh
Trang 4quốc gia, đem lại cho mỗi thành viên của mình điều kiện phát triển tài năng tốt nhất và một cuộc sống đầy đủ về vật chất, phong phú về tinh thần."
- Tầm nhìn: FPT phấn đấu trở thành một tập đoàn phát triển hạ tầng và cung cấp dịch vụ điện tử
cho Cộng đồng dân cư điện tử Công nghệ thông tin và viễn thông sẽ tiếp tục là công nghệ nền móng trong xu thế tập trung nhằm đáp ứng và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ mang lại lợi ích nhất cho các công ty điện tử, đây chính là hướng dẫn quan trọng nhất in chiến lược phát triển của Tập đoàn FPT
- Trong suốt quá trình hoạt động, FPT luôn nỗ lực với mục tiêu cao nhất là mang lại sự hài lòng cho khách hàng thông qua những dịch vụ, sản phẩm và giải pháp công nghệ tối ưu nhất Đồng thời, FPT không ngừng nghiên cứu và tiên phong trong các xu hướng công nghệ mới góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 - Cuộc cách mạng số FPT
sẽ tiên phong cung cấp dịch vụ chuyển đổi số toàn diện cho các tổ chức, doanh nghiệp trên quy mô toàn cầu
III Quy mô:
- Với nguồn lực và mạng lưới văn phòng tại Việt Nam và hệ thống 48 văn phòng tại 26 quốc gia và vùng lãnh thổ bên ngoài Việt Nam, và hạ tầng viễn thông phủ khắp 59/63 tỉnh, thành phố tại Việt Nam Công ty đặt trụ sở chính tại Tòa nhà FPT, Phố Duy Tân, quận Cầu Giấy Hà Nội, , với 7 công
ty thành viên và 4 công ty liên kết
- FPT là đối tác quan trọng cung cấp dịch vụ/giải pháp cho hàng trăm tập đoàn lớn tronbal 500 Đồng thời là đối tác công nghệ cấp cao của các hãng công nghệ hàng đầu nhg nhiều lĩnh vực, trong
đó có trên 100 khách hàng thuộc danh sách Fortune Gloư GE, Airbus, Siemens, Microsoft, Ama-zon Web Services, SAP
IV Lĩnh vực kinh doanh và sản phẩm dịch vụ:
- Hiện nay công ty hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực như mua bán sửa chữa thiết bị máy móc trong lĩnh vực y tế giáo dục đào tạo khoa học kỹ thuật công nghiệp môi trường điện tử viễn thông, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, ô tô xe máy cung cấp nội dung và dịch vụ giá trị gia tăng trên máy và mạng điện thoại di động đại lý dịch vụ viễn thông các hoạt động kinh doanh chính của công ty gồm:
- Cung cấp các mặt hàng điện thoại di động, laptop, các dịch vụ mạng điện thoại di động
- Phát triển kinh doanh các mặt hàng khác như camera, player,
- Cung cấp các loại dịch vụ cáp quang, truyền hình kỹ thuật số, ứng dụng xem phim
- Ngoài các sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng đại chúng trên, FPT còn cung cấp thêm nhiều dịch vụ, tiện ích hiện đại khác cho nhóm khách hàng là tổ chức/ doanh nghiệp Cụ thể gồm các dịch vụ sau: Truyền dẫn số liệu, Kênh thuê riêng Internet dịch vụ thoại, dữ liệu trực tuyến,,
dịch vụ quản lý, dịch vụ Điện toán đám mây – FPT HI GIO CLOUD
Trang 5Phần 2: Cơ Sở Lý Thuyết
I Khái niệm kế toán quản trị
- Kế toán quản trị là lĩnh vực chuyên môn của kế toán nhằm nắm bắt các vấn đề về thực trạng, đặc
biệt là thực trạng về tài chính của doanh nghiệp; thông qua đó phục vụ công tác quản lý nội bộ và
ra quyết định quản trị Thông tin của kế toán quản trị đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của doanh nghiệp, đồng thời phục vụ việc kiểm soát và đánh giá doanh nghiệp đó
- Kế toán quản trị đưa ra tất cả các thông tin kinh tế đã được phân tích, đo lường xử lý và cung cấp
cho ban lãnh đạo doanh nghiệp để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh Hay nói cách khác kế toán quản trị giúp họ cân nhắc và quyết định lựa chọn ra một trong những phương án tốt nhất để đạt được hiệu quả kinh tế cao
- Kế toán quản trị đưa ra các quyết định: Doanh nghiệp cần phải sản xuất những sản phẩm nào?
Phương thức sản xuất ra sao? Cách thức bán ra như thế nào? Giá cả hàng hoá? Cần nguồn nhân lực thế nào để thực hiện cho hiệu quả nhất?
II Khái niệm tổ chức
Tổ chức có thể được định nghĩa theo các cách khác nhau Theo Ducan (1981), tổ chức là một tập hợp các cá nhân riêng lẻ tương tác lẫn nhau, cùng làm việc hướng tới những mục tiêu chung và mối quan hệ làm việc của họ được xác định theo cơ cấu nhất định Theo định nghĩa này, yếu tố con người được coi trọng hơn những nguồn lực khác của tổ chức (máy móc, nhà xưởng, công nghệ…)
Ở một giới hạn nào đó, con người trong tổ chức cần phải làm việc hướng tới mục tiêu chung và những hoạt động của họ cần phải được phối hợp để đạt mục tiêu đó Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng tất cả mọi người trong tổ chức đều có những mục tiêu và sự ưu tiên cho các mục tiêu giống nhau, và không phải tất cả các mục tiêu đều rõ ràng đối với tất cả mọi người Theo đó, mối quan hệ của con người trong tổ chức được xác định theo cơ cấu nhất định Bên cạnh đó, tổ chức cũng được coi là một hệ thống các hoạt động do hai hay nhiều người phối hợp hoạt động với nhau nhằm đạt được mục tiêu chung Theo định nghĩa này, tổ chức bao gồm các yếu tố cấu thành sau:
- Những người trong tổ chức đều phải làm việc hướng tới một mục tiêu chung của tổ chức
- Phối hợp các nỗ lực của những con người trong tổ chức là nền tảng tạo nên tổ chức
- Tuy nhiên, ngoài nguồn lực con người, để đảm bảo sự hoạt động của tổ chức, cần phải có các nguồn lực khác như tài chính, công nghệ, nhà xưởng…
- Để phối hợp các nỗ lực của con người trong tổ chức nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong
tổ chức và đạt được mục tiêu của tổ chức thì cần có hệ thống quyền lực và quản lý Để thiết kế hệ thống quyền lực và quản lý trong tổ chức, chúng ta cần phải trả lời câu hỏi: Ai sẽ là người điều hành tổ chức? Tổ chức sẽ có bao nhiêu cấp quản lý, các phòng ban chức năng…? Làm thế nào để quản lý con người và các nguồn lực khác của tổ chức? Làm thế nào để tập hợp và phối hợp các nhiệm vụ, công việc?
Trang 6III Khái niệm cơ cấu tổ chức
- Là một khái niệm cơ bản của khoa học quản lý, cơ cấu tổ chức được nhiều tác giả quan tâm đề cập đến Từ những cách tiếp cận khác nhau mà mỗi tác giả lại có những quan niệm khác nhau về
cơ cấu tổ chức
- Cơ cấu tổ chức là hệ thống các nhiệm vụ, mối quan hệ báo cáo và quyền lực nhằm duy trì sự hoạt động của tổ chức Cơ cấu tổ chức xác định cách thức phân chia, tập hợp và phối hợp các nhiệm vụ công việc trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
IV Tầm quan trọng cơ cấu tổ chức
Thiết lập cơ cấu tổ chức giúp cho người lao động hiểu rõ được vị trí, quy trình hoạt động và mối quan hệ của họ với những người lao động khác trong tổ chức Cơ cấu tổ chức phù hợp không chỉ
có ảnh hưởng tích cực tới sự thực hiện công việc của người lao động mà còn ảnh hưởng tới tinh thần và sự thỏa mãn đối với công việc của họ Việc thiết kế cơ cấu tổ chức phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức thích nghi nhanh với môi trường, nâng cao năng lực hoạt động và khả năng cạnh tranh của tổ chức Cơ cấu tổ chức là công cụ quản lý các hoạt động của tổ chức Thông qua
cơ cấu tổ chức, các nhà quản lý có thể kiểm soát hành vi của người lao động
V Đặc điểm cơ cấu tổ chức
- Mô hình tổ chức giản đơn: Cơ cấu giản đơn là một loại hình cơ cấu đơn giản nhất Trong cơ cấu
này thì các chức năng quản lý hầu hết tập trung vào một người quản lý doanh nghiệp Hầu như không có sự chuyên môn hóa trong phân công lao động quản lý Loại hình cơ cấu này chỉ có thể áp dụng cho các doanh nghiệp rất nhỏ, tính chất kinh doanh đơn giản, chẳng hạn các doanh nghiệp tư nhân một chủ, kinh doanh đơn mặt hàng, các cửa hàng nhỏ…
- Mô hình tổ chức bộ phận theo chức năng: Các chức năng quản lý một doanh nghiệp được phân
chia theo chiều dọc hoặc chiều ngang Theo chiều ngang, trong quản lý doanh nghiệp các chức năng như: quản lý nhân sự, quản lý marketing, quản lý tài chính, sản xuất… tương ứng với các chức năng quản lý trên, bộ máy quản lý doanh nghiệp hình thành một loại hình cơ cấu có cấu trúc chức năng Ở đây, các hoạt động tương tự được phân nhóm thành các phòng ban: Nhân sự, Market-ing, tài chính, sản xuất… Cơ cấu này phù hợp với những tổ chức hoạt động đơn lĩnh vực, đơn sản phẩm, đơn thị trường Cơ cấu chức năng phù hợp với các tổ chức vừa và nhỏ
- Mô hình tổ chức theo cơ cấu theo đơn vị (lĩnh vực / sản phẩm / thị trường): Cơ cấu này phân
nhóm các cá nhân và nguồn lực theo lĩnh vực hoạt động, sản phẩm hoặc thị trường Vì vậy hình thành nên 3 loại cơ cấu cơ sở đó là cơ cấu theo lĩnh vực, cơ cấu theo sản phẩm và cơ cấu theo thị trường Cơ cấu theo đơn vị được áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô lớn, hoạt động đa lĩnh vực, đa sản phẩm, đa thị trường Thông thường cơ cấu của những tổ chức doanh nghiệp này là cơ cấu hỗn hợp của 3 loại hình cơ cấu đơn vị trên
- Mô hình tổ chức theo ma trận: Các cấu trúc trên là nhằm để phối hợp sự tập trung vào thị trường
và chức năng lựa chọn việc tổ chức Cơ cấu ma trận là một loại hình cơ cấu mà hai loại tập trung trên đều được coi là quan trọng trong cơ cấu tổ chức Cơ cấu ma trận thường được sử dụng trong các dự án phát triển của các ngành công nghiệp lớn Trong cơ cấu ma trận, bên cạnh các tuyến và
Trang 7các bộ phận chức năng, trong cơ cấu hình thành nên những chương trình hoặc dự án để thực hiện những mục tiêu lớn, quan trọng, mang tính độc lập tương đối và cần tập trung nguồn lực Trong cơ cấu ma trận, lãnh đạo chương trình, dự án có thể sử dụng những bộ phận, những phân hệ, những người trong tổ chức để thực hiện chương trình, dự án theo quy chế chính thức
- Mô hình tổ chức hỗn hợp: Trong thực tế, các tổ chức thường sử dụng một hỗn hợp các hình thức
cơ cấu Người ta mong muốn phân chia con người và nguồn lực bằng 2 phương pháp cùng một lúc, như ở quan điểm của cơ cấu ma trận đã đưa ra, nhằm cân bằng các lợi thế và bất lợi của mỗi phương pháp Cơ cấu hỗn hợp được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức kinh doanh lớn ở Việt Nam, đặc biệt là các Tổng Công ty 90 và 91 Tại các Tổng Công ty này, phân chia theo chức năng vẫn chiếm chủ đạo nhưng do quy mô, chủng loại sản phẩm và thị trường được mở rộng, các phân chia theo sản phẩm, thị trường được sử dụng hỗn hợp trong cơ cấu
VI Bản chất kế toán trách nhiệm
- Trong quá trình quản lý, các cá nhân, các bộ phận được giao quyền ra quyết định và trách nhiệm để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nào đó Việc phân quyền trong tổ chức tạo nên cơ cấu phức tạp và đòi hỏi cấp trên phải nắm được kết quả thực hiện của cấp dưới Vì thế, kế toán trách nhiệm được xây dựng để theo dõi kết quả, hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong doanh nghiệp
- Có quan điểm KTTN là một hệ thống tạo ra những thông tin tài chính và phi tài chính có liên quan về những hoạt động thực tế và được lập kế hoạch của những trung tâm trách nhiệm trong một công ty - những đơn vị trong tổ chức được đứng đầu bởi những nhà quản lý có trách nhiệm cho kết quả hoạt động của đơn vị họ quản lý Những bộ phận chủ yếu bao gồm: Hệ thống dự toán ngân sách, các báo cáo kết quả hoạt động, các báo cáo về sự biến động và những mức giá chuyển nhượng sản phẩm, dịch vụ nội bộ giữa các bộ phận trong công ty
- Tóm lại, hiện có nhiều quan điểm khác về KTTN, tuy nhiên chúng ta thấy rằng sự khác nhau của các quan điểm trên được thể hiện ở cách thức nhìn nhận của mỗi tác giả về đặc điểm, ý nghĩa và cơ chế tổ chức KTTN ở DN, sự khác nhau đó không mang tính đối nghịch mà chúng cùng bổ sung cho nhau nhằm giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về KTTN Từ đó có thể rút
ra những vấn đề thuộc bản chất của KTTN như sau:
Thứ nhất, KTTN là một nội dung cơ bản của KTQT và là một quá trình tập hợp và báo cáo các
thông tin được dùng để kiểm tra các quá trình hoạt động và đánh giá thực hiện nhiệm vụ ở từng
bộ phận trong một tổ chức Hệ thống KTTN là một hệ thống thông tin chính thức về mặt tài chính Các hệ thống này sử dụng cả các thông tin tài chính và cả thông tin phi tài chính
Thứ hai, Kế toán trách nhiệm là một công cụ đắc lực và quan trọng nhất trong hệ thống kiểm
soát quản lý KTTN là công cụ đắc lực của hệ thống quản lý để thu thập và báo cáo các thông tin
dự toán và thực tế về các “đầu vào” và “đầu ra” của các trung tâm trách nhiệm, phân tích và tìm
ra các sai lệch giữa thực tế và dự toán trên cơ sở đó nhà quản lý tại các bộ phận có thể kiểm soát hoạt động và chi phí phát sinh tại bộ phận của mình KTTN chỉ có thể được thực hiện trong đơn
vị có cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải có sự phân quyền rõ ràng Hệ thống KTTN ở các tổ
Trang 8chức khác nhau là rất đa dạng, bao gồm các thủ tục được thể chế hóa cao với cách hoạt động theo lịch trình đều đặn, có những nhà quản lý bộ phận được giao quyền hạn quyết định, song cũng có những nhà quản lý bộ phận hầu như không có quyền hạn về sử dụng các nguồn lực thuộc bộ phận họ quản lý
Thứ ba, Tính hai mặt của kế toán trách nhiệm và ảnh hưởng đến thái độ của nhà quản lý KTTN
bao gồm hai mặt: thông tin và trách nhiệm Do hệ thống kế toán trách nhiệm có hai mặt thông tin
và trách nhiệm nên nó ảnh hưởng rất lớn đến hành vi và thái độ của nhà quản lý Ảnh hưởng có thể tích cực hoặc tiêu cực tuỳ thuộc vào cách sử dụng hệ thống kế toán trách nhiệm Một hệ thống KTTN hữu ích phải thỏa mãn lý thuyết phù hợp, nghĩa là có một cấu trúc tổ chức thích hợp nhất với môi trường tổ chức hoạt động, với chiến lược tổng hợp của tổ chức, và với các giá trị và sự khích lệ của quản trị cấp cao
VII Vai trò của kế toán trách nhiệm
- KTTN là một phương pháp phân chia cấu trúc của một tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lường biểu hiện của chúng Nói cách khác, KTTN là một "công cụ" để
đo lường về kết quả hoạt động của một khu vực nào đó trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau Vai trò của KTTN được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, KTTN giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của toàn bộ tổ
chức
Thứ hai, KTTN cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lượng về kết quả hoạt động của
những nhà quản lý bộ phận KTTN xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó các nhà quản lý
có thể hệ thống hóa các công việc của các trung tâm trách nhiệm mà thiết lập các chỉ tiêu đánh giá
Thứ ba, KTTN được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của các nhà quản lý và do đó, nó
ảnh hưởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này
Thứ tư, KTTN thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phương cách
phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức Mục tiêu chiến lược của các doanh nghiệp được gắn với các trung tâm trách nhiệm Vì vậy, các nhà quản lý của trung tâm trách nhiệm sẽ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu của doanh nghiệp
Thứ năm, KTTN trong việc kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp KTTN
giúp nhà quản trị các cấp xác định trách nhiệm của mình và sẽ phải chịu trách nhiệm đối với nhà quản trị cao cấp hơn trong quá trình hoạt động kinh doanh để đạt được mục tiêu KTTN cũng giúp nhà quản trị các cấp đánh giá được hoạt động kinh doanh của bộ phận mình Từ đó nhà
Trang 9quản trị cấp dưới chủ động ra quyết định kinh doanh, các nhà quản trị cấp cao tập trung vào các quyết định chiến lược kinh doanh
VIII Phân loại kế toán trách nhiệm
- Theo cuốn "Management Accounting" của tác giả Hasen và Mowen; công trình nghiên cứu về
kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam của tác giả Trần Trung
Tuấn (2015) và tác giả Nguyễn Thị Quí (2016) với luận văn "Kế toán trách nhiệm tại tổng công
ty cổ phần bảo hiểm quân đội - MIC" , KTTN được chia thành ba loại dựa trên các yếu tố của
KTTN là: KTTN dựa trên chức năng, KTTN dựa trên hoạt động và KTTN dựa trên chiến lược KTTN dựa trên chức năng là KTTN thực hiện phân bổ trách nhiệm tới các bộ phận trong doanh nghiệp và thực hiện đo lường thành quả bằng các chỉ số tài chính Các doanh nghiệp có các sản phẩm hàng loạt trong môi trường ổn định, áp lực cạnh tranh thấp, quy trình sản xuất đơn hàng rất phù hợp với KTTN theo chức năng
- KTTN dựa trên hoạt động: Do môi trường kinh doanh thay đổi liên tục thì KTTN cũng phải thay đổi để phù hợp với môi trường kinh doanh đó KTTN dựa trên hoạt động là KTTN phân bổ trách nhiệm tới quá trình, đo lường thành quả bằng chỉ tiêu tài chính và phi tài chính Mô hình doanh nghiệp áp dụng phù hợp đó là doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh doanh thay đổi liên tục, sản phẩm đa dạng và quy trình được cải tiến, áp lực cạnh tranh khốc liệt
- KTTN dựa trên chiến lược: Tuy KTTN dựa trên hoạt động đã khắc phục được hạn chế của KTTN dựa trên chức năng, nhưng chúng chưa cung cấp cho nhà quản trị một tầm nhìn và chiến lược và các chỉ tiêu đánh giá mang tính chất tổng thể và chiến lược Vậy KTTN dựa trên chiến lược là chuyển chiến lược của doanh nghiệp thành mục tiêu kinh doanh và thước đo, Chúng đo lường chỉ tiêu tài chính và phi tài chính dựa vào tầm nhìn định hướng chiến lược
Trang 10Phần 3: Phân tích thực trạng tình hình công ty
I Cơ cấu tổ chức FPT
1 Sơ dồ tổ chức của FPT
1.1 Sơ đồ:
- Cơ cấu của công ty được tổ chức theo trực tuyến chức năng Đây là mô hình mà trong đó gíam đốc là người chịu trách nhiệm điều hành cao nhất tại công ty
+ Giám đốc: quản lý điều hành mọi hoạt động đến các phòng ban, trực tiếp chỉ đạo công tác cán
bộ, tài chính kế toán và kinh doanh tiếp thị
+ Phòng tổng hợp: Nhân sự gồm 5 người làm nhiệm vụ giúp giám đốc theo dõi đánh giá nhận xét nhân viên, tham mưu cho giám đốc sắp xếp bố trí cán bộ, quản lý hồ sơ, quản lý công văn đi đến, chịu trách nhiệm về các văn thư, lưu trữ hồ sơ…
+ Trung tâm kinh doanh: Tổ chức gồm 4 phòng trong đó có 1 giám đốc của trung tâm, có trách nhiệm xây dựng, phát triển và quản lý chuỗi của cửa hàng tại khu vực miền bắc, đào tạo nhân viên đảm bảo cung cấp đủ nguồn nhân lực cho chuỗi cửa hàng trong phạm vi phụ trách, xây dựng và phát triển dịch vụ khách hàng, xây dựng hình ảnh và tác phong chuyên nghiệp cho cửa hàng, lên kế hoạch bán hàng định kỳ năm, quý, tháng chuỗi cửa hàng
+ Phòng quản lý phát triển hệ thống: làm nhiệm vụ lập kế hoạch và phát triển hệ thống kinh doanh
và dịch vụ theo chuỗi, thu nhận thông tin thị trường, đối thủ cạnh tranh và lập kế hoạch kinh doanh, thiết lập, duy trì và phát triển hệ thống thông tin khách hàng, xây dựng và phát triển chính sách cho từng nhóm khách hàng và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động bán hàng và kinh doanh + Phòng đào tạo: sẽ nghiên cứu các thông tin di động, các sản phẩm IT, các sản phẩm mới và update thông tin sản phẩm trên website, biên soạn tài liệu giảng dạy cẩm nang sản phẩm và hướng dẫn sử dụng nhanh (quick guide), tổ chức đào tạo công nghệ của sản phẩm mới cho nhân viên bán hàng, bảo hành, đại lý và các đối tác, các phòng ban có nhu cầu