Khái niệm về lạm phát Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiệnkhi các yêu cầu của các quy luật kinh tế hàng hóa không được tuân thủ một cáchđúng đắn, đặc
Trang 1TRƯỜNG ĐH KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHOA KINH TẾ
BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: KINH TẾ HỌC NÂNG CAO TÊN CHỦ ĐỀ: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM
TỪ NĂM 2016 ĐẾN HẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2021
Họ và tên:
Ngày sinh:
Lớp:
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LẠM PHÁT 2
1.1 Khái niệm về lạm phát 2
1.2 Đo lường lạm phát 3
1.3 Phân loại lạm phát 5
1.3.1 Phân loại theo mức độ của tỷ lệ lạm phát hay dựa theo định lượng5 1.3.2 Căn cứ vào định tính 6
1.3.3 Căn cứ theo mức độ của tỷ lệ lạm phát 7
1.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát 8
1.4.1 Lạm phát do cầu kéo 8
1.4.2 Lạm phát do chi phí đẩy 9
1.4.3 Lạm phát kéo dài 10
1.4.4 Các nguyên nhân khác 10
1.5 Tác động của lạm phát 11
PHẦN 2: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 2016 – 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2021 12
1 Thực trạng lạm phát năm 2016 12
2 Thực trạng lạm phát năm 2017 13
3 Thực trạng lạm phát năm 2018 13
4 Thực trạng lạm phát năm 2019 14
5 Thực trạng lạm phát năm 2020 15
6 Thực trạng lạm phát 6 tháng đầu năm 2021 16
PHẦN 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT 17
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Lạm phát vốn dĩ là vấn đề nhạy cảm của một quốc gia, là một trong số cácchỉ tiêu để đánh giá trình độ kinh tế phát triển của một quốc gia, song lạm phátcũng chính là công cụ gây trở ngại trong công cuộc xây dựng và đổi mới đấtnước Chính sách tiền tệ và chính sách tài chính của nhà nước chính là nguyênnhân sâu xa dẫn đến tình trạng lạm phát và làm ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh
tế quốc dân, đến đời sống xã hội Cùng với các nước khác trên thế giới, ViệtNam cũng đang tìm kiếm giải pháp phù hợp với nền kinh tế đất nước để kìmhãm sự lạm phát giúp phát triển toàn diện nước nhà
Trong sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế hiện nay,nguyên nhân và ảnh hưởng của lạm phát cũng ngày càng phức tạp, việc tìmhiểu, nghiên cứu về lạm phát, đánh giá, phân tích và đưa ra những giải pháp đểchống và giảm tỉ lệ lạm phát có vai trò to lớn góp phần vào sự phát triển của nềnkinh tế nói riêng và đất nước nói chung
Vì vậy, trong phạm vi môn học, em xin lựa chọn đề tài: “Phân tích tìnhhình lạm phát của Việt Nam từ năm 2016 đến hết 6 tháng đầu năm 2021” để tìmhiểu và nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chắc chắn còn nhiều thiếtsót, nên em kính mong nhận được sự góp ý chân thành của cô giáo để bài tiểuluận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
2
Trang 4PHẦN NỘI DUNG PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LẠM PHÁT
1.1 Khái niệm về lạm phát
Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiệnkhi các yêu cầu của các quy luật kinh tế hàng hóa không được tuân thủ một cáchđúng đắn, đặc biệt trong số đó là quy luật lưu thông tiền tệ Ở đâu còn sản xuấthàng hóa, còn tồn tại những quan hệ hàng hóa - tiền tệ thì ở đó còn tiềm ẩn nguy
cơ xảy ra lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật của lưu thông tiền
do nhà nước phát hành để đưa vào lưu thông vượt quá số lượng vàng thực chất
mà nó đại diện thì giá trị của tiền giấy sẽ giảm xuống và kéo theo đó là tìnhtrạng lạm phát xuất hiện Từ đây, ông cũng ngụý rằng lạm phát là “bạn đường”của chủ nghĩa tư bản Không những chủ nghĩa tư bản bóc lột người lao độngbằng giá trị thặng dư mà còn gây ra lạm phát khiến cho tiền lương thực tế màngười lao động thực sự nhận được bị giảm sút
+ Còn Milton Friedman lại đưa ra quan niệm khác: “Lạm phát là việc giá
cả tăng nhanh và kéo dài” Ông đã chỉ ra mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữacung tiền và lạm phát khi cho rằng lạm phát là một hiện tượng tiền tệ và khicung tiền tăng nhanh hơn sản lượng thì đó chính là khởi đầu của lạm phát Một
số nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ và phái Keynes đều tán thành ý kiến đó củaFriedman Họ cho rằng khi thị trường tiền tệ phát triển, ảnh hưởng đến nền kinh
tế quốc dân của mỗi nước thì lạm phát có thể xảy ra bất kì thời điểm nào Nóchính là một hiện tượng tất yếu của tài chính – tiền tệ
Một vài quan điểm khác như:
+ Theo Karl-Marx: “Lạm phát là sự phát hành tiền mặt quá mức cần thiết”+ V.LLenine: “Lạm phát là sự thừa ứ tiền giấy trong lưu thông”
Trang 5+ R.Dornbusch và Fisher: “Lạm phát là tình trạng mức giá chung của nềnkinh tế tăng lên”
Các khái niệm trên đều dựa trên các đặc trưng:
+ Lượng tiền lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mấtgiá
+ Mức giá cả chung tăng lên
Vì vậy, nhìn chung lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tụccủa hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào
đó Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa vàdịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trênmột đơn vị tiền tệ Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trịtiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác Theonghĩa đầu tiên thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm
vi nền kinh tế một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu lạm phátcủa một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế sử dụng loại tiền tệ đó.Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một vấn đề gây tranh cãi giữacác nhà kinh tế học vĩ mô
1.2 Đo lường lạm phát
Việc tính toán được lạm phát của nền kinh tế trong từng giai đoạn nhấtđịnh (thường là 1 năm) là rất quan trọng với mỗi quốc gia để đưa ra các chínhsách kinh tế vĩ mô phù hợp Để phục vụ cho việc đó, các nhà kinh tế sử dụng chỉtiêu tỉ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổi trong mức giá chung Hiệnnay tồn tại 3 chỉ tiêu để biểu thị chỉ số giá, bao gồm:
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ tiêu phản ánh mức chi phí nói chung màmột người tiêu dùng điển hình bỏ ra để mua hàng hóa và dịch vụ Đây cũngđược xem là chỉ tiêu phổ biến nhất, được hầu hết các quốc gia sử dụng để tính tỉ
lệ lạm phát vì nó gắn liền với đời sống hàng ngày của người dân
Trong đó:
4
Trang 6+ CPI : chỉ số giá tiêu dùng ở năm tt
+ Pi và Pi là mức giá của sản phẩm i trong năm t và năm 0t 0
+ Qi là sản lượng sản phẩm i trong năm 00
+ Năm 0 là năm gốc
Chỉ số giá sản xuất hay chỉ số giá bán buôn (PPI) thường được các doanhnghiệp hay các hãng kinh doanh quan tâm Chỉ tiêu này cho biết chi phí màdoanh nghiệp phải bỏ ra để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ
Chỉ số giảm phát hay chỉ số điều chỉnh GDP (Id) thường được dùng đểđiều chỉnh GDP danh nghĩa về GDP thực tế và chỉ số này cũng giúp các quốcgia có thể đánh giá khái quát được tình trạng giá cả của nước mình Chỉ số nàytính theo giá thị trường hay giá hiện hành được sử dụng trong tính GDP nhằmphản ánh những biến động trong giá cả của tất cả các loại hàng hóa và dịch vụtồn tại trong nền kinh tế quốc gia
Trong đó:
+ GDPdn: GDO danh nghĩa năm t
+ GDPt: GDP thực năm t
+ Qi : Khối lượng sản phẩm i được sản xuất ở năm tt
+ Pi : Đơn giá sản phẩm i ở năm tt
+ Pi : Đơn giá sản phẩm i ở năm gốc0
Các chỉ số giá khác được sử dụng rộng rãi cho việc tính toán lạm phát giá
cả bao gồm:
Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo lường sự thay đổi trung bình trong giá nhàsản xuất trong nước nhận được cho đầu ra của họ Điều này khác với chỉ số CPItrong đó trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể làm cho số tiền nhận của nhà sảnxuất khác với những gì người tiêu dùng trả Ngoài ra còn thường có một sựchậm trễ giữa sự gia tăng chỉ số PPI và bất kỳ sự gia tăng cuối cùng nào trong
Trang 7chỉ số CPI Chỉ số giá sản xuất đo áp lực được đưa vào sản xuất do chi phínguyên liệu của họ Điều này có thể được "truyền" cho người tiêu dùng, hoặc nó
có thể được hấp thụ bởi lợi nhuận, hoặc được bù đắp bởi năng suất ngày càngtăng Ở Ấn Độ và Hoa Kỳ, một phiên bản cũ của PPI được gọi là Chỉ số giá bánbuôn
Chỉ số giá hàng hóa, đo lường giá của một lựa chọn các mặt hàng Hiệnnay chỉ số giá hàng hóa được gia quyển bằng tầm quan trọng tương đối của cácthành phần đối với chi phí "tất cả trong" một nhân công
Chỉ số giá cơ bản: vì giá thực phẩm và dầu có thể thay đổi nhanh chóng
do sự thay đổi trong điều kiện cung và cầu trong thị trường thực phẩm và dầu,
nó có thể khó phát hiện các xu hướng dài hạn trong mức giá khi những giá nàyđược bao gồm Vì vậy hầu hết cơ quan thống kê cũng báo cáo một đo lường 'lạmphát cơ bản', trong đó loại bỏ các thành phần dễ bay hơi nhất (như thực phẩm vàdầu) khỏi một chỉ số giá rộng như chỉ số CPI Vì lạm phát cơ bản là ít bị ảnhhưởng bởi nguồn cung ngắn hạn và điều kiện nhu cầu tại các thị trường cụ thể,các ngân hàng trung ương dựa vào nó để đo lường tốt hơn các tác động lạm phátcủa chính sách tiền tệ hiện tại
- Lạm phát vừa phải được đặc trưng bởi mức giá tăng chậm và nhìn chung
là có thểdự báo trước được vì tỷ lệ lạm phát qua từng năm tương đối ổn định,khoảng dưới 10%/năm Đây là mức lạm phát khá lý tưởng đối với nền kinh tếbởi những tác động tiêu cực của lạm phát là không đáng kể mà thậm chí nó còn
có thể giúp nền kinh tế có động lực để phát triển Khi nền kinh tế trải qua lạmphát vừa phải, dân chúng và các doanh nghiệp vẫn sẵn sàng nắm giữ tiền mặt đểphục vụ mục đích giao dịch và kí kết các hợp đồng kinh tế có thời hạn dài vìmọi người dự đoán rằng đồng tiền sẽ không bị mất giá quá nhiều trong tương lai
6
Trang 8- Lạm phát phi mã là lạm phát ở mức hai hoặc ba con số trong một năm,
từ 10 đến dưới 100%/năm Đối với một số nền kinh tế phát triển, lạm phát phi
mã ở mức thấp vẫn có thể được chấp nhận Tuy nhiên, nếu tỷ lệ lạm phát nàyđược duy trì trong một thời gian dài sẽ gây ra những tác động tiêu cực đối vớinền kinh tế Đồng tiền quốc gia sẽ bị mất giá nhanh chóng khiến cho người dânmất niềm tin vào tiền tệ nước mình và sẽ có xu hướng tích trữ vàng, ngoại tệmạnh hay đầu tư vào bất động sản
- Siêu lạm phát là tỷ lệ lạm phát đặc biệt rất cao, mức lạm phát hàng tháng
từ 50% trở lên Như vậy, tỷ lệ lạm phát một năm có thể lên tới hơn 13.000%.Nhìn chung, các cuộc siêu lạm phát đã từng xảy ra đều bắt nguồn từ việc cungtiền tăng lên quá mức và điều này thường xuất phát từ việc phải bù đắp thâm hụtngân sách kéo dài của Chính phủ các quốc gia Một ví dụ điển hình đó là siêulạm phát ở Đức giai đoạn 1921-1923 do nhu cầu bồi thường cho chiến tranh vàtái thiết nền kinh tế sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Do vậy mà chi tiêu củaChính phủ Đức đã tăng mạnh và cung tiền trong nền kinh tế cũng theo đó màtăng cao đột biến, kết quả là Đức đã phải trải qua mức lạm phát hơn 1 triệu phầntrăm vào năm 1923 Cuộc siêu lạm phát ở Đức đã gây ra những tác động vôcùng khủng khiếp đối với nền kinh tế của quốc gia này Việt Nam của chúng tacũng đã từng trải qua thời kì siêu lạm phát vào năm 1986-1988 khi Nhà nướcvừa thực hiện công cuộc đổi mới đất nước với mức tăng giá phổ biến hàng thángrất cao từ 15-20%
1.3.2 Căn cứ vào định tính
a Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng
Lạm phát cân bằng được hiểu là tỷ lệ lạm phát tăng lên tương ứng vớimức tăng lên của thu nhập Bởi vậy, lạm phát dù có xảy ra cũng không có ảnhhưởng quá lớn tới đời sống của người lao động
Lạm phát không cân bằng được hiểu là tỷ lệ lạm phát tăng lên nhưngkhông tương ứng với mức tăng lên của thu nhập Điều đó sẽ khiến cho thu nhậpthực tế của người lao động bị giảm sút; hay nói cách khác, sức mua của thu nhậpbằng tiền sẽ giảm và điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người laođộng Thông thường, loại lạm phát này thực tế sẽ xảy ra thường xuyên hơn sovới lạm phát cân bằng
Trang 9b Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường
Lạm phát dự đoán trước là loại lạm phát xảy ra trong một khoảng thờigian tương đối dài, có xu hướng ổn định và đều đặn qua các năm Vì vậy, tỷ lệlạm phát có thể được tính toán trước một cách khá chính xác cho năm tiếp theo.Với loại lạm phát này, người dân có thể dễ dàng thích nghi và chấp nhận nó như
là một thực tế của cuộc sống nên các tác động tiêu cực của lạm phát đối với nềnkinh tế là không quá đáng kể
Lạm phát bất thường là loại lạm phát xảy ra mang tính chất đột biến màchưa từng có tiền lệ trước đó Chính bởi tính bất thường này mà các chủ thểtrong nền kinh tế chưa thể thích nghi hay thay đổi thói quen sẵn có của mình khilạm phát xảy ra quá đột ngột; và điều đó sẽ khiến đời sống của họ bị thay đổi,tiền lương cũng chưa thể điều chỉnh ngay lập tức để phù hợp với tỷ lệ lạm phátmới Do đó, người dân có xu hướng mất niềm tin vào các chính sách nhằm ổnđịnh lạm phát của Chính phủ và điều đó đến lượt nó sẽ gây ra những tác độngtiêu cực đối với nền kinh tế của quốc gia
c Lạm phát thông thường và lạm phát lõi
Lạm phát thông thường là lạm phát không loại bỏ đi các biến động mangtính tạm thời hay các cú sốc giá Chính vì vậy, lạm phát thông thường có thểkhông cho thấy được chính xác tình trạng sức khỏe của nền kinh tế quốc gia.Tuy vậy, nó lại có ý nghĩa đối với người dân bởi nó phản ánh những biến độngtrong giá cả sinh hoạt thực tế mà họ phải chi trả hàng ngày trong cuộc sống củamình
Lạm phát lõi hay còn gọi là lạm phát cơ bản là lạm phát đã loại bỏ đinhững biến động mang tính chất tạm thời trong chỉ số giá tiêu dùng CPI Haynói cách khác, lạm phát lõi phản ánh những tác động mang tính dài hạn và ổnđịnh của cầu tới sự biến động trong mức giá cả Lạm phát lõi loại bỏ những biếnđộng hay cú sốc về giá tạm thời của một số mặt hàng trong nền kinh tế như giáthực phẩm hoặc giá năng lượng Bởi nếu chỉ có một cú sốc diễn ra thì mức giáchỉ có thể đột ngột tăng lên trong một thời gian ngắn rồi sẽ lại trở về như cũ, màđiều đó thì không dẫn tới hiện tượng lạm phát Lạm phát lõi được xem là chỉ tiêuquan trọng được NHTW các nước xem xét khi đề ra các chính sách tiền tệ choquốc gia mình Hiện nay, loại lạm phát này đang được nhiều quốc gia trên thếgiới sử dụng như Mỹ, Canada, Nhật Bản…
8
Trang 101.3.3 Căn cứ theo mức độ của tỷ lệ lạm phát
Lạm phát thấp là mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 0.3% đếndưới 10%/năm
Lạm phát cao là mức lạm phát tương ứng với mức độ tăng giá từ hai tới
ba chữ số một năm và loại lạm phát này còn có thể được gọi là lạm phát phi mã,nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát Thực tế, Việt Nam và đa số các nước thựchiện đổi mới cơ chế quản lý, từ kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sangnền kinh tế thị trường đều đã từng phải trải qua thời kì lạm phát phi mã trongnhững năm đầu thực thi công cuộc cải cách
1.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát
Khi một quốc gia có nền kinh tế sản xuất yếu kém, hàng hóa khan hiếm,điều tất yếu xảy ra chính là giá cả tăng Đến một giai đoạn nào đó, nhà nướcphải in những đồng tiền có mệnh lớn để hỗ trợ lưu thông, tránh bất tiện chongười dân khi mua hàng, lúc này lạm phát bắt đầu xảy ra Có nhiều nguyên nhângây ra lạm phát nhưng do cầu kéo và chi phí đẩy là hai nguyên nhân chính
1.4.1 Lạm phát do cầu kéo
Lạm phát xảy ra khi nhu cầu của một hàng hóa tăng mạnh, khiến giá của hàng hóa đó tăng theo Điều này khiến giá cả của những hàng hóa khác trên thị trường tăng theo như “phản ứng dây chuyền” Lạm phát do tăng lên về nhu cầu của thị trường được gọi là lạm phát do cầu kéo
Trang 11Diễn ra do tổng cầu AD tăng nhanh hơn tiềm năng sản xuất của một quốcgia, sẽ gây ra sự tăng giá cả và lạm phát xảy ra.
Khi sản lượng tăng tới Y1, giá tăng từ P đến P (là đoạn lạm phát), lạm0 1phát được coi là do sự tồn tại của mức cầu quá cao
AD tăng có thể do:
- Khu vực tư nhân lạc quan về nền kinh tế, nên tiêu dùng tự định và đầu tư
tự định tưng lên
- Chính phủ tăng chi tiêu
- Ngân hàng trung ương tăng lượng cung tiền
1.4.2 Lạm phát do chi phí đẩy
Các loại chi phí trong quá trình sản xuất như: tiền lương, chi phí nguyênvật liệu, máy móc, thuế, Một khi giá cả của một haowcj một vài yếu tố nàytăng lên thì sẽ tác động làm tăng giá của hàng hóa và dịch vụ nhằm bảo toàn lợinhuận cho công ty Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế tăng lên do nhữngchi phí yếu tố đầu vào tác động được gọi là lạm phát do chi phí đẩy
Xuất phát từ sự sụt giảm trong tổng cung, mà nguyên nhân là do chi phísản xuất của nền kinh tế tăng lên Đường tổng cung dịch chuyển sang trái từ AS0sang AS Kết quả sản lượng sụt giảm từ Y xuống Y , mức giá sẽ tăng từ P lên1 0 1 0P1, nền kinh tế vừa suy thoái vừa lạm phát
Các nhân tố làm tăng chi phí:
10