1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở việt nam

227 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Và Hoàn Thiện Pháp Luật Huy Động Vốn Đầu Tư Xây Dựng Nông Thôn Mới Ở Việt Nam
Người hướng dẫn GS.TS Người Hướng Dẫn Khoa Học 1, TS Người Hướng Dẫn Khoa Học 2
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ Luật Học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 227
Dung lượng 525,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới hạn và trọng tâm của nội dung nghiên cứu: Đề tài có tên gọi bao quát toàn bộ các hoạt động kinh tế- xã hội, xây dựngthể chế được thực hiện nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng: Xây dựn

Trang 1

ĐỀ TÀI

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

ĐỀ TÀI

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số chuyên ngành: 9380107

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học:

HÀ NỘI- 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trìnhnào khác Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được tríchdẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận án này

Tác giả luận án

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đối với GS.TS người hướng dẫn khoa học 1 và TS - người hướng dẫn khoa học 2, đã tận tìnhhướng dẫn tác giả hoàn thành bản Luận án này

-Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, các thầy, cô, anh,chị, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ và đóng góp những ý kiến quýbáu để tác giả có thể hoàn thành được đề tài nghiên cứu của mình

Tác giả luận án

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN vi

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC BIỂU MẪU TRONG LUẬN ÁN vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4

4 Phương pháp nghiên cứu: 6

5 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của Luận án: 7

6 Kết cấu của luận án: 8

PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 9

1 Những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án 9

2 Tổng quan kết quả các công trình liên quan đến đề tài và những vấn đề cần được nghiên cứu trong luận án 40

3 Những câu hỏi cần nghiên cứu và cơ sở lý luận, giả thuyết nghiên cứu 43

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ PHÁP LUẬT HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 46

1.1 Nông thôn mới và huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới 46

1.1.1 Khái niệm nông thôn mới và đầu tư xây dựng nông thôn mới 46

1.1.2 Huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới 49

1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới 58

1.2.1 Khái niệm pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới 58

1.2.3 Các yếu tố chi phối pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới 63

Trang 6

1.2.4 Xu hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng

nông thôn mới 66

1.2.5 Nội dung của pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới 67

1.3 Quá trình hình thành pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới qua các giai đoạn 74

1.3.1 Giai đoạn 1 (2001-2010) 75

1.3.2 Giai đoạn 2 (2011- 2015) 76

1.3.3 Giai đoạn 3 (2016- 2020) 78

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 81

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM 82

2.1 Quy định pháp luật về huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới - Thực trạng và thực tiễn thi hành 82

2.1.1 Các qui định về huy động vốn ngân sách nhà nước 82

2.1.2 Quy định pháp luật về huy động vốn tín dụng 94

2.1.3 Quy định pháp luật về huy động vốn doanh nghiệp 99

2.1.4 Quy định về huy động nguồn lực của người dân và cộng đồng dân cư 107

2.2 Đánh giá định lượng kết quả thực hiện pháp luật về huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới 117

2.2.1 Kết quả huy động vốn đầu tư thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới qua các giai đoạn 117

2.2.2 Kết quả xây dựng pháp luật về huy động nguồn vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới 122

2.3 Pháp luật về huy động vốn xây dựng nông thôn mới ở một số quốc gia và hàm ý đối với Việt Nam 124

2.3.1 Huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới trong chính sách, pháp luật của một số quốc gia 124

2.3.2 Một số hàm ý đối với Việt Nam 134

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 136

Trang 7

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HUY

ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM 137

3.1 Những quan điểm hoàn thiện pháp luật về huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới 137

3.2 Các giải pháp tổng thể hoàn thiện pháp luật về huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới 140

3.2.1 Thể chế hóa kịp thời các chủ trương của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới 140

3.2.2 Đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất của pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới 143

3.2.3 Đảm bảo tính tự chủ của các chủ thể, tính minh bạch trong quan hệ huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới 144

3.3 Những giải pháp cụ thể nâng cao hiệu lực, hiệu quả pháp luật về huy động vốn đầu tư thực hiện xây dựng nông thôn mới 146

3.3.1 Giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật thực định 146

3.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật 175

KẾT LUẬN 178 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Hợp đồng đầu tư theo phương thức đối tác công-tư

17 OECD Organisation for Economic Co-operation and Development

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

Biểu đồ 2.1 Kết quả huy động vốn đầu tư thực hiện chương trình xây dựng nông

thôn mới giai đoạn 2011-2015

117

Biểu đồ 2.2 Kết quả huy động vốn đầu tư thực hiện chương trình xây dựng nông

thôn mới giai đoạn 2016-2020

118

Biểu đồ 2.3 Cơ cấu huy động vốn đầu tư thực hiện chương trình xây dựng nông

thôn mới qua từng giai đoạn.

119

Biểu đồ 2.4 Cơ cấu huy động vốn đầu tư thực hiện chương trình xây

dựng NTM giai đoạn 2011-2020

120

Biểu đồ 2.6 Tỷ lệ đạt tiêu chí kinh tế và tổ chức sản xuất 122

Biểu đồ 2.7 Tỷ lệ ban hành văn bản pháp luật về huy động vốn đầu tư xây dựng

nông thôn mới

123

Trang 10

CÁC PHỤ LỤC TRONG LUẬN ÁN

Phụ lục 01 Một số quy định pháp luật về huy động vốn ngân sách nhà nước phục vụ xây

dựng nông thôn mới

Phụ lục 02 Một số quy định pháp luật về huy động vốn tín dụng phục vụ xây dựng nông

thôn mới

Phụ lục 03 Một số quy định pháp luật về huy động vốn doanh nghiệp phục vụ xây dựng

nông thôn mới

Phụ lục 04 Một số quy định pháp luật về huy động nguồn lực người dân và cộng đồng

dân cư phục vụ xây dựng nông thôn mới

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vốn, thể chế, nguồn nhân lực là những điều kiện cơ bản, cần thiết để đổimới và phát triển nông thôn Trong đó, vốn, nguồn nhân lực là những yếu tố đầuvào của đầu tư phát triển, còn thể chế đóng vai trò định hướng, tạo nền tảng pháp

lý cho hoạt động này Vốn đầu tư cho khu vực nông thôn phụ thuộc rất lớn vàođiều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH), chính trị và thể chế của quốc gia Để cónguồn vốn đầu tư phát triển nông nghiệp (NN), nông thôn (NT), xây dựng nôngthôn mới (NTM), mỗi nước đều có những biện pháp và cách giải quyết khácnhau Xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật huy động vốn đầu tư phát triểnkinh tế nông thôn và xây dựng NTM bền vững là một trong những ưu tiên củacác quốc gia trong phát triển nông nghiệp, nông thôn

Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương khóa

X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã đặt ra mục tiêu tổng thể xây dựng NTM:

“Nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và cáchình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh côngnghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc vănhoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thốngchính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường” Xây dựng NTMhiện nay được cụ thể thành chương trình mục tiêu quốc gia Chương trình mục tiêuquốc gia xây dựng NTM (Chương trình xây dựng nông thôn mới) được ban hànhtrong bối cảnh lịch sử và điều kiện KT-XH cụ thể ở Việt Nam nhằm phát triển toàndiện khu vực nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân

Xây dựng NTM được thực hiện theo nhiều giai đoạn và mỗi giai đoạn cónhững mục tiêu và các tiêu chí cụ thể, có nguồn vốn và cơ chế huy động vốn.Chương trình xây dựng NTM ở Việt Nam hiện có 11 nội dung thành phần với 19tiêu chí được chia thành 5 nhóm Mỗi tiêu chí có một số chỉ số cụ thể và bất cứ xãnào đạt được 19 tiêu chí thì được thừa nhận là NTM Nguồn vốn đầu tư cho Chươngtrình được huy động từ ngân sách nhà nước (NSNN), vốn tín dụng, vốn doanh

Trang 12

nghiệp, nguồn lực của người dân và cộng đồng dân cư (CĐDC) Với ý nghĩa đó,xây dựng NTM được xác định là một chương trình phát triển nông thôn quốc gia dàihạn Chương trình cần có nguồn vốn đầu tư phù hợp và thể chế, chính sách nhất là

hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất và khả thi để thực hiện

Kết quả xây dựng NTM ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã thể hiện sự nỗ lựccủa nhà nước và xã hội trong việc huy động nguồn lực đầu tư xây dựng NTM Cả nước

đã huy động được 2.967.057 tỷ đồng.Trong đó, vốn NSNN 811.298 tỷ đồng (28,35%),vốn tín dụng1.760.807 tỷ đồng (56,9%), vốn doanh nghiệp 147.738 tỷ đồng (5%),CĐDC 246.475 tỷ đồng (9,6%) Nợ đọng xây dựng NTM 15,2 nghìn tỷ cơ bản đãđược xử lý Đến hết quý I năm 2020, cả nước có 5.064 xã đạt chuẩn xã NTM, 124 đơn

vị cấp huyện đạt huyện NTM, 9 địa phương cấp tỉnh đạt tỉnh NTM1.Tuy nhiên, kết quảđạt được so với tiềm lực thì còn có những hạn chế nhất định

Một là: kết quả xây dựng NTM chưa bền vững, nông thôn phát triển chưa

đồng đều, còn chênh lệch lớn về kết quả xây dựng NTM giữa các địa phương, vùng,miền2, nhiều nơi chưa chú trọng đúng mức đến phát triển sản xuất, tạo sinh kế, xâydựng đời sống văn hoá; ô nhiễm môi trường nông thôn gia tăng; một số vấn đề xãhội phức tạp phát sinh ở nhiều địa phương3 Điều kiện kinh tế - xã hội ở khu vựcnông thôn còn khó khăn, nhiều nơi đạt chuẩn NTM nhưng kinh tế nông thôn chưaphát triển, đời sống người dân còn khó khăn Nguyên nhân là do thiếu vốn ngânsách trong lúc huy động vốn ở những nơi đó gặp nhiều khó khăn

Hai là: đầu tư cho xây dựng NTM cần nguồn vốn lớn nhưng lượng vốn huy

động được chưa đáp ứng yêu cầu trong khi vốn NSNN còn hạn chế, vốn tín dụng

1 Ban Chỉ đạo trung ương các chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020 (2020), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, Bộ

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hà Nội, tr 6-7.

2 Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới có sự chênh lệch giữa các vùng, nhiều vùng đã hoàn thành các

hạ tầng cơ bản và tỷ lệ số xã hoàn thành cao như vùng Đồng bằng sông Hồng (83,37%), Đông Nam Bộ (69,89%) trong đó nhiều vùng hạ tầng còn rất yếu kém, mức độ các xã đạt chuẩn rất thấp so với trung bình chung cả nước, đặc biệt là các vùng dân tộc, miền núi: miền núi phía Bắc (26,45%), Tây Nguyên (37,73%) (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019).

3 Nghị quyết số 19/NQ-TW ngày 16 tháng 6 năm 2020, Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Trang 13

nhà nước có hạn Vốn doanh nghiệp đầu tư cho chương trình NTM rất thấp, chưatương xứng với tiềm năng có thể huy động Đóng góp của người dân và CĐDC chiếm

tỷ lệ rất thấp, nhất là giai đoạn sau của các dự án xây dựng NTM ở các địa phương

Ba là: thể chế về phát triển NN, NT, đặc biệt là yếu tố pháp luật mới ở giai

đoạn hình thành nền tảng Hiện tại chưa có văn bản luật nào về phát triển NN, NTđược ban hành để tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các chươngtrình, dự án xây dựng NTM Huy động nguồn lực đầu tư cho NTM phụ thuộc vàoviệc áp dụng quy định của các văn bản pháp luật chuyên ngành và chính sáchkhuyến khích đầu tư phát triển NN, NT Tuy nhiên, các luật chuyên ngành liên quantrực tiếp đến hoạt động thu hút đầu tư cho khu vực nông thôn chậm được sửa đổi,

bổ sung để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, thiếu nguồn lực thực hiện nhất là về đấtđai, đầu tư, tín dụng, bảo hiểm, tổ chức sản xuất Thực tế này dĩ nhiên tác động tiêucực đến huy động vốn đầu tư cho xây dựng NTM Vốn NSNN đầu tư xây dựngNTM chủ yếu là các khoản chi ngân sách (chi thường xuyên, chi đầu tư), hỗ trợ từNSNN Hiệu quả thu hút, sử dụng vốn đầu tư xã hội cho phát triển NN, NT chưacao Cơ chế huy động vốn tín dụng chưa thực sự phù hợp song chậm được thay đổi,

bổ sung Chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho NTM chỉ làhiệu ứng của chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào NN, NT Các quy địnhpháp luật về huy động đóng góp của người dân và CĐDC chưa đầy đủ, thiếu thốngnhất đồng bộ dẫn đến việc áp dụng sai, gây lạm thu cũng như tiêu cực ở nhiều nơi

Nợ đọng xây dựng NTM đã xảy ra ở hầu hết các địa phương Thực tế này đòi hỏiphải có cơ chế huy động vốn phù hợp, khả thi, tạo nền tảng pháp lý cho việc huyđộng vốn đầu tư xây dựng NTM lâu dài, bền vững

Trong bối cảnh nêu trên, nghiên cứu các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luậthuy động vốn đầu xây dựng NTM cần thiết cả về lý luận và thực tiễn Về lý luận, Luận

án cung cấp những luận điểm khoa học cho việc xây dựng pháp luật về huy động vốnđầu tư xây dựng NTM Đây là lĩnh vực mới và khá phức tạp, rất thiếu những nền tảng

lý luận cần thiết Về thực tiễn, những giải pháp hoàn thiện pháp luật về huy động vốnđầu tư xây dựng NTM mà Luận án đưa ra sẽ giúp khắc phục những hạn chế, bất cập

Trang 14

trong thực tiễn Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và hoànthiện pháp luật về huy động vốn đầu tư xây dựng NTM ở Việt Nam, nghiên cứu sinhchọn vấn đề này làm đề tài Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là nghiên cứu tổng thể hệ thống thể chế, chính sáchpháp luật về huy động vốn đầu tư xây dựng NTM thông qua việc hệ thống hóa vàphân tích các quan điểm lý luận về huy động vốn đầu tư và pháp luật huy động vốnđầu tư xây dựng NTM, đánh giá thực trạng pháp luật về huy động các nguồn vốn, từ

đó đề xuất giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về huy động vốn đầu tư xâydựng NTM cũng như nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành

Để đạt được mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ cụ thể của Luận án là:

- Thu thập, hệ thống hóa và phân tích các quan điểm lý luận về đầu tư vàpháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM trong các công trình nghiên cứutrong và ngoài nước, kinh nghiệm của một số nước có nhiều thành công trong việcxây dựng NTM, từ đó đánh giá những hàm ý cần tham khảo đối với Việt Nam Luận

án đặt nhiệm vụ hình thành các khái niệm liên quan đến nội hàm pháp luật huyđộng vốn đầu tư xây dựng NTM, xác định các nhân tố chi phối, nội dung, hình thứcpháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM

- Đánh giá những thực trạng xây dựng NTM ở Việt Nam ở khía cạnh xâydựng và thực hiện thể chế huy động vốn xây dựng NTM, phân tích đánh giá ưuđiểm, hạn chế của thể chế chính sách pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTMdựa trên các khảo sát định tính, định lượng

- Xác định định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về huy động vốnđầu tư xây dựng NTM ở Việt Nam dựa trên toàn bộ những kết quả nghiên cứu lýluận về pháp luật huy động vốn xây dựng NTM và thực tiễn thi hành trong quá trìnhthực hiện Chương trình xây dựng NTM ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 15

Huy động vốn đầu tư xây dựng NTM và pháp luật điều chỉnh các hoạt độngnày rất rộng, phức tạp và liên kết với nhau khá chặt chẽ Huy động vốn được thựchiện dưới nhiều phương thức khác nhau, từ những chủ thể khác nhau, theo nguyêntắc tự nguyện hay bắt buộc, mức huy động cũng như các quy trình, thủ tục thực hiệnđều là đối tượng điều chỉnh của pháp luật.Trong Luận án này, đối tượng nghiên cứuđược giới hạn ở yếu tố pháp luật và thi hành pháp luật trong thể chế huy động vốnxây dựng NTM Cụ thể, Luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề cụ thể sau:

- Các chính sách là nền tảng của pháp luật huy động vốn xây dựng NTM

- Các quan điểm lý luận về huy động vốn xây dựng NTM, nội hàm của phápluật về huy động vốn xây dựng NTM và thực tiễn thi hành ở Việt Nam

- Các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật huy động vốn xây dựng NTM

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian, Luận án giới hạn các quan điểm lý luận về pháp luật thu hútvốn đầu tư xây dựng NTM ở Việt Nam và một số quốc gia có chọn lọc dựa vào sựthành công của xây dựng NTM ở các nước có phong trào phát triển nông thôn trongcộng đồng gồm Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản; các nước phát triển như Mỹ,Anh và một số quốc gia khác thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)

Phạm vi về thời gian, luận án tập trung nghiên cứu hệ thống chính sách phápluật về huy động nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM giai đoạn từ năm 2011 đến nay

Giới hạn và trọng tâm của nội dung nghiên cứu:

Đề tài có tên gọi bao quát toàn bộ các hoạt động kinh tế- xã hội, xây dựngthể chế được thực hiện nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng: Xây dựng nông thônmới với các tiêu chí xác định trong chương trình cũng như trong chính sách, phápluật hiện hành.Tuy nhiên, trong khuôn khổ Luận án Tiến sỹ Luật học, tác giả giớihạn nghiên cứu trong phạm vi pháp luật về huy động vốn xây dựng NTM Chính vìvậy Luận án đề cập đến “chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM”, nguồnvốn, cơ chế, chính sách huy động vốn đầu tư để thực hiện mục đích cuối cùng làxây dựng NTM Việc làm rõ hơn vấn đề lý luận, thực tiễn pháp luật về huy độngvốn đầu tư thực hiện chương trình MTQG xây dựng NTM là nhằm mục đích góp

Trang 16

phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật đối với hoạt động này Luận án khôngnghiên cứu các khía cạnh khác của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM.

Trọng tâm nghiên cứu là các quy định pháp luật về huy động vốn đầu tư xâydựng NTM và việc thi hành trong thực tiễn Các nội dung liên quan đến chính sách,thành tựu thực hiện chương trình MTQG xây dựng NTM được đề cập như là nhữngminh chứng cho kết quả xây dựng và thi hành pháp luật về huy động vốn đầu tư xâydựng NTM

Nguồn vốn đầu tư cho xây dựng NTM được đề cập trong luận án là vốn bằngtiền, tài sản, hiện vật, đất đai, sức lao động được quy đổi thành tiền theo quy địnhcủa pháp luật hiện hành

4 Phương pháp nghiên cứu:

Việc triển khai các nội dung nghiên cứu của Luận án được thực hiện theo cách tiếpcận và những phương pháp khác nhau căn cứ vào nội hàm của từng vấn đề nghiên cứu

4.1 Cách tiếp cận

Luận án sử dụng cách tiếp cận toàn diện theo đó các vấn đề cần nghiên cứuđược phân tích đánh giá đa chiều, tức là cả từ góc độ lý luận lẫn thực tiễn, từ góc độkinh tế lẫn pháp luật, từ các tác động tích cực lẫn tiêu cực với trọng tâm được xácđịnh căn cứ vào nội hàm cụ thể của vấn đề nghiên cứu Bên cạnh đó, Luận án sửdụng cách tiếp cận kinh tế luật để nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến hiệu quảpháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới

4.2 Các phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp phân tích Phương pháp này được sử dụng trong phần lớncác nội dung của Luận án Phương pháp phân tích được sử dụng để nhận diện vàlàm rõ các quan điểm về nông thôn mới, về huy động vốn xây dựng NTM, các môhình xây dựng NTM từ góc độ khoa học pháp lý Phương pháp phân tích cũng được

sử dụng để đánh giá hiệu quả pháp luật về huy động vốn xây dựng NTM trên cơ sởcác số liệu, các tình huống cụ thể liên quan đến xây dựng NTM

2 Phương pháp luật học so sánh Phương pháp này được sử dụng để nghiêncứu các mô hình xây dựng NTM ở các quốc gia với trọng tâm là pháp luật huy động

Trang 17

vốn để xây dựng thành công NTM mới ở các quốc gia được lựa chọn Phương phápluật học so sánh được sử dụng để đánh giá khả năng áp dụng ở Việt Nam các kinhnghiệm pháp luật của các quốc gia được lựa chọn dựa trên những so sánh về điềukiện kinh tế, xã hội, truyền thống của các quốc gia này.

3 Phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê được sử dụng để thu thập,

hệ thống hóa số liệu về xây dựng NTM, số liệu và thông tin về các hoạt động xâydựng NTM và đặc biệt là về phương thức, kết quả cụ thể của việc huy động vốn vìmục đích này Phương pháp tổng hợp, thống kê được sử dụng để phác họa các biểu

đồ, bảng số liệu để minh họa cho các nội dung nghiên cứu cụ thể

4 Phương pháp khái quát hóa Luận án sử dụng phương pháp này để kháiquát các phân tích, đánh giá thực tiễn, lý luận về pháp luật huy động vốn đầu tư xâydựng NTM thành những định hướng, những giải pháp để huy động hiệu quả vốncho xây dựng NTM từ đó chuyển hóa chúng thành các nguyên tắc hay các quy định

cụ thể của pháp luật

5 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của Luận án:

Luận án có những đóng góp về khoa học sau đây:

Thứ nhất, Luận án đã bổ sung vào khoa học pháp lý của đất nước một số

quan điểm khoa học về NTM, về phương thức điều chỉnh pháp luật đối với hoạtđộng huy động vốn đầu tư xây dựng NTM Đóng góp này thực sự có ý nghĩa khivấn đề NTM, xây dựng NTM chưa được nghiên cứu nhiều từ góc độ luật học vàpháp luật huy động vốn để xây dựng NTM chưa có được vị trí rõ ràng trong hệthống pháp luật hiện nay

Thứ hai, Luận án sử dụng phương pháp phân tích để đưa ra các bình luận

quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về huy động các nguồn vốn đầu tư xâydựng NTM Cung cấp những đánh giá định tính, định lượng về thực trạng pháp luậthuy động nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM, giúp hình thành những căn cứ thực tiễncho việc hoàn thiện thể chế phát triển nông thôn ở Việt Nam

Thứ ba, Luận án cung cấp những thông tin tin cậy về xây dựng NTM cũng

như pháp luật về huy động vốn để thực hiện hoạt động này ở một số quốc gia được

Trang 18

lựa chọn dựa trên tiêu chí thành công và tiêu chí có sự tương thích về điều kiện vớiViệt Nam Từ đó, nêu ra những bài học kinh nghiệm có thể chọn lọc, tiếp thu để ápdụng phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam Những thông tin này có giá trị thamkhảo nhất định đối với các cơ quan chức năng trong việc xây dựng chính sách, phápluật về phát triển NN, NT và xây dựng NTM ở Việt Nam.

Thứ tư, Luận án đã sử dụng phương pháp so sánh luật với pháp luật về đầu tư

cho NN, NT của các quốc gia điển hình như Mỹ, Nhật, Úc, Trung Quốc, Hàn Quốc

để làm rõ mức độ xây dựng thể chế, chính sách thu hút đầu tư của doanh nghiệp,người dân và CĐDC cho phát triển khu vực nông thôn ở Việt Nam

Thứ năm, Luận án đưa các định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về

huy động vốn đầu tư xây dựng NTM ở Việt Nam để nâng cao hiệu quả huy độngvốn đầu tư xây dựng NTM, coi đó là công cụ chủ yếu để thực hiện vai trò vừa làchủ thể quản lý phát triển kinh tế xã hội vừa là chủ thể tham gia hoạt động huy động

và sử dụng vốn hiệu quả

6 Kết cấu của luận án:

Ngoài Phần mở đầu, Tổng quan tình hình nghiên cứu, Kết luận, Danh mụctài tiệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án được cơ cấu thành 3chương với các nội dung cụ thể sau:

Chương 1.Những vấn đề lý luận về huy động vốn đầu tư xây dựng nông thônmới và pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới

Chương 2.Thực trạng pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ởViệt Nam

Chương 3 Giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tưxây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

Trang 19

PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1 Những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án 1.1 Nghiên cứu lý luận về xây dựng nông thôn mới và huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới

1.1.1 Nghiên cứu lý luận về xây dựng nông thôn mới

Xây dựng NTM ít được nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu phápluật mà chủ yếu trong các ngành khoa học khác như phân tích chính sách, kinh tế,khoa học quản lý, lịch sử phát triển, kinh tế chính trị, triết học Dưới đây là một sốnghiên cứu điển hình cần kể đến

Công trình “Analysis of “Saemaul ungdong” A Korean Rural Development

Programme in the 1970s” (Phân tích của Saemaul ungdong: chương trình phát triển

nông thôn của Hàn Quốc trong những năm 1970) của tác giả Sooyoung Park (Tạpchí Phát triển Châu Á- Thái Bình Dương Tập 16, số 2, tháng 12 năm 2009) rất đángchú ý Trong công trình này, tác giả phân tích, đánh giá thành công của mô hìnhNTM “Saemaul Ungdong” được dịch là “làng mới” của Hàn Quốc của những năm

1970 nhờ vào việc thực hiện các chiến lược cơ bản về giảm nghèo thích ứng - thúcđẩy cơ hội và tạo điều kiện trao quyền cho người dân nông thôn và đề xuất áp dụng

mô hình này ở các nước đang phát triển trong khu vực Theo đó, “làng mới” là mộtphong trào đổi mới phát triển nông thôn chủ yếu dựa vào cộng đồng nhằm thu hẹpkhoảng cách phát triển giữa đô thị và nông thôn Mô hình xây dựng NTM của HànQuốc được bắt đầu từ 16 dự án thiết yếu nhất như: đường giao thông nông thôn,công trình cấp nước sạch, vệ sinh môi trường, sửa chữa nhà tạm, nhà sinh hoạt cộngđồng Bài học quan trọng nhất rút ra từ Saemaul Undong là đã đề ra các chiến lược

và biện pháp huy động nguồn lực phù hợp với bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội

cụ thể Khuyến nghị các nước đang phát triển nghiên cứu kỹ tình hình cụ thể và đưa

ra các giải pháp khả thi thiết thực cho riêng mình

Luận án tiến sĩ quản lý hành chính (2012), “Modernization Campaigns and

Peasant Polities in China, Taiwan and South Korea” (Phát triển nông thôn: Các

chiến dịch hiện đại hóa và chính sách nông dân ở Trung Quốc, Đài Loan và Hàn

Trang 20

Quốc) của tác giả Looney, Kristen (Đại học Harvard, 2012), phân tích mô hình lýthuyết về phát triển nông thôn ở Đông Á thông qua việc nghiên cứu sự phát triểnnông thôn của Đài Loan, Hàn Quốc và phong trào xây dựng NTM xã hội chủ nghĩacủa Trung Quốc Xây dựng NTM được mô tả như một chính sách xóa bỏ mô hìnhlạc hậu ở nông thôn trước đây để xây dựng mô hình NTM với kinh tế - xã hội pháttriển, thu nhập người dân ngày càng tăng Nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự thành công

và thất bại của các chính sách phát triển nông thôn các nước Đông Á Nhờ cácchính sách đúng đắn cho phát triển cho khu vực nông thôn ở Đài Loan và Hàn Quốctrong những thập niên 60-80, nông thôn đã trở nên mạnh mẽ, năng động, linh hoạt,

có sức sản xuất cao, có tính cạnh tranh mạnh mẽ, sản xuất hàng hóa phát triển manglại giá trị kinh tế Nghiên cứu cho rằng sự trị trệ trong chính sách cải cách đất đaicũng là những hạn chế trong phát triển nông thôn Khẳng định cải cách về đất đai làcần thiết, xác định vai trò của Chính phủ và huy động sự tham gia của tổ chức nôngdân là rất quan trọng để phát triển nông thôn các nước4 Theo quan điểm của tác giả,xây dựng NTM được thực hiện ở các thôn làng, với tư cách là một khu tự trị, tựquản và cải cách chính sách phát triển khu vực nông thôn là rất cần thiết để thựchiện mô hình NTM Nhìn chung các chính sách chuyển đổi và phát triển nông thôncác nước cũng hết sức đa dạng, và tạo ra sự khác biệt lớn về nông thôn và nôngnghiệp ở các quốc gia này

Luận án tiến sĩ triết học “Saemaul undong (new village movement) in Korea

a strategy for citizen participation in rural community development” (Phong trào

làng mới ở Hàn Quốc chiến lược tham gia của người dân trong phát triển cộng đồngnông thôn) của tác giả Sang Yoon Rhee (Đại học Nam California, 1985), nghiên cứu

về phong trào “làng mới” củả Hàn Quốc với chiến lược tham gia của người dân vì

sự phát triển của cộng đồng Luận án đưa ra những đánh giá về sự đóng góp củaphong trào làng mới cho sự phát triển của một nền dân chủ với sự tham gia của cộngđồng dân cư nông thôn Theo tác giả, “làng mới” với ý nghĩa là dự án phát triển nông

4 Looney, Kristen (2012), Modernization Campaigns and Peasant Polities in China, Taiwan and South Korea,

Doctoral dissertation, Harverd University, tr.17, 26.

Trang 21

thôn được thiết kế cơ bản để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, cải thiệnđiều kiện sống của người dân và thay đổi hành vi thông qua tự lực và hợp tác

Nghiên cứu “Modularization of Korea’s Development Experience: New

Research on Saemaul Undong: Lessons and Insights from Korea’s Development Experience” (Hiện đại hóa kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc: nghiên cứu phong

trào làng mới: bài học và hiểu biết sâu sắc từ kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc)của Bộ Chiến lược và Tài chính Hàn Quốc, 2013, tập hợp các bài viết của các tác giả

về bài học kinh nghiệm sâu sắc từ phát triển nông thôn của Hàn Quốc Các nhà nghiêncứu xây dựng quan điểm “làng mới” là phong trào phát triển nông thôn được thực hiệntrên một nền dân chủ có sự tham gia tích cực của người dân Người dân được traoquyền tự chủ thể hiện sáng kiến, tự mình quyết định và quản lý các dự án phát triểncộng đồng của chính phủ tại các thôn làng, tạo ra một cộng đồng tự lực, được trao cơhội bình đẳng thông qua giáo dục Theo phong trào, dân làng được yêu cầu làm việctập thể, hợp tác trong việc đưa ra quyết định và giải quyết xung đột, hình thành cơ sởthể chế để quản lý lãnh đạo của làng xã, cơ cấu hiệp hội, HTX nông nghiệp Điều này

đã tạo ra ý thức về quyền sở hữu của người dân trong sự phát triển của cộng đồng vàđóng góp vào nguồn lực cộng đồng từ đó thúc đẩy khả năng huy động hiệu quả sựtham gia tích cực của người dân Chính phủ đã nỗ lực trong việc thực hiện chính sáchcải cách quản lý thuế đồng thời với các chính sách phát triển nông thôn Với chính sáchcải cách thuế, thu nhập từ thuế tăng mạnh như một phần của GNP đảm bảo sự lànhmạnh về tài chính, ổn định vĩ mô để Chính phủ theo đuổi chính sách phát triển côngnghiệp và nông thôn, đầu tư cho giáo dục và cơ sở hạ tầng5

Mô hình NTM được xây dựng ở Trung Quốc với tên gọi đầy đủ là “Nông

thôn mới xã hội chủ nghĩa” Khái niệm “nông thôn mới” đã được đề cập đến trong

nhiều công trình nghiên cứu khác nhau ở Trung Quốc từ thập niên 50 của thế kỷ XX

đến nay Công trình “Lý luận, thực tiễn và các chính sách xây dựng nông thôn mới

Trung Quốc” do dịch giả Cù Ngọc Hưởng biên dịch (Trung tâm phát triển nông

5 Joon -Kyung Kim and KS.Kim (2013, Modularization of Korea's Development Experience: Why the Saemaul Undong is So Important to Understanding Korea’s Social and Economic, Ministry of Strategy and

Finance (MOSF), Korea Saemaul Undong Center, KDI School, tr 29.

Trang 22

thôn- Dự án MISPA, 2006) đã xây dựng khái niệm NTM, phân tích chức năng độnglực về xây dựng NTM Theo đó, “NTM trước tiên phải là nông thôn chứ không phải

là thị tứ” Từ “mới ” trong cụm từ “xây dựng nông thôn mới” được chỉ rõ, đó là:xây dựng kế hoạch mới, kiến thiết làng xã mới, phát triển ngành nghề mới, đào tạotầng lớp nông dân mới, tạo nên diện mạo mới, hình thành sức mạnh tổng hợp mới

và áp dụng cách làm mới6 Mục tiêu của xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa TrungQuốc là “sản xuất phát triển, đời sống ấm no, làng xã văn minh, diện mạo sạch đẹp,quản lý dân chủ” Nghiên cứu đã tập hợp và phân tích chính sách, kiến nghị tăngcường đầu tư của chính phủ vào các dịch vụ công nông thôn, tăng cường lợi ích củadoanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng NTM, chỉ ra hạn chế, tồn tại của cơ chếchính sách và sự cần thiết phải pháp chế hóa các biện pháp hỗ trợ xây dựng NTM ởTrung Quốc

Ở Việt Nam, thuật ngữ “nông thôn mới” được nêu ra từ Đại hội Đảng toànquốc lần thứ III (1960) Tuy nhiên, chỉ sau khi Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày5/8/2008, xây dựng NTM mới thực sự bắt đầu và chính thức trở thành một Chươngtrình MTQG triển khai trong phạm vi toàn quốc Chương trình MTQG xây dựngNTM được coi là mô hình xây dựng NTM của Việt Nam đến thời điểm hiện nay.Cũng từ đây, các nghiên cứu lý luận, thực tiễn xây dựng NTM được thúc đẩy Dướiđây là một số công trình điển hình cần kể:

1.1.2 Nghiên cứu về huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới

Bài “Huy động nguồn lực xã hội và phát huy vai trò của người dân trong tạo

lập và duy trì các kết quả xây dựng nông thôn mới” của tác giả Bùi Thị Kim nêu

quan điểm về NTM là quá trình phát triển liên tục không ngừng nghỉ Sau khi thựchiện xong Bước 4, người dân lại tiếp tục bắt đầu lại Bước 1 với một hoàn cảnh mới.Mỗi giai đoạn xây dựng NTM có thể được đặt cho một cái tên khác nhau, nhưngcần đảm bảo giai đoạn sau sẽ phát triển và tiến bộ hơn giai đoạn trước Về huy độngvốn đầu tư xây dựng NTM, tác giả cho rằng: xây dựng NTM không chỉ bao gồmviệc huy động các nguồn lực xã hội để tạo ra các kết quả theo các tiêu chí của

6 Cù Ngọc Hưởng (2006), “Lý luận, thực tiễn và các chính sách xây dựng nông thôn mới Trung Quốc”, Trung tâm phát triển nông thôn – Dự án MISPA, tr 9.

Trang 23

NTM Do nguồn lực có giới hạn, để tránh lãng phí và tham nhũng, nhất thiết phảiphát huy vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM Chỉ có người dân mớiđảm bảo được việc tạo lập các kết quả một cách hiệu quả và tiết kiệm, duy trì vàphát triển kết quả NTM do chính họ tạo ra một cách bền vững7.

Trong Luận án tiến sỹ của Đoàn Thị Hân về “Huy động và sử dụng các

nguồn lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại các tỉnh trung du và miền núi phía bắc Việt Nam” (Viện Quản lý kinh tế Trung ương, 2017)

cho rằng “nông thôn mới” là thuật ngữ chỉ chung cho phong trào phát triển nôngthôn trong cộng đồng ở một số quốc gia, khái niệm NTM có nội hàm và phạm virộng Tùy theo mục tiêu phát triển nông thôn, mỗi nước lại xây dựng mô hình cụ thểvới tên gọi đặc trưng Tác giả luận án nêu một số khái niệm về NTM như: “Nôngthôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôntheo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, làkiểu nông thôn được xây dựng tiên tiến về mọi mặt so với mô hình nông thôn cũ”8

Luận án tiến sĩ của Lê Sĩ Thọ “Huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hà Nội” (Học viện Tài chính, 2016) cho

rằng khái niệm nông thôn mới được xây dựng trên nền tảng khái niệm nông thôn,việc xây dựng khái niệm NTM được khái quát hóa như sau: “Nông thôn mới lànông thôn với những tiêu chí nhận diện cụ thể, tiến bộ về kinh tế, chính trị, xã hội,

là kết quả của quá trình cải biến nông thôn từ nghèo nàn lạc hậu sang văn minh,hiện đại và phát triển”9

Trong Đề tài “Nghiên cứu đổi mới chính sách để huy động và quản lý các

nguồn lực tài chính phục vụ xây dựng nông thôn mới”, TS.Vũ Nhữ Thăng và các

thành viên cho rằng: xây dựng NTM là nhằm tạo ra những giá trị mới của nông thôn

7 Bùi Thị Kim (2019), “Huy động nguồn lực xã hội và phát huy vai trò của người dân trong tạo lập và duy trì các kết quả xây dựng nông thôn mới”, Kỷ yếu Hội thảo lý luận và thực tiễn trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, tr 15-17.

8 Đoàn Thị Hân, (2017), Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại các tỉnh trung du và miền núi phía bắc Việt Nam, Viện quản lý Kinh tế Trung ương, tr 25.

9 Lê Sĩ Thọ, (2016), Huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới trên địa bàn Hà Nội, Học

Viện Tài chính, tr.21.

Trang 24

Việt Nam, đó là một nông thôn hiện đại hàm chứa những giá trị kinh tế mới trên cơ

sở hạ tầng hiện đại, sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đờisống vật chất tinh thần của người dân nông thôn ngày càng cao, bản sắc văn hóa dântộc được giữ gìn và phát triển, xã hội nông thôn an ninh tốt, phát huy dân chủ caotrong xây dựng NTM10.Theo đó, Chương trình xây dựng NTM ở Việt Nam đượcban hành là một chương trình khung toàn diện để cộng đồng chung tay xây dựngmột NTM hiện đại

Trong Luận án tiến sỹ “Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính thực

hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại các tỉnh trung du và miền núi phía bắc Việt Nam”, Đoàn Thị Hân (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, 2017)

cho rằng nguồn lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng NTM được huy động

từ mọi đối tượng trong toàn xã hội Ban đầu có sự hỗ trợ từ nguồn NSNN, sau đó là

có sự tham gia đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội, các tổchức tín dụng, từ người dân và một số nguồn ngoài ngân sách khác Tác giả đưa rakhải niệm: “Huy động nguồn lực tài chính thực hiện thông qua các chính sách, biệnpháp và các hình thức mà Nhà nước, các tổ chức xã hội đưa ra và áp dụng nhằmchuyển các nguồn lực từ dạng tiềm năng thành các quỹ để sử dụng cho xây dựngnông thôn mới”11 Chỉ ra, nguồn lực huy động để thực hiện Chương trình xây dựngNTM gồm: Ngân sách nhà nước (gồm ngân sách trung ương và ngân sách địaphương); Vốn tín dụng; Vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác; Đónggóp của cộng đồng dân cư Tuy nhiên, trong luận án này, tác giả Đoàn Thị Hânkhông xây dựng khái niệm vốn đầu tư xây dựng NTM, nguồn lực tài chính cho xâydựng NTM được đề cập với ý nghĩa là nguồn vốn

Luận án tiến sĩ của Lê Sĩ Thọ “Huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hà Nội” (Học viện Tài chính, 2016) đã xây

dựng được khái niệm, đặc điểm của vốn đầu tư xây dựng CSHT nông thôn mới.Theo Lê Sỹ Thọ “Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng NTM là tất cả các nguồn lực

10 Vũ Nhữ Thăng, (2015), Nghiên cứu đổi mới chính sách để huy động và quản lý các nguồn lực tài chính phục vụ xây dựng nông thôn mới, Viện chiến lược và chính sách tài chính, tr11.

11 Đoàn Thị Hân, (2017), Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại các tỉnh trung du và miền núi phía bắc Việt Nam”, Viện quản lý Kinh tế Trung ương, tr 33.

Trang 25

(của cải vật chất, sức lao động, tài nguyên thiên nhiên ) được biểu hiện bằng tiền

và được sử dụng để xây dựng CSHT nông thôn theo định hướng xây dựng nôngthôn mới”12 Theo đó, nguồn vốn huy động để đầu tư CSHT nông thôn mới đượchuy động từ NSNN, vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp, người dân, CĐDC thông quacác cơ chế huy động cụ thể Công tác quản lý vốn phức tạp, khả năng thất thoát lãngphí vốn lớn Đặc điểm của đầu tư xây dựng NTM nguồn vốn lớn, thời gian đầu tưdài, thu hồi vốn chậm Đối tượng trực tiếp thụ hưởng vốn đầu tư xây dựng CSHTnông thôn mới là người dân và cộng đồng địa phương.Tác giả nhấn mạnh giải pháphuy động vốn thông qua cơ chế, chính sách nhưng chưa phân tích sâu các chínhsách huy động vốn và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cụ thể

Luận án tiến sĩ của Hoàng Ngọc Hà “Huy động và sử dụng các nguồn lực tài

chính cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” (Đại học Thương

mại, 2018) đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý huy động,

sử dụng các nguồn lực tài chính đầu tư cho xây dựng NTM ở Hà Tĩnh Luận án đãxây dựng khái niệm nguồn lực tài chính xây dựng NTM là nguồn vốn tiền tệ (hoặctài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền), được hình thành từ các quan hệ tàichính trong nền kinh tế, được huy động và sử dụng nhằm hoàn thành các tiêu chíxây dựng NTM; phân tích đặc điểm, vai trò của nguồn lực tài chính, công cụ quản

lý huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng NTM Nhấn mạnhviệc huy động nguồn lực tài chính xây dựng NTM thông qua cơ chế, chính sáchpháp luật như cơ chế đầu tư trực tiếp, liên doanh, liên kết thông qua các hình thứcBOT, BT, BTO đầu tư theo mô hình hợp tác công-tư (PPP) Huy động nguồn lựctài chính của người dân thông qua cơ chế huy động đóng góp tự nguyện13 Ở côngtrình này, tác giả cũng chưa tập trung đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách huyđộng nguồn lực tài chính cụ thể

Trong Luận án Tiến sĩ “Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính thực

hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam” (Đại học Lâm nghiệp, 2017), Đoàn Thị Hân đã xây dựng khái niệm:

12 Lê Sĩ Thọ, (2016), Huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới trên địa bàn Hà Nội”,

Học Viện Tài chính, tr 29.

13 Hoàng Ngọc Hà, (2018), Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”, Đại học Thương mại, tr.27.

Trang 26

“Nguồn lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng NTM là nguồn lực được huyđộng từ các đối tượng trong xã hội bằng những phương thức phù hợp, được sửdụng để thực hiện chương trình NTM theo các quy định” Định nghĩa này chưathực sự phản ánh được đặc trưng của nguồn lực tài chính thực hiện chương trìnhxây dựng NTM Tác giả cũng chỉ ra rằng cơ chế huy động nguồn lực tài chính xâydựng chương trình NTM được huy động thông qua các văn bản pháp luật của nhànước Vốn NSNN phân bổ cho xây dựng NTM được thực hiện theo cơ chế quản lýNSNN và các văn bản pháp luật có liên quan; cơ chế hợp tác công - tư (PPP) trongxây dựng và phát triển hệ thống CSHT, cơ chế đóng góp từ cộng đồng theo nguyêntắc tự nguyện: góp tiền, góp công, hiến đất hoặc người dân tự đầu tư bằng cáchnâng cấp nhà cửa14

Luận án Tiến sĩ của Lý Văn Toàn “Huy động vốn cho xây dựng nông thôn

mới ở tỉnh Thái Nguyên” (Đại học Thái Nguyên, 2017) coi nguồn vốn đầu tư thực

chất là nguồn lực tài chính.“Nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM là các nguồn lựcđược hình thành từ các quan hệ tài chính trong nền kinh tế, được biểu hiện bằngtiền, được huy động và sử dụng để đầu tư xây dựng nông thôn theo định hướngNTM”15, phân tích đặc điểm của vốn xây dựng NTM, yếu tố ảnh hưởng đến việchuy động và sử dụng vốn, nêu các cơ chế, chính sách huy động các nguồn vốn

Luận án Tiến sĩ của Lý Văn Toàn “Huy động vốn cho xây dựng nông thôn

mới ở tỉnh Thái Nguyên” (Đại học Thái Nguyên, 2017) coi nguồn vốn đầu tư thực

chất là nguồn lực tài chính.“Nguồn vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới là cácnguồn lực được hình thành từ các quan hệ tài chính trong nền kinh tế, được biểuhiện bằng tiền, được huy động và sử dụng để đầu tư xây dựng nông thôn theo địnhhướng NTM”16, phân tích đặc điểm của vốn xây dựng NTM, yếu tố ảnh hưởng đếnviệc huy động và sử dụng vốn, nêu các cơ chế, chính sách huy động các nguồn vốn

14 Đoàn Thị Hân, (2017), Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại các tỉnh trung du và miền núi phía bắc Việt Nam, Viện quản lý Kinh tế Trung ương, tr 33, 37.

15 Lý Văn Toàn (2017), Huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thái Nguyên, Đại học Thái

Nguyên, tr 32.

16

Trang 27

Đề tài cấp nhà nước (2015)“Nghiên cứu đổi mới chính sách để huy động và

quản lý nguồn lực tài chính phục vụ xây dựng nông thôn mới” do TS Vũ Nhữ

Thăng làm chủ nhiệm đã đi sâu phân tích chính sách huy động nguồn lực tài chínhphục vụ xây dựng NTM giai đoạn 2011-2015 Đề tài nghiên cứu nguồn lực tài chínhxây dựng NTM với ý nghĩa là nguồn lực vốn, đó chính là các nguồn vốn được huyđộng từ NSNN, vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp, cộng đồng dân cư (CĐDC) Huyđộng nguồn lực tài chính cho chương trình xây dựng NTM được thực hiện thôngqua quy định pháp luật đối với từng nguồn vốn Vốn NSNN được huy động theoquy định của Luật NSNN, vốn tín dụng được huy động thông qua cơ chế tín dụngthương mại và tín dụng ưu đãi, vốn doanh nghiệp đầu tư xây dựng NTM đối với cáccông trình, dự án có thu phí để thu hồi vốn thông qua cơ chế hợp đồng theo mô hìnhhợp tác công-tư (PPP) Vốn huy động từ cộng đồng theo cơ chế người dân bỏ vốnđầu tư trực tiếp và đóng góp theo hình thức tự nguyện17 Các giải pháp hoàn thiệnthể chế pháp luật huy động nguồn vốn khác cho xây dựng NTM chưa được đề cậpnhiều Luận án chủ yếu phân tích và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật

về huy động vốn NSNN

Đề tài của Nguyễn Hoàng Hà “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp huy

động nguồn vốn đầu tư cho chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn đến năm 2020” (Bộ Kế hoạch Đầu tư, 2014), quan niệm vốn là yếu tố nguồn lực cần

thiết cho đầu tư phát triển được chuyển hóa thông qua quá trình sản xuất để tạo ragiá trị gia tăng và tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế Nguyễn Hoàng Hà đưa

ra khái niệm sau: “Huy động vốn đầu tư phát triển là điều động các nguồn lực chocông tác xây dựng và phát triển chẳng hạn như huy động nhân lực, vật lực, kinhphí cho các chương trình dự án”18 Điều đáng chú ý trong công trình này là tác giảnghiên cứu phân tích yếu tố chính sách làm hạn chế thu hút vốn doanh nghiệp đầu

tư cho khu vực nông thôn, chỉ ra hạn chế của vốn CĐDC có đặc điểm nhỏ lẻ, tỷ lệ

17 Vũ Nhữ Thăng, (2015), Nghiên cứu đổi mới chính sách để huy động và quản lý các nguồn lực tài chính phục vụ xây dựng nông thôn mới, Viện Chiến lược và chính sách Tài chính tr.31.

18 Nguyễn Hoàng Hà, (2014), Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp huy động nguồn vốn đầu tư cho chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn đến năm 2020, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, tr.15.

Trang 28

huy động thấp Huy động vốn của người dân và cộng đồng chịu ảnh hưởng củayếu tố vai trò của người lãnh đạo chương trình và khả năng kinh tế của hộ giađình, cá nhân Chỉ ra những hạn chế của các văn bản pháp luật về huy động nguồnvốn đầu tư xây dựng NTM nhưng tác giả chưa đề xuất giải pháp hoàn thiện cácquy định cụ thể.

Đề tài “Huy nguồn nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

Thường Tín - Hà Nội”của Dương Trần Việt, Bộ Quốc phòng, 2019, đề cập đến

nguồn lực huy động xây dựng NTM trên địa bàn bao gồm nguồn nhân lực, vật lực,tài lực được huy động từ nguồn NSNN, tín dụng, vốn doanh nghiệp và cộng đồng Xâydựng khái niệm: “Huy động nguồn lực cho xây dựng NTM là các giải pháp, cơ chế,chính sách nhằm tìm kiếm khai thác các nguồn lực cho hoạt động xây dựng NTM mộtcách có lợi nhất cho cộng đồng địa phương”19 Theo tác giả, huy động người dân đónggóp xây dựng NTM là cần thiết nhằm thể hiện trách nhiệm của chủ thể đối với côngtrình NTM mà họ là người được hưởng lợi trực tiếp Pháp luật cần có quy định cụ thểviệc này

Ở một số nước, việc huy động nguồn lực đầu tư cho phong trào phát triểnnông thôn cũng được nghiên cứu trong nhiều công trình khác nhau

Công trình “Why the Saemaul Undong is So Important to Understanding

Korea’s Social and Economic Transformation”(Vì sao phong trào làng mới có vai

trò quan trọng đối với việc hiểu biết và Sự chuyển đổi kinh tế và xã hội của HànQuốc” của Joon-Kyung Kim, 2013 (Trường Quản lý và Chính sách công Hàn Quốc,2013) Một số quan điểm nổi bật của công trình này về huy động nguồn lực chophong trào làng mới đó là sự tập hợp nguồn lực từ chính phủ, người dân để thựchiện mục tiêu xây dựng thôn, làng Bên cạnh việc chính phủ nỗ lực thực hiện cảicách chính sách thuế và quản trị, tăng nguồn thu từ thuế để có nguồn lực tài chínhđầu tư cho phát triển kinh tế xã hội nông thôn, nguồn lực thưc hiện phong trào cònđược huy động thông qua việc Chính phủ cung cấp cho các làng vật liệu xây dựng,dân làng hiến đất, tài sản, ngày công lao động Ban đầu người dân được yêu cầu

19 Dương Trần Việt, (2019), Huy nguồn nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thường Tín

-Hà Nội, Học viện chính trị, Bộ Quốc phòng, tr 20.

Trang 29

đóng góp thời gian, sức lao động, Chính phủ hỗ trợ vật chất, cung cấp miễn phínguyên vật liệu để xây dựng các dự án liên quan trực tiếp đến đời sống người dân,chia sẻ chi phí giữa Chính phủ và dân làng Ở những năm sau, Chính phủ tập trungbằng việc thực hiện các dự án phát triển cộng đồng bền vững bằng cách tạo cơ hộicho nông dân bổ sung thu nhập của họ Thông qua dự án thu nhập tái đầu tư, ngườidân tham gia dự án sẽ có thu nhập từ sức lao động của mình, họ giữ lại một nửa thunhập, nửa còn lại đóng góp vào quỹ phát triển thôn làng Với việc Chính phủ thựchiện tái đầu tư tiết kiệm đã giúp thúc đẩy người dân tiết kiệm dành nguồn lực đầu tưvào kinh tế làng

Trong công trình “Modularization of Korea’s Development Experience: New

Research on Samemaul Undong: Leasons and Insights from Korea’s Development experience”, (Hiện đai hóa kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc: nghiên cứu phong

trào làng mới: bài học và hiểu biết sâu sắc từ kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc)của Bộ Chiến lược và Tài chính Hàn Quốc, 2013 tiếp tục nhấn mạnh việc huy độngnguồn lực cho phong trào “làng mới” thông qua cơ chế nhân dân làm, Chính phủ hỗtrợ Chính phủ cung cấp cho các làng vật liệu xây dựng, dân làng đóng góp sức lao

lao động, nguyên vật liệu và đất đai Nghiên cứu đưa ra các kết luận: một là, có ba

yếu tố quan trọng ở “làng mới” đó là Chính phủ, dân làng và lãnh đạo thôn Sự hỗtrợ của chính phủ là cần thiết, năng lực của người dân và lãnh đạo thôn, làng đóng

vai trò quan trọng; hai là, vượt qua sự phụ thuộc vào nguồn lực hỗ trợ từ Chính phủ bằng tự lực của người dân để đạt được sự bền vững của phong trào “làng mới”; ba

là, hỗ trợ nguồn lực từ Chính phủ phải theo nguyên tắc nhất định, dựa trên hiệu suất

và thành tích xây dựng NTM của các thôn làng

Nghiên cứu “China – New Urbanization Plan 2014-2020” (Kế hoạch đô thị

hóa mới giai đoạn 2014-2020 của Trung Quốc) của Martin Griffiths (2016) đã phântích vai trò của đô thị hóa đối với việc giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân,nông thôn và tiến trình xây dựng NTM.Theo đó, đặc trưng của khu vực nông thônvới dân số đông, tài nguyên hạn hẹp, quy mô quản lý đất đai nhỏ lẻ, khó thay đổiphương thức sản xuất truyền thống, để thúc đẩy tiến trình NTM nhà nước cần thúc

Trang 30

đẩy đô thị hóa Tác giả nghiên cứu cho rằng, xây dựng NTM phải được thực hiện từcấp thôn bản bắt đầu từ những công trình gắn bó với lợi ích thiết thực của người dân(giao thông, thủy lợi, điện nước, hạ tầng nông nghiệp, kết nối các vùng sản xuất, hạtầng viễn thông cấp nước vệ sinh môi trường, cung cấp dịch vụ công, phát triển vănhóa, giáo dục, y tế ) Để xây dựng NTM cần gắn với tiến trình đô thị hóa, thúc đẩyđổi mới thể chế, thu hút nguồn lực đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, đẩymạnh công nghiệp, dịch vụ ở khu vực nông thôn Xóa bỏ những trở ngại về cơ cấu

và thể chế cản trở tiến trình đô thị hóa, thiết lập một cơ chế hợp lý nhằm tăng cườngtrách nhiệm của chính quyền các cấp, đảm bảo quyền tự chủ của người dân Phân

bổ nguồn lực công một cách hợp lý, huy động nguồn lực của các lực lượng xã hội,

sự tham gia của Chính phủ, hợp tác của người dân Chính phủ trung ương chịu tráchnhiệm điều phối, phân bổ nguồn lực từ NSTW, hoàn thiện thể chế và xây dựngchính sách Chính quyền địa phương bố trí kinh phí từ NSĐP, tiếp nhận và và giảitrình các khoản kinh phí phân bổ từ NSTW Chủ động khai thác tiềm năng, thếmạnh của địa phương, huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, người dân, cộng đồngcùng hợp tác thực hiện

Nghiên cứu “Mobilization of domestic financial resources for agricultural

productivity in Nigeria” (Huy động nguồn lực tài chính trong nước cho phát triển nông

nghiệp ở Nigeria) của Awe A.A, Tạp chí nghiên cứu, quản lý và kinh doanh nước ÚcVol.2 No.12 [01-07], March-2013, tập 2, số 12 [01-07], tháng 3 năm 2013 Tác giảnghiên cứu chỉ ra 3 nguồn vốn quan trọng được huy động cho phát triển nông thôn:vốn từ khu vực tư nhân, nguồn lực từ Chính phủ và vốn tín dụng Trong đó, vốn tưnhân được huy động từ người dân và doanh nghiệp để đầu tư vào lĩnh vực có khảnăng mang lại lợi nhuận; nguồn lực từ Chính phủ gồm trợ cấp ngân sách nhà nước

và các khoản vốn ngân sách đầu tư cho các công trình, dự án có thể thu hồi vốn,mang lại lợi nhuận Huy động vốn thống qua hệ thống thể chế được Chính phủ Liênbang ban hành Chính phủ tiểu bang căn cứ thể chế Chính phủ Liên bang để banhành cơ chế huy động nguồn lực tài chính địa phương

Trang 31

Công trình “Lý luận và thực tiễn và các chính sách xây dựng NTM Trung

Quốc” do dịch giả Cù Ngọc Hưởng biên dịch, (Trung tâm phát triển nông thôn-Dự

án MISPA, 2006) đã tập hợp các quan điểm nghiên cứu của các học giả Trung Quốc

về nguồn vốn đầu tư và huy động vốn cho xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa ở TrungQuốc Theo đó, vốn xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa Trung Quốc chủ yếu từ cácnguồn vốn ngân sách Chính phủ, vốn đầu tư, hỗ trợ của doanh nghiệp, vốn tín dụng

và nguồn huy động đóng góp của người dân, cộng đồng dân cư Theo các học giả:

“Huy động vốn đầu tư xây dựng NTM là huy động sự đầu tư của nhà nước, tài trợcủa các tầng lớp xã hội, đặc biệt là các doanh nghiệp công thương vào công tác xâydựng nông thôn mới”20 Các học giả Trung Quốc trong công trình này cho rằng huyđộng vốn đầu tư xây dựng NTM là nhiệm vụ của nhà nước, có liên quan đến nhiềuchủ thể trong xã hội, có quy trình khá phức tạp, dễ xảy ra khả năng thất thoát, lãngphí vốn Chính vì vậy nhà nước cần ban hành các quy định cụ thể để thực hiện Việcpháp chế hóa các hình thức và biện pháp huy động vốn của các chủ thể tham giađầu tư xây dựng NTM chính là nhằm quy phạm hóa hành vi của các cấp chínhquyền, bảo vệ lợi ích của nhà nước và người dân

1.2 Các công trình nghiên cứu về pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới

Ở Việt Nam, một số nghiên cứu về cơ chế, chính sách huy động nguồn vốnxây dựng nông thông mới cũng được thực hiện

Luận án tiến sĩ “Huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới

trên địa bàn Thành phố Hà Nội” của Lê Sĩ Thọ (Học Viện Tài chính, 2017), Luận án

“Huy động nguồn lực tài chính xây dựng NTM trên địa bàn các tỉnh miền núi phíaBắc” của Đoàn Thị Hân, (Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, 2017) là cáccông trình nghiên cứu khá toàn diện về huy động vốn đầu tư xây dựng NTM Tác giảcủa các công trình này đều cho rằng việc huy động các nguồn vốn phải thực hiện thôngqua chính sách pháp luật của nhà nước Mỗi nguồn vốn huy động theo cơ chế pháp luật

cụ thể.Vốn NSNN đầu tư cho CSHT nông thôn theo quy định của luật NSNN, vốn

20 Cù Ngọc Hưởng, (2006) “Lý luận và thực tiễn các chính sách xây dựng NTM Trung Quốc”, Trung tâm

phát triển nông thôn, dự án MISPA tr 24.

Trang 32

doanh nghiệp đầu tư NTM theo mô hình hợp tác công tư (PPP) với các hình thức hợpđồng chủ yếu BTO, BTO, BT với một số chính sách ưu đãi, khuyến khích doanhnghiệp đầu tư vào NN, NT Vốn tín dụng theo quy định pháp luật về tín dụng Tuynhiên, các công trình này chưa đi sâu phân tích cơ chế, chính sách về huy động cácnguồn vốn Các giải pháp huy động vốn được phân tích và đề xuất từ góc độ kinh tế,thiếu những phân tích pháp luật Công trình này phân tích và đánh giá khá nhiều nhữngkhía cạnh pháp lý về huy động vốn xây dựng nông thôn mới.

Luận án tiến sĩ “Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây

dựng NTM trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” của Hoàng Ngọc Hà (Đại học Thương Mại,

2018), đề cập đến các công cụ quản lý huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính(NLTC) cho xây dựng NTM Tác giả cho rằng các công cụ huy động NLTC baogồm hệ thống pháp luật và các chính sách huy động, phân bổ, sử dụng và kiểm tragiám sát các NLTC xây dựng NTM Theo tác giả chính sách khuyến khích doanhnghiệp đầu tư vào NN,NT thuộc nhóm chính sách hỗ trợ gián tiếp Nhà nước thiếtlập khuôn khổ pháp lý và chính sách cho việc quản lý huy động, sử dụng các NLTCcho xây dựng NTM, chính quyền cấp tỉnh ban hành chính sách huy động nguồn lựccho xây dựng NTM tại địa phương Với khuôn khổ pháp lý được thiết lập phù hợp

có thể xác định quyền và tạo động lực đẩy mạnh quản lý huy động, sử dụng NLTCcủa doanh nghiệp xây dựng NTM Cụ thể, nhà nước ban hành chính sách thu hútđầu tư, tạo cơ hội mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp theo hình thức hợp đồngPPP, cơ chế huy động sự tự giác của doanh nghiệp đóng góp NLTC xây dựng NTM.Ban hành cơ chế huy động người dân đóng góp xây dựng NTM21 Tuy nhiên, giảipháp hoàn thiện thể chế chính sách huy động NLTC cho xây dựng NTM còn chưađược đề cập cụ thể

Ở ngoài nước cũng có không ít các công trình nghiên cứu về hoàn thiện thểchế, chính sách huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM Trong số đó cần kểđến các đến công trình dưới đây

21 Hoàng Ngọc Hà, (2018), Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”, Đại học Thương mại, tr.33.

Trang 33

“Lý luận, thực tiễn và các chính sách xây dựng nông thôn mới xã hội chủ

nghĩa Trung Quốc” do Cù Ngọc Hưởng biên dịch (Trung tâm phát triển nông

thôn-Dự án MISPA, 2006) Ở công trình này, các học giả Trung Quốc đã đi sâu phân tích

cơ cở lý luận, thực tiễn, sự cần thiết phải có những quy định pháp luật để điều chỉnhhoạt động huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng NTM Các tác giả cho rằng hoạtđộng huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa là hoạt độngkinh tế vĩ mô, có tính pháp lý, liên quan đến quyền và nghĩa vụ của nhiều chủ thểtham gia Nếu chỉ dựa vào những văn kiện chính sách hay những điều lệ sẽ khôngđảm bảo tính pháp lý Cần thiết phải pháp chế hóa các chính sách đầu tư, hỗ trợ xâydựng NTM thành các quy định cụ thể có hiệu lực thực hiện Pháp chế hóa các chínhsách hỗ trợ xây dựng NTM Trung Quốc theo các học giả chính là việc thông quacác quy định pháp luật để quy phạm hành vi của các cấp chính quyền trong huyđộng, sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư của các chủ thể trong xã hội.Các chínhsách đầu tư, hỗ trợ NTM phạm vi điều chỉnh rộng (gồm chính sách thuế, đất đai, tíndụng, hỗ trợ tài chính…) với nhiều chủ thể tham gia sẽ kéo theo những xung đột vềlợi ích, các quy định hành chính sẽ không giải quyết được các vấn đề mà phải cầnhóa giải bằng hệ thống quy phạm pháp luật Nghiên cứu chỉ ra “chính sách hỗ trợxây dựng NTM là chính sách vĩ mô của nhà nước phải được tiến hành theo luậtpháp, việc thực hiện các chính sách đầu tư, hỗ trợ xây dựng NTM nếu xa dời quỹđạo luật pháp thì có thể coi như hành vi của Chính phủ thiếu đi tính pháp lý”22 Tuykhông phải là một công trình chuyên về pháp luật song các tác giả của nó đã phântích nhiều khía cạnh pháp lý của huy động vốn xây dựng nông thôn mới

Công trình nghiên cứu “The new territorial paradigm of rural development:

Theoretical foundations from systems and institutional theories” (Mô hình lãnh thổ của

phát triển nông thôn: cơ sở lý thuyết từ các hệ thống và lý thuyết thể chế), của Mateo

Ambrosio-Albala Johan Bastiaensen, (Trường Đại học Antweb Bỉ, 2010), đề cập đến

phát triển nông thôn theo quan điểm lý thuyết quản trị khả năng phục hồi và lý thuyết

thể chế Theo quan điểm của tác giả, để có nguồn lực đầu tư cho phát triển khu vực

22 Cù Ngọc Hưởng, (2006) “Lý luận, thực tiễn và chính sách xây dựng NTM Trung Quốc”, Trung tâm phát

triển nông thôn, dự án MISPA, tr.42,43.

Trang 34

nông thôn, cần phải có những cơ chế thiết lập và tạo ra nguồn lực đó Quan điểm vềquản trị khả năng phục hồi nhấn mạnh đến cách tiếp cận theo lãnh thổ đối với pháttriển khu vực nông thôn, giúp thực hiện mục tiêu xây dựng chính sách công hiệu quảcho phát triển khu vực này Các chính sách ngành và cơ chế thị trường truyền thống đãkhông giải quyết được sự mất cân đối trong khu vực Cách tiếp cận theo lãnh thổ chothấy sự thay đổi khu vực nông thôn không thể lập kế hoạch theo cách từ trên xuống màphải bắt đầu từ các thành viên của xã hội nông thôn cùng chung tay hành động để thựchiện mục tiêu Chính quyền địa phương và chính quyền trung ương kết nối các chínhsách phát triển gắn với việc giải quyết các vấn đề của khu vực nông thôn để hình thànhmột thế hệ mới các chính sách công phục vụ xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn Tiếpcận theo lãnh thổ không chỉ nhằm mục đích giảm bất bình đẳng trong khu vực nông

thôn mà còn thúc đẩy chuyển đổi kinh tế, cải cách thể chế ở các vùng nông thôn (Mỹ)

Chính sách Nông thôn Quốc gia của Wales được thực hiện trên cơ sở chínhsách quốc gia về phát triển cộng đồng nông thôn: gồm Chiến lược Phát triển Kinh tế

và Kế hoạch Phát triển Nông thôn xứ Wales Quỹ phát triển nông thôn tài trợ choviệc phát triển mạng lưới, đào tạo nguồn nhân lực, quảng bá doanh nghiệp thôngqua các chương trình tài trợ, sáng kiến chính sách phát triển cộng đồng Theo đó,phát triển cộng đồng được coi là một phần của chính sách quốc gia, hình thành các

dự án cộng đồng triển khai trên phạm vi nông thôn toàn quốc Đáng chú ý là việcthành lập Hội đồng Hành động Tự nguyện Wales (WCVA), diễn đàn nông thôn xứWales (1992) nhằm tăng cường tiếng nói từ cơ sở và cộng đồng, vận động nguồnlực cho phát triển nông thôn Thành lập viện Y tế Nông thôn toàn quốc hoạt động vìsức khỏe người dân.Thành lập Mạng lưới Phát triển Nông thôn Wales (2002) baogồm nhóm các cơ quan phát triển nông thôn, cộng đồng đồng địa phương góp phầnvào việc xây dựng các chính sách có ảnh hưởng đến vùng nông thôn

Chính sách nông thôn quốc gia của Anh được gọi là “chính sách quốc gia tậntâm” hướng đến xây dựng cộng đồng nông thôn thịnh vượng; thể chế, thiết chế khuvực nông thôn được kiện toàn, kinh tế đa dạng, người dân được tiếp cận dịch vụcông chất lượng cao, thu nhập, việc làm của người dân ổn định Ngoài những nỗ lực

Trang 35

của Bộ môi trường thực phẩm các vấn đề nông thôn (Defra) trong việc thực hiệnnhiệm vụ phát triển nông thôn, một loạt các chính sách quốc gia khác tác động đáng

kể đến phát triển cộng đồng nông thôn như chính sách hiện đại hóa chính quyền địaphương do Văn phòng Phó Thủ tướng Chính phủ thực hiện, đã yêu cầu chính quyềnđịa phương kết hợp với tổ chức quan hệ đối tác chiến lược địa phương để tập hợpcác doanh nghiệp địa phương để thực hiện nhiệm vụ phát triển địa phương.Theoquy định của pháp luật, chính quyền địa phương phải tham khảo ý kiến cộng đồngđịa phương trong thực hiện quy trình, cải cách hệ thống quy hoạch thị trấn và quốcgia, thay thế các kế hoạch địa phương bằng khung phát triển địa phương thông quacác chính sách cụ thể có sự tham gia của cộng đồng vào quá trình lập kế hoạch Ví

dụ, các chính sách giao thông nông thôn nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng địaphương như: sáng kiến Đối tác Giao thông Nông thôn và Thử thách Xe buýt Nôngthôn, thành lập Quỹ mạng lưới địa phương do Bộ Giáo dục và kỹ năng thực hiệndành cho những người trẻ tuổi, các nhóm cộng đồng địa phương, Quỹ các nhà vôđịch cộng đồng để thu hút nhóm cộng đồng tham gia vào việc đổi mới khu vựcnông thôn Nguồn tài trợ của phát triển cộng đồng nông thôn nước Anh rất rộng,trong đó có nguồn từ các quỹ, từ ngân sách Chính phủ cho hoạt động của cộng đồngnông thôn

Chuyên khảo “The road go to a new countryside” (Con đường xây dựng

nông thôn mới) của Tai Wang Zhao, Jingyu Li Haitao, Nhà xuất bản đối ngoại,

2007, đã giới thiệu tổng quát về tình hình xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa củaTrung Quốc ở giai đoạn phát triển tương đối toàn diện Để thực hiện chủ trương đầu

tư cho NN, NT và xây dựng NTM, Đảng cộng sản Trung Quốc đã ban hành các vănkiện chính sách làm cơ sở cho xây dựng NTM Trên cơ sở các Nghị quyết của Đảng

về xây dựng NTM, Chính phủ đã ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh hoạtđộng xây dựng NTM Nổi bật là Nghị định về phát triển sản xuất nông nghiệp hiệnđại, chính sách đưa sản phẩm của vùng nông thôn tới thị trường tiêu thụ, chính sách

hỗ trợ nông dân: hỗ trợ về vốn, công nghệ, giới thiệu sản phẩm, nâng cao thu nhập,đầu tư nguồn lực, hỗ trợ cho khu vực nông thôn Lựa chọn lĩnh vực và khu vực

Trang 36

nông thôn cần đầu tư, hỗ trợ, đào tạo người nông dân để họ có thể tự giải quyếtđược vấn đề khi tham gia thị trường Nghiên cứu đưa đến thông điệp: tập trungnguồn vốn, hỗ trợ nông dân và hoàn thiện thể chế là những biện pháp cần thiết đểxây dựng NTM thành công.

Nghiên cứu “Invetment Priorities for rual development OECD” (Ưu tiên đầu

tư cho nông thôn các nước OECD) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tếOECD, 2004, đã chỉ ra rằng sự thay đổi ở khu vực nông thôn đòi hỏi phải có chínhsách đầu tư cho NTM Khu vực nông thôn các nước OECD trong bối cảnh toàn cầuhóa, những thay đổi cơ cấu kinh tế phải đối mặt với một số cơ hội thách thức mớiđòi hỏi phải có chính sách phát triển nông thôn và sử dụng hiệu quả hơn các nguồntài chính khan hiếm (Richard Hecklinger, OECD) Nguyên tắc về mô hình NTMđược các nước thành viên OECD thông qua vào năm 2006 là cơ sở hình thành chínhsách phát triển nông thôn các quốc gia (OECD, 2006).Trên cơ sở chính sách chungcủa OECD, các quốc gia thành viên có thể xây dựng chính sách phát triển nông thônphù hợp Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, chính sách đầu tư cho nông thôn ở cácnước OECD được thay đổi từ chính sách trợ cấp, hỗ trợ sang hình thức đầu tư chocác vùng nông thôn trên cơ sở tăng cường tính tự chủ và trách nhiệm của chínhquyền địa phương Chính sách đầu tư cho nông thôn của OECD từng bước chuyển

từ bao cấp truyền thống sang đầu tư phát triển kinh tế Các nước OECD cho rằng,chính sách bao cấp cho khu vực nông thôn chỉ dành cho các đối tượng yếu thế Việcquá phụ thuộc vào chính sách bao cấp của nhà nước sẽ làm hạn chế động lực pháttriển, giảm sức cạnh tranh của khu vực nông thôn Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị,cảnh báo các nhà hoạch định chính sách cẩn thận khi sử dụng chính sách trợ cấp đểphát triển khu vực nông thôn vì chúng có tác động tiêu cực trong dài hạn Việc xâydựng và hoạch định thể chế xây dựng NTM của các quốc gia chịu ảnh hưởng củachính sách nông thôn trong nền kinh tế toàn cầu hóa, tương lai và sự thách thức củahoạt động xây dựng NTM

Nghiên cứu “China’s rural development policy: Exploring the “New Socialist

Countryside” (Chính sách phát triển nông thôn của Trung Quốc: Khám phá nông thôn

Trang 37

mới xã hội chủ nghĩa) của Minzi Su, (Nhà xuất bản Lynne Rienner Publishers, 2009),

đề cập đến chính sách xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa Trung Quốc.Với cách tiếp cậncải thiện điều kiện sống ở các cộng đồng nông thôn là thước đo để đánh giá kết quả củanhững sáng kiến xây dựng NTM Tác giả cho rằng, xây dựng và hoàn thiện thể chế xâydựng NTM phải đạt được mục tiêu cốt lõi là phát triển kinh tế nông thôn, tăng năngxuất lao động, cải thiện đời sống người dân Để tăng thu nhập của người dân cần pháttriển kinh tế trang trại theo thế mạnh của địa phương, thiết lập các thị trường quantrọng, hỗ trợ doanh nghiệp nông thôn và doanh nghiệp thị trấn (TVEs), phát triểnphong trào lao động ở nông thôn Phương pháp tiếp cận chính sách phát triển nôngthôn ở Trung Quốc được chỉ ra gồm: kế hoạch xây dựng NTM cần kết hợp “từ dướilên” và từ “trên xuống”, tích hợp mục tiêu điều chỉnh chính sách cấp Chính phủ phùhợp với điều kiện và năng lực của địa phương Theo tác giả, huy động nguồn lực xâydựng NTM được thực hiện theo 2 phương pháp (i) xây dựng kế hoạch huy độngnguồn lực ngắn hạn và dài hạn (ii) nhà nước bãi bỏ thuế nông nghiệp, hỗ trợ tàichính người nông dân Nghiên cứu đưa ra đề xuất ban hành Nghị quyết của Chínhphủ về xây dựng NTM

Công trình "Study on the Construction of the Chinese Rural Credit System"

(nghiên cứu về xây dựng các hệ thống tín dụng ở nông thôn Trung Quốc) của ZhangGuang yu (2010), Tạp chí khoa học xã hội Châu Á, Trung tâm khoa học và giáo dụcCanadian 6 (12), tác giả cho rằng xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốccần phải huy động tối đa các nguồn lực hiện có, trong đó có sự hỗ trợ lớn từ nguồnvốn tín dụng Chính sách ưu đãi tín dụng đã giúp tạo lập nguồn vốn để đầu tư xâydựng NTM ở Trung Quốc Tuy nhiên, người dân còn có ý thức ỷ nại vào các khoảntín dụng ưu đãi, thiếu cơ chế kiểm soát tín dụng nông thôn đã ảnh hưởng đến nguồnvốn tín dụng huy động xây dựng NTM Tác giả nghiên cứu cho rằng, sự phát triểnkinh tế nông thôn và xây dựng NTM ở Trung Quốc cần có cơ chế huy động và kiểmsoát vốn tín dụng trong kế hoạch xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa

1.3 Các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới và giải pháp hoàn thiện

Trang 38

Luận án tiến sĩ “Huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn

mới trên địa bàn Thành phố Hà Nội”của Lê Sĩ Thọ (Học viện Tài chính, 2017),

không nghiên cứu huy động vốn đầu tư xây dựng NTM dưới góc độ pháp luật,nhưng đi sâu phân tích khá kỹ thực trạng thực trạng cơ chế, chính sách, biện pháphuy động, sử dụng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng NTM trên địa bàn Hà Nội Về đầu

tư theo phương thức đối tác công tư trong xây dựng cơ sở hạ tầng NTM, nghiên cứucũng chỉ ra rằng mặc dù Hà Nội đã có chủ trương và cơ chế huy động đầu tư xâydựng CSHT nông thôn mới trên địa bàn nhưng số lượng các dự án đầu tư vào CSHTnông thôn mới trên địa bàn Hà Nội còn hạn chế Kết quả nghiên cứu có ý nghĩatrong việc tiếp tục xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, thể chế hóacác cơ chế, chính sách, biện pháp huy động vốn đầu tư xây dựng NTM thành cácquy định pháp luật cụ thể Về huy động vốn NSNN, tác giả đề xuất thực hiện phâncấp rõ ràng, phân định hợp lý sự tham gia của các nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầngNTM Đối với huy động vốn doanh nghiệp và cộng đồng, nghiên cứu đề xuất việc

tổ chức tốt chính sách hiện có, đề xuất ban hành chính sách mới, khuyến khích ápdụng cơ chế đầu tư theo mô hình hợp tác công - tư trong xây dựng cơ sở hạ tầngNTM để huy động vốn doanh nghiệp theo hợp đồng BTO, BT, BOT23… Các giảipháp khác được đề cập trong nghiên cứu như tăng cường công khai minh bạch tráchnhiệm giải trình, tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân mang tính khuyếnnghị, có giá trị tham khảo

Luận án tiến sĩ “Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính thực hiện

chương trình xây dựng NTM trên địa bàn các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc”

của Đoàn Thị Hân (Viện Quản lý kinh tế Trung ương, 2019) đề cập đến cơ sở pháp

lý trong huy động nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM là các văn bản pháp luật củanhà nước, nhưng không dẫn chiếu và phân tích các quy định cụ thể Thực trạng cơchế, chính sách, kết quả, giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho xây dựngNTM được đề cập có giới hạn trong phạm vi địa phương Chỉ ra hạn chế của chínhsách huy động nguồn lực tài chính nhưng chưa đề xuất giải pháp xây dựng và hoàn

23 Lê Sĩ Thọ, (2016), Huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới trên địa bàn Hà Nội,

Học Viện Tài chính, tr.146.

Trang 39

thiện chính sách pháp luật Các giải pháp huy động nguồn lực tài chính được đề cậptrong nghiên cứu chủ yếu là các giải pháp thực hiện chính sách, giải pháp chungnhư tăng cường nguồn thu cho NSĐP, sự tham gia của người dân vào công tác huyđộng nguồn lực tài chính, hoặc khuyến nghị địa phương cần có chính sách hỗ trợ vàthu hút riêng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

Luận án tiến sĩ “Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây

dựng NTM trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” của Hoàng Ngọc Hà (Đại học Thương Mại,

2018) đề cập đến thực trạng và hạn chế của cơ chế chính sách huy động nguồn lựctài chính cho xây dựng NTM trên địa bàn cấp tỉnh nhưng chưa đề xuất giải pháphoàn thiện chính sách cụ thể.Theo tác giả, huy động nguồn lực tài chính xây dựngNTM được thực hiện thông qua cơ chế tài chính ngân sách hiện hành và quy định

do địa phương ban hành để triển khai trên địa bàn Địa phương đã vận dụng quyđịnh tại Nghị định số 24/1999/NĐ-CP về quy chế tổ chức huy động, quản lý và sửdụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng củacác xã, thị trấn và Thông tư số 85/1999/TT-BTC để tổ chức huy động nguồn lựcđóng góp của người dân Nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế trong cách thứchuy động dân đóng góp còn chưa phù hợp với từng đối tượng người dân, mức đónggóp cao Đóng góp của dân cư trên tại địa phương những năm đầu chủ yếu ở việchiến đất và tài sản trên đất, nhưng những năm sau đó huy động từ dân cư giảm, chỉtập trung ở hình thức đóng góp ngày công lao động và tiền mặt Đề xuất chính sáchhuy động, sử dụng nguồn lực tài chính trong nghiên cứu giới hạn ở phạm vi chínhsách do địa phương ban hành

Đề tài “Nghiên cứu đổi mới chính sách để huy động và quản lý nguồn lực

tài chính phục vụ xây dựng nông thôn mới” do TS Vũ Nhữ Thăng làm chủ nhiệm

đã phân tích khá kỹ về thực trạng cơ chế chính sách huy động và kết quả thực hiện

cơ chế, chính sách huy động nguồn lực tài chính cho xây dựng NTM giai đoạn2011-2015 Chính sách tài chính phục vụ xây dựng NTM được tác giả thực hiệntrên cơ sở hệ thống hóa và phân tích hệ thống quy định pháp luật huy động nguồnvốn NSNN (phân cấp ngân sách, phân bổ NSNN…) vốn tín dụng, vốn doanh

Trang 40

nghiệp, người dân và CĐDC Đánh giá thực trạng huy động vốn NSNN thông quaquy định pháp luật NSNN, huy động vốn doanh nghiệp thông qua các cơ chếkhuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào NN, NT, cơ chế xã hội hóa, hợp tác công-tư

và các chính sách hỗ trợ đặc thù… Huy động vốn tín dụng thông qua quy định ưuđãi tín dụng đối với NN, NT Huy động nguồn lực đóng góp của CĐDC theo chủtrương của nhà nước Giải pháp hoàn thiện chính sách huy động nguồn lực tài chínhcho chương trình xây dựng NTM tập trung vào hoàn thiện pháp luật về huy độngnguồn vốn NSNN thông qua hoàn thiện thể chế phân bổ vốn NSNN, bổ sung, sửađổi một số quy định của các văn bản pháp luật NSNN Đề xuất tăng nguồn thuNSĐP thông qua việc ban hành luật Thuế bất động sản, sửa đổi các luật thuế, luậtđất đai, luật NSNN, phân cấp nguồn thu từ xử phạt vi phạm hành chính, và cơ chếquản lý chương trình MTQG24 Huy động vốn doanh nghiệp thông qua đẩy mạnhthực hiện chính sách xã hội hóa, cơ chế tài tự chủ chính đối với đơn vị sự nghiệp và

cơ chế hợp tác công-tư Giải pháp hoàn thiện pháp luật huy động vốn doanh nghiệp,vốn tín dụng chủ yếu là giải pháp chung, chưa cụ thể Giải pháp huy động nguồn lựcngười dân xây dựng NTM chỉ dừng ở việc đề xuất tăng cương sự tham gia của ngườidân và cộng đồng thông qua xây dựng cơ chế huy động dự tham gia của người dânvào hoạt động đầu tư trên địa bàn, động viên khuyến khích, tuyên tuyền vận độngngười dân đóng góp thực hiện chương trình

Đề tài “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp huy động nguồn vốn đầu tư

cho chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn đến năm 2020” của Nguyễn

Hoàng Hà (Bộ Kế hoạch Đầu tư, 2014) Tác giả nghiên cứu đi sâu phân tích thựctrạng quy định pháp luật về huy động vốn NSNN, vốn doanh nghiệp, vốn tíndụng, vốn huy động từ người dân và cộng đồng dân cư Hạn chế của các cơ chếchính sách huy động nguồn vốn đầu tư cho chương trình xây dựng NTM ở giaiđoạn 2011-2014 được nghiên cứu phân tích khá cụ thể, có giá trị tham khảo choviệc tiếp tục nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế pháp luật huy độngnguồn vốn đầu tư cho chương trình xây dựng NTM ở các giai đoạn sau Giải pháp

24 Vũ Nhữ Thăng, (2015), Nghiên cứu đổi mới chính sách để huy động và quản lý các nguồn lực tài chính phục vụ xây dựng nông thôn mới”, Viện chiến lược chính sách Tài chính, tr 201.

Ngày đăng: 29/11/2022, 10:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w