nguồn viện trợ kinh tế từ các nước xã hội chủ nghĩa và do sự yếu kém của cơ chế quản lýkinh tế, kế hoạch hóa tập trung.Trước bối cảnh đó, Nhà nước Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KĨ THUẬT TPHCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ THÀNH TỰU
CỦA ĐẢNG TA TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ (Môn học: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM)
MÃ SỐ LỚP HP: 15CLC (Sáng thứ 5, tiết 1-2) GVHD: TRỊNH THỊ MAI LINH
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 08 HỌC KỲ: – NĂM HỌC: II 2020 – 2021
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2021
Trang 2DANH SÁCH SINH VIÊN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Họ và tên Mssv
1 Võ Thị Quỳnh Như - 19124166 (Nhóm trưởng)
2 Nguyễn Văn Toàn - 19124195 (Thư ký)
3 Lê Hoài Lâm - 20161220
4 Huỳnh Thị Diễm Quỳnh - 19124177 5 Nguyễn Thành Đạt - 19146172
6 Lê Minh Quốc - 19146248
7 Lê Trung Dũng - 19146166
8 Võ Thị Ái My - 19124141
Tên đề tLi: Đường lối phát triển kinh tế và thành tựu của Đảng ta từ năm 1986 đến nay Thời gian thực hiện: 1 tháng NHÂRN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Tp Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 05 năm 2021
GiUng viên hưXng dZn
Trịnh Thị Mai Linh
Trang 3BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
Võ Thị Quỳnh Như
Phân công nhiệm vụ, tìm và tóm tắt bàibáo cáo, tìm tài liệu chương 1, làm filepowepoint và tổng kết file word
Hoàn ThànhTốtNguyễn Văn Toàn
Tóm tắt bài báo cáo, lịch sử nghiên cứuvấn đề và phương pháp nghiên cứu, tìm
tài liệu chương 3
Hoàn ThànhTốt
Lê Hoài Lâm
Tóm tắt bài báo cáo, lịch sử nghiên cứuvấn đề và phương pháp nghiên cứu, tìm
tài liệu chương 2
Hoàn ThànhTốtHuỳnh Thị Diễm Quỳnh pháp nghiên cứu và đóng góp của đề tàiLý do chọn đề tài, lịch sử - phương Hoàn ThànhTốtNguyễn Thành Đạt
Tóm tắt bài báo cáo, lịch sử nghiên cứuvấn đề và phương pháp nghiên cứu, tìm
tài liệu chương 2
Hoàn ThànhTốt
Lê Minh Quốc
Tóm tắt bài báo cáo, lịch sử nghiên cứuvấn đề và phương pháp nghiên cứu, tìm
tài liệu chương 3
Hoàn ThànhTốt
Võ Thị Ái My
Tóm tắt bài báo, lịch sử vấn đề vàphương pháp nghiên cứu, tìm tài liệu
chương 2
Hoàn ThànhTốt
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, nhóm 8 chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đếngiảng viên bộ môn của chúng em – cô Trịnh Thị Mai Linh Trong quá trình học tập và tìm
Trang 4hướng dẫn rất tận tình và tâm huyết của cô; cùng với đó là cách giảng dạy mới lạ, luôn tạo
sự hào hứng và thích thú cho sinh viên trong suốt quá trình học mà cô mang lại Thôngqua bài tiểu luận này, nhóm em xin trình bày lại những gì mà nhóm đã tìm hiểu về vấn đềnày trong lịch sử nhà nước ta gửi đến cô
Bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là môn học thú vị, vô cùng bổ ích vàđặc biệt là giúp sinh viên bổ sung thêm những kiến thức tưởng chừng như đã cũ, nhưngthực ra lại vô cùng quan trọng và ý nghĩa với mỗi sinh viên Tuy nhiên, do vốn kiến thứccòn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ Mặc dù em đã cố gắnghết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗcòn chưa chính xác, kính mong cô xem xét và góp ý để bài tiểu luận của em được hoànthiện hơn
Cuối cùng, một lần nữa xin gửi lời cảm ơn đến cô và bộ môn Xin chúc cô MaiLinh luôn mạnh khỏe và tràn đầy năng lượng, để có thể mang đến cho sinh viên nhữngkiến thức thiết thực và quý báu!
MỤC LỤ
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý Do Chọn Đề TLi 4
Trang 52 Lịch Sử Nghiên Cứu Vấn Đề 4
3 Phương Pháp Nghiên Cứu Vấn Đề 9
4 Bố Cục Tiểu Luận 11
5 Đóng Góp Của Đề TLi 11
PHẦN NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1: ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ THÀNH TỰU CỦA ĐẢNG TA TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY ………13
CHƯƠNG 2: ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ V CỦA ĐẢNG VÀ CÁC BƯỚC ĐỘT PHÁ TIẾP TỤC ĐỔI MỚI KINH TẾ (1982 – 1986) 24
2.1 Đường lối phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986 – 1996 2.2 Đường lối phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1996 - 2001 2.3 Đường lối phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001 – nay CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG VẤN ĐỀ VÀO THỰC TIỄN 32
3.1 Khống chế vL đẩy lùi lạm phát 3.2 Kinh tế tăng trưởng liên tục, cơ cấu có sự chuyển dịch tích cực 3.3 Cân đối của nền kinh tế 3.4 Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hưXng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn sUn xuất vXi thị trường 3.5 Thực hiện có kết quU chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thLnh phần, phát huy ngLy cLng tốt hơn tiềm năng của các thLnh phần kinh tế CHƯƠNG 4: VẬN DỤNG VẤN ĐỀ VÀO THỰC TIỄN - TÌNH HÌNH KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY……… ………
Trang 6HÌNH ẢNH TƯ LIỆU……… TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tLi
Trong nửa cuối thế kỷ 20, Việt Nam là một quốc gia nghèo, đông dân, bị tàn phábởi những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm kéo dài nhiều năm Nền kinh tế vào đầunhững năm 1980 rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng do hậu quả chiến tranh, do mất
Trang 7nguồn viện trợ kinh tế từ các nước xã hội chủ nghĩa và do sự yếu kém của cơ chế quản lýkinh tế, kế hoạch hóa tập trung.
Trước bối cảnh đó, Nhà nước Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mớinền kinh tế từ năm 1986 Việt nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về
tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hộinhập quốc tế Con đường đổi mới đó đã giúp Việt nam giảm nhanh được tình trạng nghèođói,bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tếcao đi đôi với nợ công bằng tương đối trong xã hội
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đường lối kinh tế của ĐUng khi đất nưXc hoLn toLn giUi phóng đến nay
Nếu đánh giá một cách tổng thể về đường lối kinh tế của Đảng ta kể từ khi đấtnước hoàn toàn giải phóng đến nay có thể thấy có sự khác nhau giữa 2 giai đoạn trước vàsau đại hội VI năm 1986 Ở thập kỉ đầu tiên cả nước thống nhất đi lên CNXH, đường lốikinh tế của Đảng ta có nhiều điểm không hợp lý, không phù hợp với điều kiện, tình hìnhcủa nước ta Bước vào thời kì đổi mới (từ năm 1986), Đảng ta đã đưa ra được một đườnglối kinh tế đúng đắn, đường lối kinh tế đó vừa gắn liền với những nguyên lý của chủ nghĩaMác-Lênin, vừa có sự phát triển sáng tạo, phù hợp với điều kiện , hoàn cảnh nước ta Nhờ
có đường lối kinh tế đúng đắn đó đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng: đấtnước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội, tăng trưởng kinh tế luôn ở mứccao (năm 2004 là 7,7 %), tình hình chính trị ổn định, quốc phòng an ninh vững chắc, đờisống nhân dân không ngừng được cải thiện (tính đến 31/12/2002 là khoảng 500 USD/người, vị thế đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế…Những thành tựu
đó chính là cơ sở để khẳng định đường lối kinh tế đúng đắn của đảng ta trong giai đoạnhiện nay
Trang 8Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đổi mới toàn diện, đồng
bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp; đổi mới phải vì lợi ích củanhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát
từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới; phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức khai thácngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới; đổi mới
và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiếnđấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoànthiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân
Quan điểm của ĐUng về đổi mXi kinh tế ở Việt Nam từ 1986 đến nay
Trên lĩnh vực kinh tế, Đảng ta đề ra chủ trương đổi mới cơ cấu kinh tế, thừa nhận
sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế Thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: lươngthực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Từ quan điểm, chủ trương đổi mới,kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, Việt Nam từ một trong nhữngnước nghèo, kém phát triển, với thu nhập bình quân đầu người khoảng 100 USD trở thànhmột nước thoát nghèo với thu nhập bình quân đầu người đạt 2.228 USD năm 2015 Trongsuốt 30 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao
Quan điểm và chính sách đổi mới về kinh tế do Đại hội VI của Đảng đem lại nhữngthành tựu quan trọng: nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã được hình thành, tạo cơ
sở và nền tảng để Đại hội VII khẳng định tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần và đổi mới quản lý kinh tế Từ đó, đất nước ta tiếp tục đạt được nhiều thànhtựu trên lĩnh vực kinh tế-xã hội, đồng thời là cơ sở để Đảng ta tiếp tục hoạch định đườnglối kinh tế qua các kỳ đại hội sau
Với quyết sách chiến lược, độc đáo, sáng tạo về đổi mới cơ cấu kinh tế tại đại hội
VI tiếp tục được kế thừa, phát triển tại Đại hội XII của Đảng Cùng với đổi mới kinh tế,Đảng ta luôn đổi mới phương thức lãnh đạo nhằm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảngtrong quá trình thực hiện quyết sách về kinh tế Trong giai đọan hiện nay với tình hình thế
Trang 9giới và trong nước có những thuận lợi và khó khăn mới, Đảng ta huy tính chủ động, sángtạo đề ra, thực hiện những quyết sách chiến lược vượt qua nguy cơ, thách thức, chớp thời
cơ nhằm đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
Khẳng định đường lối đổi mXi đúng đắn của ĐUng
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ năm
1986 đến nay đã trải qua gần 30 năm Đó là một công trình vĩ đại của Đảng và nhân dân
ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Ngay
từ thời điểm đó cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta luônxác định đúng đắn đường lối, chủ trương đổi mới, hình thức, bước đi và cách tiến hànhphù hợp
Do vậy, công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta từng bước thu đượcnhững thành tựu ngày càng to lớn Qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua khủnghoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thunhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế Kinh
tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hìnhthành, phát triển Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường Vănhoá - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thayđổi Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng Đại đoàn kết toàndân tộc được củng cố và tăng cường Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước phápquyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh Sức mạnh về mọi mặt của đất nước đượcnâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩađược giữ vững Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tíncủa Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1986 đến nay
Ngay từ Đại hội VI, Đảng ta khẳng định đối với nước ta, đổi mới là yêu cầu bức
Trang 10sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên Trong quátrình đổi mới Đảng ta nhận thức ngày càng cụ thể, sát thực tế hơn tính tất yếu, mục tiêu,bản chất, đặc trưng, cấu trúc, thể chế và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường, địnhhướng XHCN Trong Cương lĩnh năm 1991 và Văn kiện Đại hội VII, Đảng ta xác địnhphát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Những năm tiếp theo, Đảng ta đã nhậnthức rõ kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường là phương thức, điều kiện tất yếu để xây dựngchủ nghĩa xã hội; từ chỗ áp dụng cơ chế thị trường tiến đến phát triển kinh tế thị trường,đưa ra quan niệm và từng bước cụ thể hóa mô hình và thể chế kinh tế thị trường địnhhướng XHCN Từ Đại hội IX, Đảng ta khẳng định, phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ với nhiều hình thức sởhữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức tổ chức kinh doanh và phân phối Tiếp đó,Đại hội X của Đảng đã tiếp tục cụ thể hóa về định hướng XHCN của nền kinh tế thịtrường ở Việt Nam Với Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X), các vấn đề về mô hình, bảnchất, đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được làm sáng tỏ Và tớiĐại hội XI, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục được hoàn thiện vớiquan niệm: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sựlãnh đạo của Đảng.
Đặc biệt Đảng ta nhận thức rõ hơn nội dung và các yếu tố bảo đảm định hướngXHCN trong nền kinh tế thị trường với mục tiêu xuyên suốt là "dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh"; giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, từng bước hoàn thiện quan
hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; bảo đảm tăngtrưởng kinh tế gắn với thực hiện công bằng xã hội… Nền kinh tế thị trường định hướngXHCN ở nước ta có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chứckinh doanh Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể không ngừngđược củng cố và phát triển, kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế,kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển Các thành phần kinh tế
Trang 11hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳngtrước pháp luật, cùng phát triển, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu gắn vXi lý luận thực tiễn
Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn là bộ phận cấu thành quan trọng nhất củacông tác lý luận nói chung Để làm tốt công tác này, trước hết, cần nhận thức rõ mối quan
hệ biện chứng giữa lý luận và nghiên cứu lý luận với thực tiễn và tổng kết thực tiễn Chỉtrong môi trường dân chủ thì nghiên cứu lý luận mới có thể tìm tòi, khám phá, phát hiện
ra những vấn đề đòi hỏi phải tổng kết thực tiễn để kiểm chứng, chứng minh, khẳng địnhhay bác bỏ.Cũng chỉ trong môi trường dân chủ thực sự thì tổng kết thực tiễn mới nhìnthẳng vào sự thật, mới dám rút ra những kết luận trái với mong muốn của các chủ thểnhưng khách quan, trên cơ sở đó, giải đáp và trả lời được về mặt lý luận Nhiều năm qua,giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và Hội đồng Lý luận Trung ương đã có những cố gắngphối hợp trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Hai bên đã tổ chức nhiều đề tàinghiên cứu khoa học, nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm Tuy nhiên, chất lượng các sản phẩmđạt được chưa cao Có những công trình được nghiệm thu với mức đánh giá cao nhưng ít
đi vào cuộc sống
Phương pháp logic
Phương pháp lô-gic là phương pháp sử dụng các luận điểm khoa học nhằm xemxét, nghiên cứu, khái quát, lý giải các sự kiện lịch sử Từ đó, đánh giá, rút ra kết luận, chỉ
ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của lịch sử
Để đảm bảo vận dụng phương pháp lô-gic trong công tác nghiên cứu, biên soạnlịch sử Đảng bộ, đòi hỏi người viết phải đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế,khuyết điểm của Đảng bộ địa phương lãnh đạo phong trào cách mạng; nêu đúng mức
Trang 12đóng góp của Đảng bộ và Nhân dân địa phương đối với phong trào cách mạng của Đảng
bộ cấp trên và cả nước
Phương pháp lịch sử
Phương pháp lịch sử là phương pháp xem xét và trình bày quá trình phát triển củacác sự kiện lịch sử, phong trào cách mạng theo một trình tự liên tục, trong mối liên hệ tácđộng lẫn nhau của chúng Yêu cầu đối với phương pháp lịch sử là đảm bảo tính liên tục vềthời gian của các sự kiện, phong trào; làm rõ điều kiện, đặc điểm phát sinh, phát triển vàbiểu hiện của chúng; làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của chúng với các sự kiện,phong trào khác Qua đó, chúng ta sẽ thấy trong quá trình hình thành, phát triển và lãnhđạo của các Đảng bộ có sự liên hệ và tác động lẫn nhau trong suốt quá trình cách mạng đểcùng thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng Vận dụng đúng phương pháp lịch sử giúpchúng ta khôi phục sự thật lịch sử một cách chân thực, khách quan Phương pháp lịch sử
có vai trò quan trọng Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng riêng lẻ phương pháp lịch sử thì côngtrình nghiên cứu, biên soạn sẽ rơi vào tình trạng chất đống sự kiện, không khái quát, đúckết, chỉ ra được những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm; cần phải kết hợpphương pháp lô-gic nhằm bổ sung, hỗ trợ cho nhau Việc vận dụng đúng hai phương phápnày góp phần làm nên chất lượng của công trình
Phương pháp quy nạp
Quy nạp là quá trình rút ra nguyên lý chung từ sự quan sát một loạt những sự vậtriêng lẻ Điều kiện khách quan của quy nạp là tính lặp lại của một loại hiện tượng nàođó.Phương pháp quy nạp giúp cho việc khái quát kinh nghiệm thực tiễn về những cáiriêng để có được tri thức kết luận chung Quy nạp đóng vai trò lớn lao trong việc khámphá ra quy luật, đề ra các giả thuyết Tuy nhiên, quy nạp cũng có những hạn chế của nó,nhất là đối với loại quy nạp phổ thông theo lối liệt kê giản đơn Thuộc tính chung được rút
ra bằng quy nạp từ một số hiện tượng lại có thể không có ở tất cả các hiện tượng cùng loại
Trang 13nếu nó không liên quan đến bản chất của hiện tượng và do các điều kiện bên ngoài quyđịnh Quy nạp chưa thể xác định được thuộc tính đó là tất nhiên hay ngẫu nhiên Để khắcphục hạn chế của quy nạp, cần phải có diễn dịch và bổ sung bằng diễn dịch.
Phương pháp nghiên cứu phân tích
Phân tích là phương pháp nghiên cứu, là sự phân chia cái chung, các bộ phân khácnhau nhằm nghiên cứu sâu sắc các sự kiện, mốc thời gian, quá trình; nhận biết các mốiquan hệ bên trong và sự phụ thuộc trong sự phát triển của các sự kiện, quá trình đó theochiều dài lịch sử Phân tích có nghĩa là chẻ vấn đề ra thành từng mảnh nhỏ, để hiểu đượcvấn đề từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài của những vấn đề đã xảy ra trong các thời kìtrước trong quá khứ .Lịch sử là môn học khá trừu tượng trong đó sử dụng câu chuyện đểkiểm tra và phân tích chuỗi các sự kiện trong quá khứ, và khách quan xác định các môhình nhân quả đã ảnh hưởng đến các sự kiện trên Các nhà sử học đôi khi tranh luận vềbản chất của lịch sử và tính hữu dụng của nó bằng cách thảo luận nghiên cứu về chínhlịch sử như một cách để cung cấp “tầm nhìn” về những vấn đề hiện tại.Các kỹ năng suynghĩ và lý luận thì có lẽ kỹ năng phân tích được xem là quan trọng hơn cả Phương phápphân tích giúp nhận thức vấn đề đúng đắn,sáng suốt về hiện thực lịch sử đấu tranh và lãnhđạo của Đảng và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam
Phương pháp tổng hợp
Tổng hợp là quá trình ngược với quá trình phân tích, nhưng lại hỗ trợ cho quá trìnhphân tích để tìm ra cái chung cái khái quát.Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phảitổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra được bản chất, quy luậtvận động của đối tượng nghiên cứu Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bóchặt chẽ quy định và bổ sung cho nhau trong nghiên cứu, và có cơ sở khách quan trongcấu tạo, trong tính quy luật của bản thân sự vật Trong phân tích, việc xây dựng một cáchđúng đắn tiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu bộ
Trang 14phận ấy, có ý nghĩa rất quan trọng Trong nghiên cứu tổng hợp vai trò quan trọng thuộc vềkhả năng liên kết các kết quả cụ thể( có lúc ngược nhau) từ sự phân tích, khả năng trìutượng, khái quát nắm bắt được mặt định tính từ rất nhiều khía cạnh định lượng khác nhau.
Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp nghiên cứu nhờ so sánh mà vạch ra cái chung và cái đặc thù trongcác hiện tượng lịch sử, trình độ phát triển và xu hướng phát triển của các hiện tượng ấy.Các hình thức của phương pháp so sánh – lịch sử gồm: phương pháp đối chiếu, so sánhloại hình lịch sử, so sánh nguồn gốc phát sinh, so sánh trong đó ghi lại ảnh hưởng lẫnnhau của các hiện tượng khác nhau Phương pháp so sánh – lịch sử được công nhận rộngrãi từ thế kỉ 19 và được áp dụng trong các khoa học khác nhau như sử học, ngôn ngữ học,dân tộc học, luật học, Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã sử dụng phương phápnày để nghiên cứu các hình thái kinh tế - xã hội, các kiểu kiến trúc kinh tế và chính trịkhác nhau của cùng một hình thái, các phong trào xã hội và các hệ tư tưởng
Phương pháp diễn dịch
Là quá trình vận dụng nguyên lý chung để xem xét cái riêng, rút qua kết luận riêng
từ nguyên lý chung đã biết Tuy nhiên, muốn rút ra kết luận đúng bằng con đường diễndịch thì tiền đề phải đúng và phải tuân theo các quy tắc lô-gic, phải có quan điểm lịch sử
cụ thể khi vận dụng cái chung vào cái riêng, diễn dịch là phương thứ xây dựng lý thuyếtnhư toán học… Phương pháp diễn dịch có ý nghĩa quan trọng đối với các khoa học lýthuyết như toán học… Phương pháp diễn dịch bao gồm ba bộ phận: tiền đề, quy tắc xâydựng lô-gic và kết luận Tiền đề là những phán đoán để biết, chúng là căn cứ và lý do đểsuy luận
1 Bố cục tiểu luận
Lời cảm ơn
Phần mở đầu:
- Lý do chọn đề tài
Trang 15- Lịch sử nghiên cứu của vấn đề
- Phương pháp nghiên cứu vấn đề
- Bố cục tiểu luận
- Đóng góp của đề tài
Phần nội dung:
- Chương 1: Sự cấp thiết trong vấn đề phát triển nền kinh tế Việt Nam 1986
- Chương 2: Quá trình phát triển nền kinh tế Việt nam theo đường lối của ĐảngCSVN
- Chương 3: Những thành tựu của Đảng trong việc phát triển nền kinh tế Việt Nam
Đối vXi người học:
Giúp người học nắm được Đường lối, Cương lĩnh, những kiến thức có hệ thống vềquá trình phát triển đường lối đổi mới và phát triển kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng Thông qua những kiến thức đã trang bị giúp học viên có kỹ năng phân tích, tổnghợp và tư duy lý luận gắn liền với thực tiễn, phát huy tính năng động, sáng tạo Từ đó,khái quát được tình hình kinh tế của nước ta trong bối cảnh hiện nay
Củng cố niềm tin của sinh viên về những thắng lợi của Đảng trong lãnh đạo đưanền kinh tế vực dậy và phát triển (1986 – nay), củng cố niềm tin và lòng tự hào vào sựlãnh đạo của Đảng đối với sự bối cảnh kinh tế hiện nay
Đối vXi cơ sở đLo tạo:
Trang 16Thấy được những ưu điểm – đưa ra định hướng kịp thời và hiệu quả Bên cạnh đó
là những mặt hạn chế trong công cuộc xây dựng đường lối đổi mới, từ đó xây dựng cácchính sách cải thiện tốt hơn, góp phần vào sư phát triển của kinh tế Việt Nam trong thờiđiểm khó khăn hiện nay
Đối vXi môn đường lối ĐUng cộng sUn Việt Nam:
Tạo sự hứng khởi khi tìm hiểu bộ môn
Xây dựng giáo án vững chắc của bộ môn
PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1: SỰ CẤP THIẾT TRONG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH
TẾ VIỆT NAM NĂM 1986
Thực trạng nền kinh tế Việt Nam trước năm 1986:
Trong nửa cuối thế kỷ 20, Việt Nam là một quốc gia nghèo, đông dân, bị tàn phábởi những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm kéo dài nhiều năm Nền kinh tế vào đầu
Trang 17những năm 1980 rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng do hậu quả chiến tranh, do mấtnguồn viện trợ kinh tế từ các nước xã hội chủ nghĩa và do sự yếu kém của cơ chế quản lýkinh tế kế hoạch hoá tập trung.
Nền kinh tế Việt Nam vận hành theo kiểu kế hoạch hóa tập trung và cùng với cơchế quan liêu bao cấp đã bắt đầu bộc lộ bất cập, tác động tiêu cực đến sản xuất côngnghiệp, nông nghiệp và đời sống xã hội
Sản xuất nông nghiệp trì trệ, nạn thiếu lương thực xảy ra triền miên, sản xuất côngnghiệp theo thống kê vẫn tăng về giá trị nhưng thật ra đại đa số nhà máy, xí nghiệp quốcdoanh ở tình trạng lãi giả, lỗ thật, vì được nhà nước bao cấp tràn lan lưu thông phân phốiách tắc Lạm phát đạt tới tốc độ “phi mã” với chỉ số tăng giá bán lẻ năm 1986 là 774,7% .Đồng tiền mất giá theo từng năm, vì thế mọi giao dịch như bán nhà, xe máy hay các vậtdụng có giá trị đều tính bằng cây, bằng chỉ (vàng) Tại Hà Nội, tiêu chuẩn lương thựccung cấp cho cán bộ và nhân dân vẫn như vậy song ngành lương thực chạy bở hơi tai vẫnkhông lo đủ nên các cửa hàng chỉ bán một số lượng nhất định cho một lần mua Có giađình tiêu chuẩn chỉ 60 cân gạo nhưng phải mua tới 6 lần và dĩ nhiên một lần mua gạo làmột lần vất vả Lương của cán bộ và công nhân viên chức chỉ đủ sống từ 1 tuần đến 10ngày Ví dụ: Ăn gạo “mậu dịch” (gạo từ kho các cửa hàng lương thực của Nhà nước) hôi
đủ các thứ mùi: gián, mốc và có khi là xăng dầu , có khi lẫn những hạt sạn to như hạtngô Mỗi tháng được nhận thịt theo chỉ tiêu nhất định Mỗi tổ phải tự bắt thăm Ai trúngthì lĩnh trước, không trúng thì chờ đợt sau Tất cả các mặt hàng đều cần phải mua qua temphiếu: phụ tùng xe đạp, phụ tùng xe máy, vải, xăng… Những điều nói trên cộng vớinhững hậu quả nặng nề chưa giải quyết xong của hơn 30 năm chiến tranh ác liệt, đã khiếncho đời sống của tầng lớp nhân dân sa sút nghiêm trọng ở thành thị lương tháng của côngnhân, viên chức không đủ chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống ở nông thônlúc giáp hạt có tới hàng triệu gia đình thiếu ăn; tiêu cực xã hội lan rộng, lòng dân khôngyên
Trang 18Đảng quyết định đưa ra đường lối mới để phát triển nền kinh tế Việt Nam:
Liên tưởng một cách nôm na thì nền kinh tế cũng giống như con người Khi cáchthức sinh hoạt và làm việc không hợp lý hoặc không còn phù hợp với hoàn cảnh mới thì
cơ thể sẽ trở nên ốm yếu mệt mỏi, các bộ phận làm việc cũng không còn hiệu quả Chuỗinguyên nhân này dẫn đến việc chúng ta không giữ được thành tích làm việc như trước, vàcuối cùng là thu nhập của chúng ta giảm sút Chất lượng cuộc sống theo đó mà đi xuống.Khi rơi vào hoàn cảnh như vậy, điều cần thiết đối với con người là thay đổi cáchthức sinh hoạt và làm việc nói trên Còn đối với một nền kinh tế mệt mỏi thì điều cần thiếtchính là những cuộc tái cơ cấu
Nhận thức được những vấn đề cấp bách trên, Đảng ta đã đề ra đường lối xây dựngmột nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo hướng xã hội chủ nghĩa hoạt động theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước thay cho cơ chế kinh tế tập trung quan liêubao cấp – cơ chế được xây dựng trong tình trạng cơ sở vật chất và trình độ phát triển lạchậu Nhà nước Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm
1986 Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duy kinh tế,chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa
và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM THEO
ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 2.1 Đường lối phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986 – 1996
Sự thất bại trong công cuô ‘c cải tổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu và thành côngcủa công cuô ‘c cải cách ở Trung Quốc đã có tác đô ‘ng mạnh mẽ đến nước ta Tình hình đóchứng minh rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hô ‘i ở Liên Xô và các nước Đông Âu khôngphải là sự khủng hoảng mang tính bản chất của chủ nghĩa xã hô ‘i nói chung mà chỉ là sự
Trang 19thất bại của mô ‘t mô hình xã hô ‘i chủ nghĩa cụ thể không phù hợp; nhiệm vụ của Đảng
Cô ‘ng sản tại các nước là phải đẩy nhanh tiến trình đổi mới, cải cách, tìm ra mô hình kinh
tế - xã hô ‘i phù hợp với thực tiễn mỗi nước Hơn nữa, những kinh nghiệm thành công củacác nước công nghiệp mới (NIC) ở Đông Á cũng đã cung cấp cho Việt Nam những bàihọc sâu sắc về con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhất là những bài học về hô ‘inhập quốc tế, hướng về xuất khẩu, phát huy cao nhất nô ‘i lực của đất nước,… Thế nhưngđối với công cuô ‘c đổi mới ở Việt Nam thì nguyên nhân chủ quan trong nước mới là nhân
tố quyết định nhất Những khó khăn từ tình hình bên ngoài cô ‘ng với sai lầm và bất cậptrong chính sách kinh tế cũng như quản lý điều hành đã dẫn đến sự mất cân đối lớn trongnền kinh tế Như việc phủ nhận, dẫn đến chủ trương xóa bỏ hoàn toàn thành phần kinh tế
tư nhân; xem nhẹ vai trò của cơ chế thị trường tế: kinh tế quốc doanh và tập thể khôngphát huy được hiệu quả, luôn trong tình trạng thua lỗ trong khi kinh tế tư nhân, cá thể bịngăn cấm; sản xuất tăng trưởng chậm, năng xuất lao đô ‘ng thấp, đời sống nhân dân gặpnhiều khó khăn
Trước tình hình đó, Đại hô ‘i Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã thể hiện rõ tưduy đổi mới với tinh thần “chỉ có đổi mới thì mới thấy đúng và thấy hết sự thật, thấynhững nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa”, do đó phải “nhìn thẳng vào
sự thật, tôn trọng sự thật, nói đúng sự thật” Đại hô ‘i xác định, trong nhiều năm qua, Đảng
đã mắc phải “những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương chính sách lớn” Mô ‘ttrong những nguyên nhân quan trọng được chỉ ra là “do chưa nhận thức đầy đủ rằng, thời
kỳ quá đô ‘ lên chủ nghĩa xã hô ‘i là mô ‘t quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiềuchặng đường và do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vô ‘i, muốn bỏ qua những bước đi cầnthiết…” Trên cơ sở đó, Đại hô ‘i chỉ ra sự cần thiết không thể thay thế của các thành phầnkinh tế trong mô ‘t nền kinh tế thống nhất, phải “sử dụng mọi khả năng của các thành phầnkinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ theo nguyên tắc bảo đảm phát triển sản xuất, nângcao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho người lao đô ‘ng”… Cụ thể hóa những tư duy đổimới trên, trong “phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế xã hô ‘i 5 năm 1986-1990”, nêulên mục tiêu ba chương trình kinh tế lớn: lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng
Trang 20trọng trong định hướng xây dựng phát triển đất nước trên tinh thần đổi mới mô ‘t cách toàndiện và sâu sắc, trước hết là đổi mới trong tư duy kinh tế; đã phá vỡ những quan điểm cũ
kỹ, bảo thủ, mở đường cho những tư duy tiến bô ‘, mới mẻ Và do đó, những hiện tượng
“phá rào” trong những năm trước đó không những đặt ra yêu cầu cấp thiết cho công cuô ‘cđổi mới mà còn là cơ sở thực tiễn để kiểm chứng, là những hạt giống đầu tiên cho quátrình phai phá những ý tưởng, cách làm mới trong chặng đường đổi mới sắp tới Từ đây,
“sau hơn một thập kỷ, ý tưởng phát triển bằng cách huy động toàn diện Đảng và Nhànước đã nhường chỗ cho ý tưởng cho rằng chức năng chính của Nhà nước là tạo ra cơ sở
hạ tầng vật chất xã hội và môi trường chính sách ổn định cần thiết cho sự phát triển côngbằng, dựa trên cơ sở thị trường” Như vậy, sau mô ‘t quá trình tìm kiếm, thử nghiệm, đếnĐại hô ‘i VI Đảng ta đã nắm bắt được chính xác cái “chìa khóa” quyết định nhất đề đổi mớinền kinh tế nước ta chính là đổi mới cơ chế kinh tế, chấm dứt cơ chế tập trung quan liêubao cấp, chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường Tư duy đổi mới đã có, nhưng những nămsau đó, nhất là giai đoạn 1987-1988 là những năm áp dụng đường lối đổi mới vào thựctiễn mô ‘t cách khó khăn do tác đô ‘ng bởi những hệ lụy của quá khứ bao cấp lẫn những vấn
đề mới đặt ra trong bối cảnh tình hình trong và ngoài nước có nhiều chuyển biến phức tạp.Đây cũng là giai đoạn chứng kiến những điều chỉnh hợp lý, cẩn trọng, hiệu quả trong việc
áp dụng dụng các chính sách kinh tế mới
Từ ngày 11/3/1987, Nhà nước ban hành quy định bãi bỏ các trạm kiểm soát trên tất
cả các tuyến giao thông trong nước, tạo điều kiện cơ bản cho thúc đẩy lưu thông hàng hóagiữa các địa phương Ngày 14/11/1987, Hô ‘i đồng Bô ‘ trưởng ban hành Quyết định số 217-HĐBT về việc giao quyền tự chủ cho các xí nghiệp quốc doanh, xóa bỏ hệ thống chỉ tiêukinh tế, chỉ còn hai chỉ tiêu là giá trị sản lượng và khoản nô ‘p ngân sách Với Quyết địnhnày, Nhà nước tiến tới xóa bỏ phần lớn các chỉ tiêu kinh tế mang tính áp đặt, giao quyền
tự chủ lớn hơn cho các xí nghiệp quốc doanh, tạo điều kiện để đẩy mạnh sản xuất, tăngnăng xuất lao đô ‘ng trên cơ sở thực tế hoạt đô ‘ng tại xí nghiệp Ngày 9/3/1988, Hô ‘i đồng
Bô ‘ trưởng ban hành Nghị định số 27-HĐBT về kinh tế tư doanh và và Nghị định số HĐBT về kinh tế gia đình, cho phép phục hồi lại thành phần kinh tế tư nhân Các Nghịđịnh này không những tháo gỡ những ách tắc trong sản xuất kinh doanh, phát huy tối đa
Trang 2129-các nguồn nô ‘i lực vào phát triển kinh tế, mà còn thể hiện rõ mô ‘ t bước tiến lớn trong việc
cụ thể hóa quan điểm thừa nhận mô ‘t nền kinh tế có nhiều thành phần Ngày 5/4/1988, Bô ‘Chính trị ban hành Nghị quyết 10/NQ về đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp, tiếptục cải tiến chế đô ‘ khoán sản xuất nông nghiệp Nghị quyết nêu rõ: “Công nhận sự tồn tạilâu dài và tác động tích cực của kinh tế cá thể tư nhân trong quá trình đi lên chủ nghĩa xãhội, thừa nhận tư cách pháp nhân, đảm bảo bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trước phápluật, bảo hộ quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ cá thể tư nhân” Cho đến năm 1990, “nền kinh tế Việt Nam về những phương diện quan trọng nhất có thểđược xem như một nền kinh tế thị trường – dù rằng với những thị trường kém phát triểnhoặc không tồn tại đối với đất đai, lao động và vốn Sự chuyển đổi đã hoàn tất Hầu hếtcác giao dịch đều dựa trên cơ sở trao đổi tự nguyện và cùng có lợi Điều này hoàn toànkhác với những chỉ thị bắt buộc của hệ thống kế hoạch hóa tập trung” Những chủ trươngđổi mới, chuyển hướng nền kinh tế tiếp tục được khẳng định và đẩy mạnh thực hiện trongcác kỳ Đại hô ‘i Đảng toàn quốc kế tiếp Đại hô ‘i VII (1991) và Đại hô ‘i VIII (1996) đãkhẳng định sự tồn tại và định hướng phát triển của nền kinh tế Việt Nam theo cơ chế thịtrường
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam bước ra khỏi cuô ‘cchiến với hành trang xây dựng đất nước là niềm hân hoan của ngày vui thống nhất Từđây, đất nước ta đứng trước những thời cơ, vận hô ‘i mới xen lẫn với những thử tháchkhông nhỏ trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: vừa đồng thời tiếp tục cầm súngbảo vệ biên giới lãnh thổ; vừa ra sức củng cố chính quyền thống nhất còn non trẻ, xâydựng và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hô ‘i… Những diễn biến khó lường và phức tạpcủa đời sống quan hệ quốc tế những năm 1970-1980 đã có tác đô ‘ng xấu đến tình hìnhkinh tế - chính trị trong nước, đặc biệt là cuô ‘c khủng hoảng ở hàng loạt các nước xã hô ‘ichủ nghĩa Trong bối cảnh đó, để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, bảo vệ thành quảcách mạng vừa giành được, Đảng Cô ‘ng sản Việt Nam đã khởi xướng công cuô ‘c đổi mới ởnước ta từ Đại hô ‘i Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) với trọng tâm là chuyển đổi nền kinh
tế kế hoạch tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hô ‘i chủ nghĩa Kể
Trang 22hô ‘i, tăng tốc phát triển kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng, chủ đô ‘ ng hô ‘i nhập quốctế… Cùng với Trung Quốc, nước ta mô ‘t trong số ít những nước xã hô ‘i chủ nghĩa đã thànhcông trong công cuô ‘c đổi mới, cải cách, giữ vững được chế đô ‘ xã hô ‘i chủ nghĩa và cónhững bước phát triển đô ‘t phá về kinh tế Bài học về con đường đổi mới ở Việt Nam sẽcòn được nhắc đến như là mô ‘t trong những hình mẫu chuyển đổi mô hình kinh tế thànhcông nhất, để lại nhiều bài học quý báu và sâu sắc.
2.2 Đường lối phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1996 - 2001
Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, lực lượng sản xuất ở nước ta đã có nhữngbước phát triển mạnh mẽ, nền kinh tế – xã hội không ngừng được ổn định và phát triển
Từ thực tiễn đó, tại Đại hội VIII năm 1996, Đảng ta nhận định: nước ta đã chuyển sangthời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đây là một nhậnđịnh cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa chỉ đạo đối với việc đề ra phương hướng, nhiệm vụsắp tới
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá được Đảng ta chỉ rõ là: “xây dựngnước ta trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu hợp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đờisống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, văn minh” “Từ 1996 đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bảntrở thành một nước công nghiệp” Công nghiệp hoá, hiện đại hoá chính là nhằm đẩy mạnh
sự phát triển của lực lượng sản xuất, giúp cho quá trình cơ khí hoá, hiện đại hoá được diễn
ra nhanh hơn Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nội dung không thể thiếu trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội Lê nin đã từng khẳng định: “cơ sở kinh tế duy nhất có thể cóđược của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ khí Ai quên điều đó, người đókhông phải là người cộng sản” Tất nhiên, trong quá trình này người lao động phải khôngngừng nâng cao trình độ khoa học và kiến thức chuyên môn để sử dụng, cải tiến và sáng
Trang 23tạo ra những công cụ lao động tiên tiến nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầucủa con người.
Để khẳng định nền kinh tế nhiều thành phần mà chúng ta đang xây dựng là nềnkinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng chỉ rõ: “cần thiết phải chăm lođổi mới và phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác, làm cho kinh tế nhà nước làm
ăn thực sự có hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã phấn đấu dầndần trở thành nền tảng của nền nền kinh tế quốc dân” Một đặc trưng cơ bản của chủnghĩa xã hội là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Do vậy, Đảng ta đặc biệt coi trọng sựphát triển của kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã nhằm củng cố và phát triển chế độcông hữu về tư liệu sản xuất Cho nên, mặc dù nền kinh tế nước ta có sự tham gia củanhiều thành phần kinh tế khác nhau nhưng vẫn đảm bảo được sự phát triển của nền kinh
tế đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Đối với kinh tế hợp tác xã, Đảng đã có những điều chỉnh thích hợp với cơ chế thịtrường: “Hợp tác xã được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao độngtrực tiếp của xã viên, phân phối theo kết quả lao động và theo cổ phần, mỗi xã viên cóquyền như nhau đối với công việc chung” Như vậy, sự điều chỉnh này đã đảm bảo đượctính tự nguyện của người lao động khi tham gia hợp tác xã do có được cơ chế gắn ngườilao động với sản xuất, đảm bảo được lợi ích kinh tế của các xã viên Đây chính là nhữngđiều kiện, những yêu cầu đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế hợp tác xã trongnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Với mục đích huy động vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy các doanh nghiệp nhànước làm ăn có hiệu quả, Đảng nhấn mạnh tới việc thực hiện chủ trương cổ phần hoá một
bộ phận doanh nghiệp nhà nước Điều đó cũng có nghĩa là chấp nhận sự tham gia của cácthành phần kinh tế khác trong các doanh nghiệp nhà nước Thực chất của giải pháp nàychính là để phát triển kinh tế tư bản nhà nước và đa dạng hoá các loại hình sở hữu trongcác doanh nghiệp nhà nước
Trang 24Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nền kinh tế nhiều thành phầnkhông thể tách rời việc xây dựng đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trường có sựquản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng ta khẳng định: “cơ chế thịtrường đã phát huy tác dụng tích cực to lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội Nó chẳngnhững không đối lập mà còn là một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng vàphát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa” Nền kinh tế đất nước sau nhữngnăm vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã đạt được những thànhtựu to lớn, nền kinh tế đã thoát ra khỏi khủng hoảng, sản xuất phát triển, hàng hoá dồidào, lưu thông thuận lợi… Cơ chế thị trường có tác dụng như một guồng máy hoạt độngcủa nền sản xuất và trong lưu thông hàng hoá, nó tạo được mối liên kết chặt chẽ giữa sảnxuất nông nghiệp với sản xuất công nghiệp Đồng thời nó cũng có tác dụng như là mộtcông cụ, một phương thức để đảm bảo tăng trưởng kinh tế và mở ra cơ hội để tiếp xúc vớibên ngoài… Cho nên, sự tồn tại của cơ chế thị trường là yếu khách quan và tất yếu đốivới công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
2.3 Đường lối phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001 – nay
Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta có bước phát triểnmới về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế, thành công bướcđầu trong việc chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục mộtbước tình trạng nước nghèo và kém phát triển, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước
Tuy nhiên, trình độ phát triển của nước ta còn thua kém nhiều so với một số nướcxung quanh và nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn vẫn là thách thức Hoàn cảnh đó đòi hỏitoàn Đảng, toàn dân ta phải tiếp tục nỗ lực phấn đấu để thúc đẩy nền kinh tế nước ta pháttriển mạnh mẽ hơn nữa Tại Đại Hội IX năm 2001, Đảng ta thể hiện rõ quyết tâm đưa
Trang 25nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệptheo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạtầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, vị thế của nước ta trên trườngquốc tế được nâng cao Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì nhất thiết phải cómột nền sản xuất phát triển, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định đối với sự phát triểncủa nền sản xuất Nhưng lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển khi có một quan hệ sảnxuất phù hợp với nó, chính vì vậy tại đại hội IX Đảng ta tiếp tục khẳng định thực hiệnnhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vậnđộng theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa.
Giai đoạn 2001 - 2005: Sự nghiệp đổi mới ở giai đoạn này đi vào chiều sâu, việctriển khai Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 và Kế hoạch 5 năm 2001 -
2005 mà Đại hội IX của Đảng thông qua đã đạt được những kết quả nhất định Nền kinh
tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, theo hướng tích cực, năm sau cao hơn năm trước GDPtăng bình quân 7,5%/năm, riêng năm 2005 đạt 8,4%; trong đó, nông nghiệp tăng 3,8%;công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%; các ngành dịch vụ tăng 7% Riêng quy mô tổng sảnphẩm trong nước của nền kinh tế năm 2005 đạt 837,8 nghìn tỷ đồng, tăng gấp đôi so vớinăm 1995 GDP bình quân đầu người khoảng 10 triệu đồng (tương đương 640 USD), vượtmức bình quân của các nước đang phát triển có thu nhập thấp (500 USD) Từ một nướcthiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu từ 50 vạn đến 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trởthành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Năm 2005, Việt Nam đứng thứ nhất thế giới
về xuất khẩu hạt tiêu; đứng thứ hai về các mặt hàng gạo, cà phê, hạt điều; thứ 4 về cao su;
…
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, bảo đảm sự
ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh, bước đầu phát huy được nhiều lợi thếcủa đất nước, của từng vùng và từng ngành; cải cách thể chế kinh tế, từng bước hoàn