Lí do chọn đề tài Logic học là khoa học nghiên cứu những qui luật và hình thức suyluận của tư duy nhằm đi tới nhận thức đúng đắn về hiện thực khách quan.Logic học phát triển từ rất sớm v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TPHCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-oOo -MÔN HỌC: NHẬP -oOo -MÔN LOGIC HỌC
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
Trần Nguyễn Thanh Trúc 21129099
Tp Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2022
Trang 2ĐIỂM SỐ
ĐIỂM
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Ngày tháng năm 2022
Ký tên
Trang 3II Lịch sử vấn đề
2
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2
1 Đối tượng nghiên cứu
3
2 Phạm vi nghiên cứu
3
IV Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1.1 Khái niệm về truyện cười
4
Trang 41.2 Khái niệm về truyện cười logic
4
2 Một số đặc điểm của truyện cười dân gian
1.2 Sự hình thành và phát triển của logic học
7
2 Ý nghĩa của logic học 10
3 Mối liên hệ giữa logic và ngôn ngữ 12
4 Vì sao có thể coi logic là điểm tựa trong việc nghiên cứu tự nhiên? 13Chương 2: Các ví dụ về tính logic trong truyện cười dân gian Việt Nam 15KẾT LUẬN 22TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 5MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Logic học là khoa học nghiên cứu những qui luật và hình thức suyluận của tư duy nhằm đi tới nhận thức đúng đắn về hiện thực khách quan.Logic học phát triển từ rất sớm và đã đạt được rất nhiều thành tựu, đầu tiên vàchủ yếu là ở lĩnh vực toán học Logic học được vận dụng vào khoa học xã hộitrong từ nửa cuối kỉ XX, đặc biệt là ngành ngôn ngữ học Logic học trở thànhđiểm tựa trong việc nghiên cứu ngôn ngữ tự nhiên Mối quan hệ giữa logichọc và ngôn ngữ học càng trở nên gắn bó, điều này đã trở thành đề tài hấp dẫnđối với các nhà nghiên cứu khám phá, tìm hiểu
Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ học trên cơ sở logic họccũng được quan tâm và chú ý Những công trình nghiên cứu về logic ngônngữ học đã và đang hé mở nhiều vấn đề thú vị, hấp dẫn Cho nên, mặc dù biếtviệc vận dụng logic học vào ngôn ngữ không phải là một việc làm đơn giản,
dễ dàng, nhưng chúng tôi vẫn quyết định chọn đề tài theo hướng nghiên cứulogic của ngôn ngữ học
Truyện cười dân gian Việt Nam ra đời và phát triển cùng với quá trìnhlao động sản xuất và đời sống nhân dân, là một bộ phận quan trọng của vănhọc dân gian được đưa vào việc giảng dạy ở các cấp học Truyện cười đóngmột vai trò quan trọng, nó không chỉ là phương thức tạo ra tiếng cười mua vuicho mọi người để giải tỏa muộn phiền mà truyện cười còn có tác dụng phêphán, châm biếm, mỉa mai các thói hư tật xấu của con người Có khi nó đượcxem như là một thứ vũ khí sắc bén để đấu tranh chống lại những bất công củatầng lớp trên
Truyện cười đã được nghiên cứu ở các phương diện thi pháp truyệncười, hàm ý hội thoại trong truyện cười hay ngữ pháp truyện cười,… Ở từngphương diện các vấn đề thuộc nội dung và hình thức đã được bàn đến ởnhững mức độ khác nhau Vấn đề “Logic trong một số truyện cười dân gianViệt Nam” mà chúng tôi chọn để khai thác trong khóa luận này còn khá mới
mẻ, hấp dẫn Trong quá trình thực hiện tiểu luận nhóm không tránh nhữngthiếu sót và mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy
II Lịch sử vấn đề
Trang 6Logic học là một khoa học đã có từ thời cổ đại với tên tuổi của nhàbác học nổi tiếng của Hi Lạp Aristote (384-322 TCN) Logic học ngày càngphát triển và hoàn thiện hơn qua các giai đoạn: thời cổ đại, thời trung đại, thờiphục hưng và cho đến hiện đại ngày nay Tuy nhiên thì phải đến nửa cuối thế
kỉ XX, logic học mới xâm nhập mạnh vào các ngành khoa học xã hội trong đó
có ngôn ngữ học Các phương pháp và các loại logic khác nhau đã được vậndụng rất nhiều và thành công trong những khảo cứu ngôn ngữ trên thế giới
Ở Việt Nam, vấn đề logic và ngôn ngữ được đề cập khá muộn Phảiđến năm 1987, cuốn sách “Logic – ngữ nghĩa – cú pháp” của Nguyễn ĐứcDân mới được xuất bản với những kiến thức cơ bản về logic Trên nền tảngcuốn sách trên vào năm 1998, tác giả Nguyễn Đức Dân đã cho ra đời cuốnsách “Logic và tiếng Việt” – NXB Giáo dục, cuốn sách đã khắc phục đượcphần thiếu sót của “Logic – ngữ nghĩa – cú pháp” và đồng thời chỉ ra đượcmối quan hệ tất yếu thú vị của ngôn ngữ Tiếng Việt từ cái nhìn logic Sau đónăm 2003 Hoàng Phê đã tái bản và sửa chữa cuốn sách “Logic – ngôn ngữhọc” góp phần tạo nền tảng cơ sở cho sự ra đời của bộ môn khoa học liênngành: logic học và ngôn ngữ học
Trên cơ sở những nền tảng lí thuyết của các nhà khoa học đã nêu trên,giới nghiên cứu ngôn ngữ đã cố gắng đi sâu khám phá logic ngôn ngữ tựnhiên Tuy vậy, những khám phá chỉ dừng ở cấp độ câu từ riêng lẻ, vẫn chưa
có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu về logic văn bản, đặc biệt là văn bảntruyện cười
Về truyện cười, đã có nhiều công trình nghiên cứu tuy nhiên nhữngcông trình này chủ yếu xoay quanh mục đích gây cười, nội dung gây cười,nghệ thuật gây cười,… do các nhà nghiên cứu văn học dân gian tiến hành Từgóc độ logic học, ngôn ngữ học mới chỉ có luận văn Thạc sĩ của Nguyễn ThịDung, Đại học Sư phạm Hà Nội, 1993, nghiên cứu đề cập ở phương diện hàm
ý như một biện pháp gây cười Và gần đây là Luận án Tiến sĩ của NguyễnHoàng Yến “Truyện cười dân gian Việt Nam dưới góc độ dụng học” Dựatheo những gợi ý trên đề tài của chúng tôi như một sự tiếp nối khám phá ngônngữ trong văn bản từ lí thuyết logic và lí thuyết hội thoại
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu các loại logic sử dụngtrong một số truyện cười dân gian Việt Nam và những logic đó được chúngtôi tạm thời đặt tên theo đặc điểm của logic nó
Trang 72 Phạm vi nghiên cứu
Ở đề tài này, phạm vi xem xét trong các truyện đó là logic hình thức, chúng tôi nghiên cứu một số truyện cười dân gian Việt Nam, chủ yếu là các truyện cười trong cuốn “Tiếng cười dân gian Việt Nam”, Trương Chính - Phong Châu (Sưu tầm và tuyển chọn), NXB Khoa học Xã hội, 2004
IV Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích khi chọn đề tài này chúng tôi mong muốn đi sâu tìm hiểubiện pháp gây cười bằng phương tiện logic được sử dụng trong truyện cườidân gian Việt Nam dựa trên cơ sở lí thuyết cơ bản về logic học và ngữ dụnghọc, cũng như nó chỉ ra được sự hấp dẫn của logic ngôn ngữ học nói chung vàlogic trong truyện cười dân gian Việt Nam nói riêng, từ đó giúp người đọchiểu thêm về truyện cười dân gian Việt Nam Đề tài này được nhóm chúng tôithực hiện với mong muốn sẽ góp phần khơi gợi sự ham thích của độc giả,nhằm tăng số lượng cũng như chất lượng người đọc đối với truyện cười
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt tới mục đích như đã trình bày, đề tài hướng tới nhữngnhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu và tập hợp một số vấn đề về logic học, ngôn ngữ học và cácnguyên tắc ngữ dụng có liên quan đến đề tài
- Phân tích và chỉ ra một số loại logic trong một số truyện cười dân
gian Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp thống kê
+ Phương pháp hệ thống
+ Phương pháp phân tích – tổng hợp
+ Phương pháp so sánh đối chiếu
Trong đó phương pháp phân tích - tổng hợp được coi là phương phápchủ đạo
NỘI DUNGCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
I Giới thiệu chung về chuyện cười dân gian Việt Nam
1 Khái niệm truyện cười và truyện cười logic
Trang 81.1 Khái niệm về truyện cười
Truyện cười là một thể loại nằm trong khối văn học dân gian của dântộc Truyện cười Việt Nam có những nét đăc trưng riêng và mượn những câuchuyện hài trong cuộc sống để gây tiếng cười, nhưng đôi khi cũng là nhữngcâu chuyện mang tính mỉa mai, châm biếm được khắc họa bằng những ngônngữ dí dỏm, gây cười Truyện cười tồn tại dưới nhiều hình thức được gọi bằngnhững danh từ khác nhau như truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện tràophúng, truyện trạng hay giai thoại hài hước…
1.2 Khái niệm về truyện cười logic
Truyện cười logic (không phải logic truyện cười) là truyện cười đượcgây cười bằng nhiều thủ pháp logic (tạo ra cái phi logic hoặc hợp logic mộtcách bất ngờ để gây cười) Về phương diện ngôn ngữ không gây cười Tiếngcười chỉ bật ra khi tư duy người tiếp nhận suy rút được những điều mới mẻ,thú vị trên cơ sở liên kết lời thoại của các nhân vật trong truyện
- Thưa cụ, thế chắc hồi trẻ cụ cũng thông minh lắm!
Đối lập với truyện cười logic là truyện cười thông thường là truyệncười được gây cười bằng các thủ pháp truyền thống như ngôn ngữ đáng cười,hành động đáng cười, hoàn cảnh đáng cười và tính cách đáng cười
Ví dụ: Truyện cười “To…nhỏ”
Trên một con đường rất to có một ngôi nhà rất nhỏ
Trong ngôi nhà rất nhỏ có một cái giường rất to
Trên một cái giường rất to có một người đàn ông rất nhỏ
Trên người đàn ông rất nhỏ có một cái quần rất to
Trong một cái quần rất to có một cái gì nho nhỏ
Cái nho nhỏ đó là cái… bật lửa!
Tiếng cười trong sinh học mang tính bản năng, vô thức phát ra dohiệu ứng của cơ thể một cách đơn thuần Trong tiếng cười tâm lí xã hội, biểuthị thái độ bộc lộ tư tưởng tình cảm con người, tiếng cười tâm lí xã hội có hailoại:
Trang 9- Tiếng cười tán thưởng: biểu thị niềm vui, sự yêu mến.
- Tiếng cười phê phán: biểu thị sự khinh ghét và sự phủ nhận, là cái cườitrong truyện cười Cái cười phát ra từ cái đáng cười Cái đáng cười chứa đựngcái hài hiểu theo nghĩa triết học, nghĩa là có mẫu thuẫn bên trong Đó là mẫuthuẫn giữa cái xấu và cái đẹp, giữa hình tượng và ý niệm, giữa hình tượng vàmáy móc
2 Một số đặc điểm về truyện cười dân gian Việt Nam 2.1 Về nội dung, ý nghĩa
Truyện cười là thể loại truyện thuộc khối văn học dân gian Đây lànhững tác phẩm tự sự ngắn nhưng có cấu trúc chặt chẽ và có những kết thúckhác bất ngờ để tạo tiếng cười cho người đọc Thông thường truyện cười sẽ
có những yếu tố đặc trưng đó là luôn mang yếu tố gây cười cho người đọc,những câu chuyện hay và dí dỏm sẽ được quyết định dựa vào kết cấu thườngđược xây dựng, tạo nên từ những yếu tố gây cười đó, lồng ghép linh hoạt cácphương pháp gây cười, tăng thêm tính hài hước cho câu chuyện Đối với khotàng truyện cười Việt Nam, những câu chuyện hàng ngày trong cuộc sốngchính là nguồn tư liệu phong phú Bằng những phương pháp mỉa mai, châmbiếm, câu chuyện sẽ trở nên dí dỏm mà không hề kém phần nhân văn, sâu sắc
Tiếng cười là vũ khí đấu tranh nhằm đả kích, châm biếm các nhân vậttiêu biểu của xã hội phong kiến Hiện thực xã hội phong kiến đồi trụy đã tạonên những mẫu thuẫn cơ bản của những giai cấp, những tầng lớp xã hội.Trong lòng xã hội ấy, những bất công mà những gia cấp thấp hèn như nôngdân, nô lệ phải chịu đựng không thể nào lên tiếng, chống trả đã trở thành cơ
sở cho truyện cười ra đời, tồn tại và phát triển mạnh để trở thành vũ khí đấutranh lợi hại cho nhân dân lúc bấy giờ Mà đối đượng của tiếng cười đó chính
là bọn vua chúa, bọn quan lại, hào lý với bản chất xấu xa, dâm dật, hèn nhát,bất tài,… đến những tên nhà giàu hống hách, tham lam, keo kiệt (phú ông,trưởng giả, địa chủ, phú thương,…) Phong phú và nực cười không kém là cácloại “thầy” như thầy đồ, thầy mo, thầy cúng, thầy lang,… Tiếng cười thể hiện
rõ trên nội dung của những truyện cười như nhóm truyện Trạng Quỳnh, Thầybói sợ ma, Bẩm chó cả,…
Dễ nhận thấy rằng truyện cười luôn gắn liền với hoạt động sinh hoạthằng ngày của nhân dân qua đó phản ánh lên hiện thực xã hội bấy giờ mang ýnghĩa nhân sinh, ý nghĩa xã hội Tuy không có chức năng răn dạy trực tiếptruyện cổ tích, truyện truyền thuyết,… nhưng truyện cười có tác dụng giáo
Trang 10dục độc đáo: nó mài sắc tư duy suy lý, làm giàu óc phê phán, giúp trau dồikhả năng ngôn ngữ.
2.2 Về kết cấu
Kết cấu ngắn gọn, chặt chẽ, không nhiều lời, nhiều chi tiết, truyệncười xây dựng theo kiểu gói kín mở nhanh, tình huống diễn biến tự nhiên,nhanh chóng và tất cả đều hướng vào mục đích gây cười Truyện cũng có caotrào, thắt nút, đỉnh điểm, mở nút theo đúng quy trình một cốt truyện hiện đạisắc sảo và thường được cấu tạo như một màn kịch ba lớp:
-Phần đoạn đầu: vào truyện là cách giới thiệu nhân vật trực tiếp không úp
mở, truyện giới thiệu kèm theo một hiện tượng có mẫu thuẫn tiềm tàng
-Phân đoạn nút: mâu thuẫn tiềm tàng phát triển đến đỉnh điểm
-Phân đoạn kết: mâu thuẫn được giải quyết
2.3 Về nhân vật
Truyện cười rất ít nhân vật Nhân vật chính trong truyện là đối tượngchủ yếu của tiếng cười và truyện cười tập trung vào cái đáng cười ở nhân vậtchứ không phải làm nổi bật toàn bộ chân dung nhân vật hay cuộc đời, sốphận, tính cách nhân vật Cái đáng cười ở đây chỉ là một nét tính cách hoặcmột khoảnh khắc nào đó trong cuộc đời nhân vật Đó có thể là hành vi ứng xửtrong một hoàn cảnh nhất định nào đó.Và hành vi ứng xử ấy được biểu hiện ởlời nói,hành động của nhân vật
Trong thế giới nhân vật phong phú của truyện cười, ta nhận ra ba loạinhân vật xoay quanh mục đích gây cười Đó là bị cười (là đối tượng của tiếngcười phê phán, đả kích, châm biếm) nhân vật cười (thường xuất hiện trongtruyện cười kết chuỗi, là nhân vật tích cực, chủ thể của tiếng cười phê phán)
và cuối cùng là nhân vật trung gian (là phương tiện tạo ra tiếng cười phêphán)
2.4 Về ngôn ngữ
Ngôn ngữ truyện cười là loại ngôn ngữ đại chúng, trong sáng, dễ hiểunhất trong số các loại tự sự dân gian Nếu có mập mờ lấp lửng thiếu minh xácthì đó là sự cố ý một cách nghệ thuật để gây cười và điều này được xem nhưmột thủ pháp ngôn ngữ của truyện cười Tác giả dân gian tỏ ra rất có ý thứcnghệ thuật hóa ngôn ngữ truyện cười trong những trường hợp cụ thể như nóithiếu, nói tắt để gây cười (Ăn đít bố, Bẩm chó cả…); tước bỏ ngữ cảnh nói(Ông lang đòi ăn, Thấy nó ỉa mà thèm…); dùng từ đồng âm và đa nghĩa (Sợsét bà, Bảo thái, Ông nọ bà kia, Cúng Thành hoàng…) Bên cạnh đó, nhiều
Trang 11biện pháp chơi chữ được sử dụng: nói lái, nói ngoa, dùng từ lạ, từ bạo…(Truyện Trạng Quỳnh) Và sẽ thiếu sót nếu bỏ qua sự cố ý sử dụng từ ngữ,yếu tố “tục” để gây cười (Lạy cụ đề ạ, Cái tăm quan huyện, Ngọa Sơn…).
II Logic học và ngôn ngữ
1 Khái niệm logic học 1.1 Logic học là gì?
Thuật ngữ “logic” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là “logos”, qua từngthời kỳ thuật ngữ được sử dụng theo nhiều nghĩa khác Nhưng kế thừa nhữngyếu tố hợp lý và phê phán những yếu tố sai lầm trong những quan niệm xưa,các nhà triết học và logic học đã sử dụng thuật ngữ “logic” theo hai nghĩa.Nghĩa thứ nhất chỉ những liên hệ tất yếu của các sự vật, hiện tượng hoặc giữacác mặt ở trong cùng một sự vật hiện tượng Tức là chỉ quy luật vận động vàphát triển của tự nhiên, xã hội Theo nghĩa đó thì nó là logic khách quan Đốivới nghĩa thứ hai chỉ quy luật của sự liên kết, vận động và phát triển tư duynhằm đạt được lập luận, được liên kết với nhau, vận động và phát triển theoquy luật đó để phản ánh đúng đắn bản chất của sự vật trong thế giới hiện thực
Theo quan điểm phổ biến nhất hiện nay thì logic học là khoa học vềcác hình thức, các quy luật của tư duy Nhưng khác với các khoa học kháccũng nghiên cứu về tư duy tâm lý học, sinh lý học thần kinh,… logic họcnghiên cứu các hình thức và quy luật của tư duy để đảm bảo suy ra các kếtluận đúng đắn Để hiểu sâu hơn về đối tượng của logic học, ta phải tìm hiểucác đặc điểm của giai đoạn nhận thức lý tính và trả lời cho câu hỏi thế nào làhình thức và quy luật tư duy Vì thế, có thể định nghĩa logic học là khoa học
về các hình thức và các quy luật của tư duy đúng đắn dẫn đến chân lý
1.2 Sự hình thành và phát triển của logic học Thời kì Cổ đại (khoảng thế kỷ IV trước CN – thế kỷ V):
Đây là thời kì khởi đầu của logic học Logic học thời bấy giờ đượcnghiên cứu như một nhánh của triết học, để phân biệt lập luận tốt và lập luậnkhông tốt Và chính Aristote, người được coi là cha đẻ của logic học, đã cónhững đóng góp to lớn đầu tiên trong sự phát triển của logic học Ông cũng làngười đầu tiên nghiên cứu tỉ mỉ khái niệm và phán đoán, lý thuyết suy luận vàchứng minh Với những hiểu biết sâu rộng của mình, ông đã cho ra đời bộsách “Organon” (công cụ) đồ sộ gồm 6 tập Trong đó, ông đã trình bày một sốvấn đề của logic học hình thức truyền thống như: các phạm trù, phân loạimệnh đề, tam đoạn luận, chứng minh, tranh luận, phản bác ngụy biện Ông
Trang 12cũng nêu lên các quy luật cơ bản của tư duy: Luật đồng nhất, Luật mâu thuẫn,Luật loại trừ cái thứ ba,
Vấn đề trung tâm trong logic học của Aristote là vấn đề suy luận diễndịch, trong đó có các phép chứng minh, được xây dựng như thế nào? SauAristote, các nhà logic học khắc kỉ đã quan tâm phân tích các mệnh đề cũng¹
như phép Tam đoạn luận của Aristote Họ đã nghiên cứu quan hệ suy diễn(quan hệ giữa các tiền đề và suy luận) và đưa ra khái niệm bao hàm Họ đãđóng góp cho logic học 5 mệnh đề được coi là những tiên đề sau: nếu có P thì
có fi, mà có P vậy có fi; nếu có P thì có fi, mà không có fi vậy không có P;không có đồng thời P và fi, mà có P vậy không có fi; hoặc P hoặc fi, mà có Pvậy không có fi; hoặc P hoặc fi, mà không có fi vậy có P
Đến cuối thời Cổ đại, Apuleius (khoảng 125-170) đã đưa ra hìnhvuông logic trình bày quan hệ giữa các phán đoán cơ bản A, I, E, O Tiếp đó,Galien (khoảng 131-201) đã bổ sung thêm loại hình tam đoạn luận thứ tư vàBoethius (khoảng 480-525) đã hệ thống hóa logic học hình thức, hoàn thiệnhình vuông logic và đưa ra một số quy tắc của logic mệnh đề
Thời kì Trung cổ (khoảng thế kỷ V- thế kỷ XV):
Có thể xem Boethius chính là chiếc cầu nối đầu tiên của logic họchình thức thời Cổ đại đến thời Trung cổ Bởi chính ông là người đã dịch cáctác phẩm logic học của Aristote ra tiếng Latinh, qua đó giúp logic học củaAristote được truyền tới các nhà triết học kinh viện trung cổ Các triết gia thời
kì này coi logic học của Aristote là chân lý cuối cùng Logic học của Aristoteđược tôn vinh, được giảng dạy rộng khắp ở các trường học và là chủ đề chínhcho việc bàn luận của các nhà triết học kinh viện thời kì này Do sự sùng bái
¹ Chủ nghĩa khắc kỷ (Stoicism): là trường phái triết học do Zenon sáng lập vào đầu thế kỷ III tr.CN
logic học của Aristote nên hầu như không có sự bổ sung nào đáng kể chologic học trong thời kì này Một số đóng góp nhỏ có thể kể đến như: P.Abelard (1079-1142) đã đào sâu khía cạnh ngữ nghĩa và triết học của logichọc; Piere d’Espagne (khoảng 1220-1277) tóm tắt 19 kiểu đúng của 4 hìnhtam đoạn luận; Guillaume d’Occam (1285-1347) đưa ra nguyên tắc lưỡi daoOccam; Bunridan (1301-1358) đào sâu phép suy luận có điều kiện Nhìnchung, việc nghiên cứu logic học đến thời kì này vẫn chủ yếu là về suy luậndiễn dịch và chỉ được nghiên cứu như một lĩnh vực của triết học
Trang 13Thời kì Phục hưng (khoảng thế kỷ XV – XVII):
Đến thời kì này, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học thựcnghiệm, logic học chủ yếu đề cập về phép suy luận diễn dịch của Aristote đãtrở nên chật hẹp và bị chỉ trích mạnh mẽ Nhà triết học người Anh F Bacon(1561-1626), với tác phẩm “NovumOrganum” (Công cụ mới), đã phê phánphương pháp suy luận diễn dịch và logic học của Aristote Ông xây dựng nênphương pháp suy luận quy nạp cho phép tìm mối liên hệ nhân quả giữa các sựkiện Bacon cho rằng cần phải tuân thủ các quy tắc của phương pháp quy nạptrong quá trình quan sát và thí nghiệm để tìm ra các quy luật của tự nhiên Sau
đó, R Descartes (1596-1650) đã phát triển tư tưởng của Bacon với tác phẩm
“Discours de la méthode” (Luận về phương pháp) Và sau này, phương phápsuy luận quy nạp đã được hoàn thiện bởi nhà triết học người Anh J S Mill(1806-1873) Ông đã đưa ra bốn phương pháp suy luận quy nạp dựa trên cơ
sở mối liên hệ nhân quả, bao gồm: phương pháp tương hợp, phương pháp saibiệt, phương pháp đồng biến và phương pháp trừ dư
Nhìn chung, trong thời kì này, logic học đã được nghiên cứu xa hơn,chủ yếu về phương pháp suy luận quy nạp Ngoài ra, logic học đã có nhữngứng dụng trong khoa học thực nghiệm so với triết học như trước đây Nhưvậy, logic học của Aristote cùng với những đóng góp của Bacon, Descartes vàMill đã trở thành logic hình thức cổ điển
Thời kì Cận đại và Hiện đại (thế kỉ XVII đến nay):
Đây là giai đoạn chứng kiến nhiều sự thay đổi về bộ mặt của logichọc hình thức Người đánh dấu cho sự thay đổi này là nhà bác học Đức G W.Leibnitz (1646-1716) Ông là người đầu tiên đề xướng việc dùng nhữngphương pháp hình thức của toán học (ký hiệu, công thức) vào logic học thay
vì dùng lời nói như trước đây Ông muốn xây dựng một mô hình logic học màtrong đó các suy luận được hình thức hóa giống như các phép tính được hìnhthức hóa trong đại số Tham vọng của Leibnitz là phát triển logic học củaAristote thành logic học ký hiệu (hay còn gọi là logic toán học) Vì thế nênông được coi là người đầu tiên đặt nền tảng cho logic học ký hiệu Ông cũng
là người có những tư tưởng quan trọng đầu tiên về logic học xác suất Tuyvậy, đến giữa thế kỉ XIX thì những ý tưởng của Leibnitz mới được thực hiệnhóa bởi nhà toán học Ireland G Boole (1815-1864), với nhiều công trìnhtrong đó nổi tiếng là công trình “The Mathematical Analysis of Logic” (Toángiải tích logic) năm 1847 Tiếp đó là công trình “Formal Logic” (Logic hìnhthức) năm 1847 của nhà toán học người Anh De Morgan (1806-1871), với
Trang 14những phát biểu về luật De Morgan (De Morgan’s laws) nổi tiếng Trong cáccông trình này, logic toán học được trình bày như một bộ phận của đại số: đại
số logic (đại số Boole) Sau Bool và DeMorgan, logic toán học được nghiêncứu, đóng góp, phát triển thêm bởi các công trình của nhiều nhà toán học nhưcông trình của J Venn (người Anh, 1834-1923), G Frege (người Đức, 1848-1925), của B Russell (người Anh, 1872-1970) cùng A N Whitehead (ngườiAnh, 1861-1947) với bộ sách “PrincipiaMathematica” làm cho logic toánhọc có bộ mặt như ngày nay
Logic học hình thức, với những đóng góp như trên, đã được toán họchóa, trở thành một phần quan trọng gắn liền với toán học Đây là một bướcphát triển lớn đối với logic học hình thức Logic toán học, về đối tượng thì nó
là logic học, về phương pháp thì là toán học Logic toán học có ảnh hưởng rấtlớn đến toán học hiện đại Chính nhờ những sự phát triển này mà logic họchình thức đã thay đổi Thay vì chỉ được xem như một nhánh của triết học vàchỉ được ứng dụng để tìm ra các lập luận đúng sai thì nay đã được mở rộng ralĩnh vực toán học và còn có nhiều ứng dụng trong các ngành khác như khoahọc máy tính, trí tuệ nhân tạo, luật, ngôn ngữ học,
2 Ý nghĩa của logic học
Trong quá trình tồn tại và phát triển của loài người và mỗi cá nhâncon người, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, tư duy của conngười phụ thuộc vào các quy luật logic và diễn ra dưới các hình thức logiccủa tư duy Quy luật logic và các hình thức logic của tư duy là cái phổ biếndiễn ra trong tư duy của nhân loại Điều này cũng nói lên rằng con người suynghĩ một cách logic ngay cả khi không biết rằng tư duy của mình phụ thuộcvào các quy luật logic Nói tóm lại, người ta có kinh nghiệm logic trước khinghiên cứu môn logic học Bởi vậy, chúng ta có thể nói rằng, trước hết logichọc có vai trò tổng kết kinh nghiệm chiếu rọi vào những điều đã quen biết vàthực hành tư duy hằng ngày
Từ thực tiễn kinh nghiệm được tổng kết, con người trừu tượng hóa,xây dựng cơ sở của lâu dài lý luận và khoa học logic, các phạm trù, nguyên
lý, quy luật cơ bản của tư duy logic hình thành Từ đó xây dựng nên các họcthuyết từ lý thuyết tổng quát đến các lý thuyết chuyên biệt và quay về vớikinh nghiệm, thực tiễn Xuất phát từ hệ thống lý luận và khoa học đó, logichọc tiến hành xem xét, đánh giá kinh nghiệm thông thường, phát hiện những