Pháp luật là hệ thống các quy định mang tính bắt buộc được ban hành bởi nhà nước, thể hiện bản chất của giai cấp thống trị.. Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HỌC
MÔN HỌC: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ TÀI: NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT, VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT
Giảng viên hướng dẫn: Trần Thị Thúy Hằng
Lớp học phần: ĐHQTLOG17DTT
Mã lớp học phần: 422000317221
Nhóm: DALAS Danh sách thành viên nhóm
Hoàng Phúc Hải Khuyên (NT) 21079191 0363454285
Đỗ Nguyễn Ngọc Ánh 21067031
Nguyễn Hùng 21080161
Hà Trần Bảo Nguyên 21076411
Phạm Hồ Minh Thư 21041271
Bùi Thị Thanh Tuyền 21072521
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 4 tháng 10 năm 2022
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 3
I NGUỒN GỐC, PHÁP LUẬT 3
II Bản chất của pháp luật : 5
1 Phân tích bản chất của pháp luật: 5
2.Những đặc điểm cơ bản của pháp luật Việt Nam xã hội chủ nghĩa: 13
III – Chức năng và vai trò của pháp luật 16
1.Chức năng của pháp luật 16
2 Vai trò của pháp luật: 16
TỔNG KẾT 19
Trang 3MỞ ĐẦU
Từ xưa đến nay,trong xã hội pháp luật không chỉ là công cụ để điều chỉnh hành vi của cá nhân mà còn thể hiện ý chí của nhân dân, đem lại sự an toàn và hạnh phúc đến cho người dân Pháp luật ra đời vì nhu cầu của xã hội để quản lý một xã hội đã phát triển ở một mức độ nhất định Khi xã hội đã phát triển quá phức tạp, xuất hiện những giai cấp mang lợi ích đối lập với nhau và nhu cầu về chính trị - giai cấp để bảo vệ lợi ích cho giai cấp, lực lượng thống trị về chính trị và kinh tế trong xã hội Pháp luật là hệ thống các quy định mang tính bắt buộc được ban hành bởi nhà nước, thể hiện bản chất của giai cấp thống trị Nói cách khác, pháp luật xuất phát từ nhà nước, được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của nhà nước Nhà nước luôn mong muốn hành vi của mọi người phù hợp với
ý chí của giai cấp thống trị Do đó, pháp luật mang tính giai cấp Bản chất của pháp luật không chỉ phản ánh qua tính giai cấp của nó, mà còn thể hiện thông qua tính xã hội của pháp luật Tương ứng với mỗi hình thái kt- xh có giai cấp là mỗi kiểu pháp luật khác nhau Mỗi kiểu nhà nước đồng hành với 1 kiểu pháp luật khác nhau và mang những đặc điểm của kiểu nhà nước đó Khi các hình thái kinh tế – xã hội thay đổi thì cũng dẫn đến
sự thay đổi tương ứng trong nhà nước và pháp luật
I NGUỒN GỐC, PHÁP LUẬT
Để thiết lập trật tự xã hội, cần có sự điều chỉnh đối với các quan hệ giữa con người với con người Việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong bất kỳ xã hội nào cũng được thực hiện bằng một hệ thống các quy phạm xã hội Các quy phạm xã hội là những quy tắc điều chỉnh hành vi của con người Khi chưa có nhà nước, các quy phạm xã hội gồm có: quy phạm tập quán, đạo đức, các tín điều tôn giáo Khi xã hội có sự phân hóa thành các giai cấp và đấu tranh giai cấp tới mức không thể điều hòa được dẫn đến sự ra đời của nhà nước Cùng với quá trình đó, đã xuất hiện một loại quy tắc do nhà nước ban hành, đó là quy phạm pháp luật Như vậy, nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội luôn gắn liền với nhau, những nguyên nhân về sự ra đời của nhà nước cũng chính là nguyên nhân làm xuất hiện pháp luật Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, ra đời và tồn tại khi trong xã hội có những điều kiện nhất định, đó là có sự tồn tại của chế độ tư hữu, xã hội phân chia thành các giai cấp và có đấu tranh giai cấp
Pháp luật được hình thành bằng hai con đường sau:
Thứ nhất, giai cấp thống trị thông qua bộ máy nhà nước thừa nhận một số tắc
phong tục tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo đã tồn tại quy trong xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, từ đó các quy tắc này trở thành pháp luật
Thứ hai, thông qua bộ máy nhà nước, giai cấp thống trị đặt ra các quy phạm mới,
dùng quyền lực buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo nhằm duy trì xã hội ở trong vòng trật tự, đồng thời bảo vệ lợi ích và củng sự thống trị của giai cấp thống trị đối với toàn xã hội
Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp
Trang 4thống trị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước.
Trong quá trình nghiên cứu vè chủ đề này nhóm mình cũng đã thấy rằng pháp luật thời phong kiến đã bị ảnh hưởng không hề nhỏ từ những luật lệ của các tôn giáo , pháp luật thời phong kiến có một đặc điểm nổi bật là pháp luật phong kiến thiếu sự thống nhất
và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tôn giáo, đạo đức phong kiến
Ở các nước phong kiến, mỗi lãnh địa có một hệ thống pháp luật riêng, nhiều khi chúng còn có hiệu lực cao hơn pháp luật của nhà vua trung ương
Có thể khẳng định trong thời kì tồn tại của chế độ phong kiến, các tôn giáo lớn trên thế giới như Thiên chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo phát huy ảnh hưởng đến mức tối đa trong xã hội, vì thế, pháp luật phong kiến có nhiều quy định là sự thừa nhận và bảo vệ các tín điều tôn giáo Ở châu Âu, Kinh Thánh giữ địa vị thống trị trong xã hội và có vị trí cao hon pháp luật, nó được đọc trịnh trọng trong các phiên toà xét xử các
vụ tội phạm Ở các nước Hồi giáo, Kinh Koran có hiệu lực trong đời sống xã hội cao hon pháp luật Nhiều quy định của pháp luật phong kiến là sự thể chế hoá các quan niệm đạo đức phong kiến và là sự thừa nhận các quy tắc đạo đức phong kiến Ở Việt Nam, Bộ luật Hồng Đức có nhiều quy định về nghi thức tế lễ của nhà vua, về thủ tục cưới hỏi, ma chay,
để tang người thân, quy định về sự tam tòng của người phụ nữ theo quan niệm của Nho giáo
Từ xưa đến nay, tôn giáo vẫn còn ảnh hưởng đến pháp luật như : trong đạo thiên chúa giáo có quy định về kết hôn “một vợ, một chồng”, quy định này phù hợp với xã hội và được nâng lên thành luật ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Hay trong đạo phật có điều răn phải kính trọng ông bà, cha mẹ … các điều răn này phù hợp với sự phát triển của xã hội nên cũng được nhiều nhà nước trên thế giới pháp điển hóa
Bên cách đó ngoài những tác động tích cực trên thì nó cũng có những tác động tiêu cực đến pháp luật thể hiện ở chỗ: trong quá trình phát triển của mình đôi khi các tín điều, giáo lý, hoạt động của các tôn giáo không phù hợp với đạo đức xã hội, xâm hại đến sức khỏe, danh dự, tính mạng của con người Trong một số trường hợp còn gây mất đoàn kết dân tộc, dẫn đến xung đột tôn giáo
Một số quốc gia vẫn còn bị sự ảnh hưởng không hề nhỏ của tôn giáo lên pháp luật như: Ấn độ, Indonesia, Pakistan, Ai Cập , Iran , … là những quốc gia có số dân theo đạo Hồi nhiều nhất trên thế giới Họ cho rằng đạo Hồi là kim chỉ nam cho các hoạt động
xã hội và chính trị cũng như trong đời sống riêng tư Nhưng nó cũng có mặt trái khi những người quá sùng đạo sẽ trở nên cực đoan không thể không kể đến là tổ chức hồi giáo cực đoan IS họ có những quan điệm sai lệch như: Chỉ có giáo điều Hồi giáo là trật tự cho lối sống và trật tự nhà nước, Sự ao ước kiểm soát và lãnh đạo toàn xã hội, Chối từ một nhà nước có hiến pháp dân chủ, có khuynh hướng quá khích, sẵn sàng gây bạo động
Trang 5Ở Việt Nam trong thời gian qua một số hoạt động tôn giáo đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội, cụ thể như: vi phạm trong cách thức thành lập theo quy định của pháp luật, một số nghi lễ tôn giáo mang mầu sắc mê tín dị đoan…Ngoài ra một số cá nhân, tổ chức còn lợi dụng niềm tin tôn giáo để trục lợi riêng, gây mất đoàn kết trong nhân dân VD: Những năm 2018 có tổ chức tự xưng, tự đặt tên là “Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ” đã du nhập vào Việt Nam, đây thực chất là một tổ chức tà đạo, hoạt động trái pháp luật và gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình ANTT tại nhiều địa phương
Trang 6II Bản chất của pháp luật:
Theo các quan điểm thần học và quan điểm tư sản thì Pháp luật không có thuộc tính riêng Bản chất Pháp luật của quan điểm thần học gắn liền với bản chất của Người nắm quyền (người đại diện đấng siêu nhiên) Pháp luật của quan điểm tư sản là thể hiện ý chí của tất cả mọi người trong xã hội, do đó không mang tính giai cấp Trái với các quan điểm trên, quan điểm học thuyết Mác – Lênin cho rằng bản chất Pháp luật mang thuộc tính giai cấp và thuộc tính xã hội
1 Phân tích bản chất của pháp luật:
Pháp luật mang tính giai cấp
- Học thuyết Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật lần đầu tiên trong lịch sử, đã giải thích một cách đúng đắn khoa học về bản chất của pháp luật và những mối quan hệ của
nó với các hiện tượng khác trong xã hội có giai cấp Theo học thuyết Mác-Lênin, pháp luật chỉ phát sinh tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp Bản chất của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của nó, không có “pháp luật tự nhiên” hay pháp luật không mang tính giai cấp
- Tính giai cấp của pháp luật thể hiện trước hết ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị C.Mác và Ănghen khi nghiên cứu về pháp luật tư sản đã đi đến kết luận: Pháp luật tư sản chẳng qua chỉ là ý chí của giai cấp tư sản được đề lên thành luật, cái ý chí mà nội dung của nó là do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp tư sản quyết định Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí của nhà nước, ý chí đó được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Nhà nước ban hành và bảo đảm cho pháp luật được thực hiện, vì vậy pháp luật là những quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc đối với mọi người
- Trong xã hội có giai cấp tồn tại nhiều loại quy phạm khác nhau, thể hiện ý chí và nguyện vọng của các giai cấp, các lực lượng xã hội khác nhau, nhưng chỉ có một hệ thống pháp luật thống nhất chung cho toàn bộ xã hội
- Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Vì vậy, pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một “trật tư” phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trị Với ý nghĩa đó, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp
- Bản chất giai cấp là thuộc tính chung của bất kỳ kiểu pháp luật nào nhưng mỗi kiểu pháp luật lại có những nét riêng và cách biểu hiện riêng
Trang 7 Pháp luật chủ nô
- Công khai quy định quyền lực vô hạn của chủ nô, tình trạng vô quyền của nô lệ
- Pháp luật chủ nô Củng cố quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và đối với nô lệ
+ Hợp pháp hóa chế độ bóc lột tàn nhẫn của chủ nô đối với nô lệ Pháp luật chủ nô luôn ghi nhận và củng cố quyền tư hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và nô lệ Quyền này bao gồm sự chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản cũng như đối với nô
lệ một cách tuyệt đối và được truyền từ đời này qua đời khác
Ví dụ: Luật La Mã quy định cho chủ nô có toàn quyền đối với tài sản, nghĩa là có thể
sử dụng, có thể bán cho người khác hoặc huỷ diệt Luật của một số nước chủ nô cho phép chủ nô có quyền dùng những hình phạt nặng nề nhất kể cả tử hình đối với nô lệ, thậm chí chủ nô có thể tự tuyên án và thi hành bản án tử hình đó đối với nô lệ Những nô lệ già,
ốm yếu khi không còn khả năng lao động có thể bị chủ nô đuổi ra khỏi nhà hoặc bị bỏ đói cho chết dần Quyền tư hữu được pháp luật chủ nô bảo vệ rất chặt chẽ
- Có thể nói pháp luật chủ nô coi tài sản giá trị hơn tính mạng con người Mọi hành vi xâm hại tới tài sản của chủ nô đều bị coi là tội phạm và bị trừng phạt rất nặng
Ví dụ: Theo luật Đôracông thì ăn cắp rau, quả trong vườn cũng bị tử hình còn luật La
Mã thì cho phép giết tại chỗ những kẻ trộm ban đêm hoặc trộm có vũ khí …
- Pháp luật chủ nô quy định những hình phạt rất dã man, tàn bạo
+ Hình phạt trong pháp luật chủ nô có thể coi là nghiêm khắc nhất, dã man tàn bạo nhất Các biện pháp phổ biến được sử dụng là tử hình (luật Đôracông hình phạt đối với tất cả các tội lớn, nhỏ đều chỉ là tử hình) Việc tử hình cũng được thực hiện dưới những hình thức dã man như: Ném phạm nhân vào vạc dầu, cắt đầu phạm nhân bằng cưa, ném phạm nhân vào lửa, chôn sống Ngoài hình phạt tử hình, các biện pháp khác như cắt bỏ các bộ phận của cơ thể phạm nhân như tay, chân, tai, mũi, lưỡi, ngực hoặc chọc cho mù mắt, đánh dấu vào mặt, cấm kết hôn cũng được áp dụng đối với người phạm tội Còn cho phép tra tấn nhục hình phạm nhân, giết tập thể cả cộng đồng mà trong đó có người phạm tội
Trang 8 Pháp luật phong kiến
- Công khai quy định đặc quyền, đặc lợi của địa chủ phong kiến, cũng như quy định các chế tài hà khắc dã man để đàn áp nhân dân lao động
+ Trong xã hội phong kiến, vua có toàn quyền; chúa, địa chủ lớn, tăng lữ có rất nhiều quyền (chúa phong kiến có quyền xét xử nông dân, đặt ra luật lệ, quyền thu thuế, quyền tịch thu tài sản của nông dân Lãnh chúa không những định đoạt một cách tùy tiện tài sản của nông dân mà cả thân thể họ, thân thể vợ con của họ nữa Bất kì lúc nào muốn là lãnh chúa cũng có thể tống nông dân vào nhà giam Lãnh chúa có thể đánh người nông dân đến chết hoặc ra lệnh chặt đầu họ nếu hắn muốn "Như vậy, một mình tên địa chủ vừa là nhà làm luật, vừa là quan toà, vừa là người thì hành bản án, là bị chúa tế có toàn quyền ở trang ấp của mình" Tầng lớp thị dân và những người khác có một ít quyền còn nông dân thì hầu như không có quyền gì đáng kể
+ Pháp luật phong kiến cũng quy định cùng một hành vi phạm tội Nếu người phạm tội có địa vị cao trong xã hội thì hình phạt rất thấp, thậm chí có thể dùng tiền để chuộc tội kể cả tội giết người và tội cố ý gây thương tích Người thân (vợ, con ) của những người có chức vụ, quyền hạn mà phạm tội cũng được giảm hình phạt theo quan phẩm của vợ (chồng), cha (mẹ) họ Tính chất đặc quyền và sự bất bình đẳng trong pháp
Trang 9luật phong kiến đã được phản ánh trong câu ngạn ngữ Trung Quốc là "Lễ nghi không tới thu dân, hình phạt không tới trượng phu"
+ Pháp luật phong kiến dung túng việc sử dụng bạo lực và sử dụng tuỳ tiện của những kẻ mạnh trong xã hội
+ Pháp luật phong kiến cho phép địa chủ tự mình xét xử nông dân, cho phép tra tấn khi hỏi cung, điều tra Pháp luật phong kiến còn cấm nông dân rời bỏ ruộng đất của địa chủ để đi nơi khác Nếu nông dân bỏ trốn mà bị bắt thì sẽ giao cho chủ toàn quyền định đoạt Sự tùy tiện trong pháp luật phong kiến có thể lấy Điều 35 Hoàng Việt luật lệ về tội bất ưng vi là một điển hình (phàm những việc không nên làm mà làm thì phải phạt 40 roi, nếu việc quan trọng thì phạt 80 trượng) Pháp luật phong kiến cho phép sử dụng bạo lực để giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn, thừa nhận chân lý thuộc về kẻ mạnh
Pháp luật tư sản
+ Bản chất giai cấp được thể hiện một cách thận trọng, tinh vi dưới nhiều hình thức như quy định về mặt pháp lý những quyền tự do, dân chủ… nhưng thực chất pháp luật tư sản luôn thể hiện ý chí của giai cấp tư sản và mục đích trước hết nhằm phục vụ lợi ích cho giai cấp tư sản
+ Pháp luật tư sản thể hiện ý chí của giai cấp tư sản là bằng mọi giá phải duy trì và củng cố chế độ tư hữu và sự chi phối không hạn chế của nó đối với các yếu tố xã hội, kinh tế và chính trị Mác và Ăngghen đã vạch rõ bản chất của pháp luật tư sản trong Tuyên ngôn đảng cộng sản như sau: "Pháp luật của các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành pháp luật, cái ý chí mà nội dung là do những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định" Nếu xem xét các chế định của pháp luật tư sản,
kể cả những chế định tiến bộ nhất trong mối liên hệ biện chứng giữa chúng với các quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thì chúng ta sẽ thấy rõ điều đó
Trang 10 Quyền sở hữu
- Xét về hình thức, pháp luật tư sản tuyên bố bảo vệ quyền tư hữu của tất cả mọi người: "Không ai có thể mất quyền sở hữu là một quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm trừ trường hợp có sự cần thiết của xã hội mà luật đã quy định với điều kiện là bồi thường trước và công bằng" (Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789) Thực chất, pháp luật tư sản chỉ bảo vệ chế độ tư hữu tư sản Giai cấp công nhân thì không có gì để
mà tư hữu ngoài sức lao động của mình và dĩ nhiên là "sự thiêng liêng, bất khả xâm phạm" của quyền tư hữu không hề tồn tại đối với họ Mác đã nói: "Lao động làm thuê, lao động của người vô sản liệu có tạo ra sở hữu cho người vô sản không? Tuyệt đối không Nó tạo ra tư bản, tức là tạo ra cái sở hữu bóc lột lao động làm thuê"
Địa vị pháp lý của công dân
- Địa vị pháp lý của công dân là một trong những chế định quan trọng khác mà các học giả có quan điểm phủ nhận tính giai cấp của pháp luật tư sản thường dùng để làm ví
dụ Địa vị pháp lý của công dân trong pháp luật tư sản được xác định bằng các quyền tự
do dân chủ rộng rãi gấp nhiều lần so với địa ví pháp lý của người nông dân dưới chế độ phong kiến Hiến pháp của các nước tư sản đều ghi nhận quyền tự do, bình đẳng, dân chủ của công dân So với nhiều chế định khác thì quyền tự do dân chủ của công dân thể hiện
rõ nét nhất nền dân chủ tư sản Trong quá khứ cũng như hiện tại, chế định này bao giờ cũng được coi là thành tựu lớn mà giai cấp tư sản đã mang lại cho nền văn minh của nhân loại.Tuy nhiên, dù tiến bộ và dân chủ nhiều lần so với chế độ phong kiến, các quyền tự do dân chủ mà pháp luật tư sản quy định vẫn mang bản chất giai cấp và suy cho cùng gián tiếp hay trực tiếp chúng vẫn thể hiện ý chí của giai cấp tư sản Điều này có thể minh chứng bằng lịch sử xuất hiện của các quyền tự do dân chủ cũng như vị trí khác nhau của chúng qua các giai đoạn phát triển của nhà nước tư sản
- Ở thời kỳ đầu, giai cấp tư sản chủ trương đề cao bình đẳng, tự do dân chủ, lấy chúng làm những đòn bẩy thúc đẩy nhân dân chống sự thống trị phong kiến Giai cấp tư sản ở giai đoạn này đã cùng với quần chúng đấu tranh để thực hiện bằng được các quyền tự do dân chủ Khi nắm được chính quyền, chính giai cấp tư sản lại vi phạm các quyền tự do dân chủ, nhất là quyền tự do biểu tình, bãi công, tự do nghiệp đoàn vì những quyền tự do dân chủ này đe dọa đến lợi ích của giai cấp tư sản Các cuộc đàn áp công nhân đẫm máu nhất trong lịch sử đã xảy ra ở Mỹ, Pháp, Anh Ngày nay, được tác động của nhiều nguyên nhân, các quyền tự do dân chủ lại được giai cấp tư sản đề cao, đặc biệt dưới vỏ bọc mới "bảo vệ nhân quyền" như đã nêu ở trên Như vậy, rõ ràng các giá trị dân chủ tự
do không phải bất biến mà thay đổi theo nhu cầu và lợi ích của giai cấp tư sản
- Các quyền tự do dân chủ của cá nhân được pháp luật tư sản đảm bảo về mặt pháp lý Tuy nhiên, các đảm bảo thực tế cho việc thực hiện các quyền tự do dân chủ này thì bị hạn chế Trong xã hội tư sản, quyền tự do dân chủ, quyền bình đẳng của những người công