Phần 1 của cuốn sách Giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai đoạn hiện nay trình bày những nội dung về: lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất - giá trị cốt lõi và những vấn đề cần bổ sung, phát triển trong điều kiện mới; quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất - nhận thức và vận dụng trong chủ nghĩa xã hội;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 2Chịu trách nhiệm xuất bản:
Q GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP PHẠM CHÍ THÀNH Chịu trách nhiệm nội dung:
BÙI BỘI THU
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 1360-2020/CXBIPH/5-301/CTQG
Số quyết định xuất bản: 5001-QĐ/NXBCTQG, ngày 09/6/2020 Nộp lưu chiểu: tháng 6 năm 2020
Mã ISBN: 978-604-57-5658-4
Trang 7LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Lịch sử loài người đã trải qua quá trình phát triển lâu dài, từ
trình độ thấp lên trình độ cao, với nhiều hình thái kinh tế - xã hội khác nhau Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều được đặc trưng bởi quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất của riêng nó
Sự tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn tuân theo quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đây chính là hòn đá tảng trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin và cũng
là quy luật cơ bản, phổ biến của xã hội loài người Quy luật này chỉ
ra rằng khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, đó sẽ là động lực để kinh tế - xã hội phát triển, còn khi quan
hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, dù là lạc hậu hơn hay đi trước sự phát triển của lực lượng sản xuất, thì đều là lực cản đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất Việc hiểu rõ và nhận thức đúng nội dung của quy luật này là rất quan trọng đối với việc đề ra các chủ trương, đường lối và xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Việc nhận thức, vận dụng đúng quy luật này vào thực tiễn sẽ tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển mạnh mẽ, nâng cao đời sống cho người dân; ngược lại có thể gây ra sự đình trệ, thậm chí khủng hoảng kinh tế - xã hội
Trang 8Nhằm giúp bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo về vấn đề này,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai đoạn hiện nay do PGS.TS Phạm Văn Linh làm chủ biên.
Cuốn sách được hình thành trên cơ sở chọn lọc các bài viết, tham
luận trong Hội thảo Giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin về lực
lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và sức sống của nó trong giai đoạn
hiện nay thuộc phạm vi Đề tài KX.02.13.
Nội dung cuốn sách không những phản ánh những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất mà còn đề cập tới việc vận dụng nó vào điều kiện Việt Nam hiện nay, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ Từ đó góp phần hình thành cơ sở khoa học cho việc xây dựng các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng cũng như đề xuất những gợi ý chính sách cho phát triển kinh tế - xã hội thời gian tới.Chủ đề của cuốn sách hàm chứa nội dung rộng lớn và phức tạp, nhiều luận điểm, kiến nghị nêu trong cuốn sách có giá trị tham khảo tốt, song cũng còn có những đề xuất, kiến nghị cần được tiếp tục nghiên cứu, trao đổi và thảo luận thêm Tôn trọng các tác giả và
để bạn đọc thuận tiện nghiên cứu, tham khảo, chúng tôi giữ nguyên
ý kiến của các tác giả và giới thiệu tới bạn đọc Nhà xuất bản và các tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để hoàn thiện nội dung cuốn sách trong lần xuất bản sau
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
Tháng 10 năm 2019
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Trang 9LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT - GIÁ TRỊ CỐT LÕI
tháng 3/1845, khi C.Mác viết tác phẩm Về cuốn sách của Phiđrích
Lixtơ “Học thuyết dân tộc về kinh tế chính trị học” Trong cuốn
sách này, C.Mác chỉ ra tính chất duy tâm trong lý luận của Lixtơ, vạch trần tính chất tư sản của lý luận đó; rằng: lực lượng sản xuất không phải là cái “bản chất tinh thần” nào đó như Lixtơ nghĩ ra, mà là một sức mạnh vật chất C.Mác viết: “Để xua tan vầng hào quang thần bí có tác dụng cải biến “sức sản xuất”, chỉ cần mở ra bản tổng quan thống kê đầu tiên ta gặp là đủ Ở đó có
* Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương.
Trang 10“sẽ dắt con người đi như dắt tay một đứa trẻ em mới tập đi” Nó không làm cho sự phát triển của con người thành một sự tất yếu
tự nhiên”2
C.Mác đề cao sức sản xuất của con người Ông viết: “Chính
sự cần thiết phải có sự kiểm soát của xã hội đối với một lực lượng nào đó của tự nhiên để tiết kiệm nó, chính sự cần thiết phải chiếm lấy nó hoặc phải thuần thục nó bằng những công trình đại quy mô do bàn tay con người dựng nên, - chính sự cần thiết đó đã đóng một vai trò hết sức quyết định trong lịch sử công nghiệp”3.Những luận điểm cơ bản về lực lượng sản xuất của C.Mác và Ph.Ăngghen vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa thời đại, được đúc kết như sau:
- Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, phản ánh khả năng con người chinh phục tự nhiên
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật,
Hà Nội, 2000, t.42, tr.354.
2, 3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, 2002, t.23, tr.725, 725.
Trang 11bằng các sức mạnh hiện thực của mình Trình độ của lực lượng
sản xuất biểu hiện của trình độ chinh phục tự nhiên của con người, lực lượng sản xuất cho thấy năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội nhằm bảo đảm nhu cầu của con người Để tiến hành sản xuất thì con người phải sử dụng các yếu tố vật chất, kỹ thuật nhất định Tổng thể các yếu tố ấy là lực lượng sản xuất, bao gồm:
Sức lao động, bao gồm ba yếu tố: thể lực, trí lực và kỹ năng
lao động Lao động không chỉ bao gồm công nhân trực tiếp, mà còn gồm cả công nhân gián tiếp và các nhà quản lý Cùng với quá trình phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, tỷ lệ đội ngũ công nhân gián tiếp ngày càng tăng lên
Tư liệu sản xuất là những điều kiện cần thiết để tổ chức sản
xuất, bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Tư liệu lao động là yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào đó tác động lên đối tượng lao động Đối tượng lao động là yếu tố vật chất của sản xuất mà lao động của con người cùng với tư liệu lao động tác động lên làm biến đổi hình dáng, tính chất vật lý Trong tư liệu lao động, công cụ sản xuất là nhân tố quyết định, ngoài ra còn một bộ phận là vật chuyển dẫn, là những điều kiện sản xuất chung, được gọi là kết cấu hạ tầng (như đường sá, bến cảng, hệ thống điện, viễn thông ) Trong quá trình phát triển, hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng trở nên quan trọng và có vai trò quyết định đối với toàn bộ quá trình sản xuất và sức sản xuất của nền sản xuất xã hội
Khoa học kỹ thuật là một bộ phận của lực lượng sản xuất; là
cái cốt lõi, yếu tố quyết định trình độ của lực lượng sản xuất.Lực lượng sản xuất tồn tại một cách khách quan, người ta không được tự do lựa chọn lực lượng sản xuất cho mình: “ vì mọi lực lượng sản xuất đều là lực lượng được tạo ra, đều là sản phẩm của hoạt động trước đó được tạo ra không phải bởi những con
Trang 12người ấy, mà bởi thế hệ trước đó mỗi thế hệ sau có được những lực lượng sản xuất do thế hệ trước tạo ra, và những lực lượng sản xuất ấy là nguyên liệu cho thế hệ sau ấy để thực hiện một hoạt động sản xuất mới”1 Do vậy, lực lượng sản xuất có tính kế thừa
và phát triển
- Trong ba yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất thì lao động
là yếu tố quyết định nhất, quan trọng nhất bởi con người lao động chế tạo ra tư liệu lao động, và một phần đối tượng lao động; đồng thời là người sử dụng, phát huy vai trò của tư liệu lao động, công
cụ lao động Ngay khoa học - kỹ thuật là yếu tố cốt lõi của lực lượng sản xuất, nhưng tự bản thân nó không thể gây ra bất kỳ sự tác động tích cực hay tiêu cực nào đối với thế giới, mà phải thông qua sự vận dụng vào hoạt động thực tiễn của con người thì nó mới phát sinh tác dụng
- Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất biểu lộ rõ nhất ở trình độ phát triển của phân công lao động
- Lực lượng sản xuất có vai trò, chức năng sáng tạo ra của cải vật chất và là động lực của sự phát triển xã hội
2 Quan hệ sản xuất
Nếu phạm trù lực lượng sản xuất đã được các nhà khoa học trước C.Mác đề cập đến nhưng lại được giải thích một cách duy tâm và chỉ đến C.Mác mới được xem xét một cách duy vật khoa học thì phạm trù quan hệ sản xuất là sự sáng tạo riêng của C.Mác Hàm nghĩa của quan hệ sản xuất được trình bày lần đầu
tiên trong tác phẩm Gia đình thần thánh, khi C.Mác phân tích
mối quan hệ giữa sản phẩm lao động với con người C.Mác viết:
“vật thể, với tư cách là sự tồn tại vì con người, với tư cách là sự
tồn tại vật thể của con người, thì đồng thời cũng là sự tồn tại hiện
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, 1996, t.27, tr.657-658.
Trang 13có của con người vì người khác, là quan hệ người của anh ta đối
rằng, trong quá trình “ sản xuất ra đời sống - ra đời sống của bản thân mình bằng lao động, cũng như ra đời sống của người khác bằng việc sinh con đẻ cái - biểu hiện ngay ra là một quan hệ song trùng: một mặt là quan hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ
xã hội, quan hệ xã hội với ý nghĩa đó là sự hợp tác của nhiều cá nhân, không kể là trong những điều kiện nào, theo cách nào và nhằm mục đích gì ”2 Rằng, “khi phát triển những lực lượng sản xuất của mình, nghĩa là khi sinh sống, thì con người cũng phát triển những quan hệ nhất định giữa họ với nhau, tính chất của những quan hệ ấy tất yếu phải thay đổi cùng với sự biến cải và phát triển của những lực lượng sản xuất ấy”3 Từ cách gọi quan
hệ trong quá trình sản xuất là “quan hệ xã hội” hay “quan hệ
giao tiếp”, sau này, trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học,
C.Mác và Ph.Ăngghen mới chính thức sử dụng khái niệm quan
hệ sản xuất, các ông viết: “phương thức sản xuất, những quan
hệ trong đó các lực lượng sản xuất phát triển, đều không phải là những quy luật vĩnh cửu, mà chúng thích ứng với một trình độ phát triển nhất định của con người và của những lực lượng sản xuất của con người, và bất kỳ sự thay đổi nào trong lực lượng sản xuất của con người đều tất phải dẫn đến một sự thay đổi trong những quan hệ sản xuất của con người”4 Kế thừa những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, chính V.I.Lênin sau này đã tiếp tục khẳng định: “ cũng như mọi hiện tượng trong giới tự nhiên đều
có nguyên nhân vật chất, sự phát triển của xã hội loài người là do
sự phát triển của những lực lượng vật chất, sản xuất quyết định
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, 1995, t.2, tr.65.
2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, 1995, t.3, tr.42.
3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, 1996, t.27, tr.664.
4 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, 1995 t.4, tr.201-202
Trang 14Quan hệ giữa người với nhau trong việc sản xuất những vật phẩm cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của con người là do sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định Và chính những quan hệ
ấy giải thích tất cả những hiện tượng của đời sống xã hội, những nguyện vọng, tư tưởng và luật pháp của con người”1
Có thể nêu ra rất nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng tổng
hợp lại, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Quan hệ sản
xuất là khái niệm dùng để chỉ quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và trao đổi vật chất, thể hiện tập trung ở quan
hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản
lý sản xuất, quan hệ trao đổi hoạt động và quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động Trong các mặt của quan hệ sản xuất,
quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, quan hệ
cơ bản, quan hệ trung tâm, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong từng xã hội Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định quan
hệ tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ trao đổi và quan hệ phân phối sản phẩm, cũng như các quan hệ xã hội khác
Một xã hội cụ thể thường bao gồm ba loại quan hệ sản xuất
cơ bản là: quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai; trong đó, quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác, quy định xu hướng chung của đời sống kinh tế - xã hội và tạo ra cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể, để phân biệt xã hội này với xã hội khác Tuy nhiên, quan hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mầm mống cũng có vai trò nhất định và có sự tác động trở lại quan hệ sản xuất đóng vai trò chủ đạo
Quan hệ sản xuất là cái tạo thành cơ sở kinh tế của xã hội,
là cơ sở hiện thực của hoạt động sản xuất tinh thần của toàn bộ
1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1974, t.2, tr.6-7.
Trang 15những quan hệ tư tưởng, chính trị và những thiết chế tương ứng trong xã hội.
Quan hệ sản xuất là một mặt của phương thức sản xuất, nếu lực lượng sản xuất biểu thị mặt thứ nhất của mối “quan hệ song trùng” của sản xuất vật chất, thì quan hệ sản xuất biểu hiện mặt thứ hai của quan hệ đó, tức là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất
3 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là một trong những nguyên lý cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là quan hệ cơ bản của toàn xã hội, quyết định sự vận động phát triển của lịch sử xã hội loài người Mối liên
hệ này do C.Mác phát hiện ra và được trình bày trong nhiều tác
phẩm của mình, trong đó, tập trung nhất ở Hệ tư tưởng Đức, Sự
khốn cùng của triết học, Lời tựa cuốn Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, Bộ Tư bản và nhiều tác phẩm khác.
Trong Lời tựa cuốn Góp phần phê phán khoa kinh tế chính
trị, C.Mác đã chỉ rõ rằng, “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống
của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị
và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý
Trang 16thức của họ Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay - đây chỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sản xuất đó - mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy
đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ”1 Sau này, chính V.I.Lênin trong quá trình nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn chỉ đạo cách mạng cũng đi đến kết luận: “ chỉ có đem quy những quan hệ
xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên Và dĩ nhiên là không có một quan điểm như thế thì không thể có một khoa học xã hội được”2
Nội dung cốt lõi của mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có thể khái quát như sau:
Một là, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai thành
tố cơ bản cấu thành phương thức sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất, ràng buộc lẫn nhau trong quá trình sản xuất xã hội Mỗi phương thức sản xuất hay quá trình sản xuất
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, 1993, t.13, tr.14-16.
2 V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, 1974, t.1, tr.163.
Trang 17xã hội không thể tiến hành được nếu thiếu một trong hai thành
tố trên; trong đó, lực lượng sản xuất chính là nội dung vật chất,
kỹ thuật, công nghệ của quá trình này, còn quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức kinh tế của quá trình đó Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi quan hệ sản xuất phải được điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp, thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Chỉ có sự thích ứng, phù hợp đó của quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất mới có thể tiếp tục phát triển
Hai là, trong mỗi phương thức sản xuất thì lực lượng sản
xuất đóng vai trò quyết định Tính quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất được thể hiện trên hai mặt thống nhất với nhau: lực lượng sản xuất nào thì quan hệ sản xuất đó
và cũng do đó mà khi lực lượng sản xuất thay đổi thì cũng tất yếu đòi hỏi phải có những thay đổi nhất định đối với quan hệ sản xuất
Ba là, quan hệ sản xuất luôn có khả năng tác động ngược trở
lại đối với việc bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển lực lượng sản xuất Quá trình tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất có thể diễn ra với hai khả năng: tác động tích cực hoặc tác động tiêu cực Khi quan hệ sản xuất phù hợp với nhu cầu khách quan bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển của lực lượng sản xuất thì có tác động tích cực, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; ngược lại, nếu không phù hợp với nhu cầu khách quan đó thì nhất định sẽ diễn ra quá trình tác động tiêu cực Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng trong khi đó quan hệ sản xuất lại có tính ổn định tương đối, vì nó gắn với các thiết chế xã hội, lợi ích của giai cấp cầm quyền Quan hệ sản xuất mang tính
ổn định tương đối trong bản chất xã hội của nó Chính vì thế mà
C.Mác đã khẳng định: “Tổng hợp lại thì những quan hệ sản xuất
hợp thành cái mà người ta gọi là những quan hệ xã hội, là xã hội,
và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào một giai đoạn phát triển
Trang 18lịch sử nhất định, một xã hội có tính chất độc đáo riêng biệt Xã
hội cổ đại, xã hội phong kiến, xã hội tư bản đều là những tổng thể
quan hệ sản xuất như vậy, mỗi tổng thể đó đồng thời lại đại biểu cho một giai đoạn phát triển đặc thù trong lịch sử nhân loại”1 Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thúc đẩy xã hội loài người phát triển không ngừng như một quá trình lịch sử - tự nhiên
Bốn là, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất là quan hệ mâu thuẫn biện chứng, tức là mối quan hệ thống nhất của hai mặt đối lập Sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là đi từ sự thống nhất đến mâu thuẫn và một khi mâu thuẫn được giải quyết thì tái thiết lập sự thống nhất mới; quá trình này lặp đi lặp lại trong lịch sử, tạo ra quá trình vận động phát triển của phương thức sản xuất
4 Những sai lầm phổ biến trong nhận thức và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
- Không nhận thức rõ sự phát triển lực lượng sản xuất là một quá trình lịch sử - tự nhiên Không hiểu đúng quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, tách rời quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất; hoặc cường điệu quan hệ sản xuất mà coi nhẹ lực lượng sản xuất, coi nhẹ việc phát triển, giải phóng lực lượng sản xuất, muốn tạo ra quan hệ sản xuất tiên tiến
đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất, muốn nhanh chóng thực hiện nhiều mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện kinh tế còn lạc hậu, mới giành được chính quyền Không thấy được vai trò của kinh tế tư nhân là động lực phát triển kinh tế
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, 1993, t.6, tr.553.
Trang 19trong thời kỳ quá độ, lo sợ sự phát triển kinh tế tư nhân sẽ chệch hướng sang con đường tư bản chủ nghĩa, cho nên đã nóng vội cải tạo kinh tế cá thể và tư bản tư doanh, xóa bỏ loại hình kinh tế này, biến nền kinh tế quốc dân thành một nền kinh tế - xã hội chủ nghĩa thuần nhất ngay khi lực lượng sản xuất còn thấp kém, dẫn đến kìm hãm lực lượng sản xuất
- Nhận thức quan hệ sản xuất không trong chỉnh thể, cường điệu chế độ sở hữu, nhất là muốn nhanh chóng thiết lập chế độ công hữu với bất kỳ giá nào, coi sở hữu tư nhân nằm ngoài bản chất của chủ nghĩa xã hội nên cần phải nhanh chóng xóa bỏ; coi nhẹ quan hệ tổ chức - quản lý, quan hệ phân phối và nhất là hầu như không xem xét quan hệ sản xuất trong lĩnh vực quan hệ trao đổi và quan hệ tiêu dùng; coi nhẹ động lực lợi ích cá nhân của người lao động
- Đề cao một cách phiến diện yếu tố người về mặt số lượng, không chú ý chất lượng nguồn nhân lực và yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất
- Không quan tâm đến những điều kiện để phát huy ưu thế của phân công và hợp tác lao động nên đã nóng vội mở rộng quy
mô hợp tác xã, khiến cho sức sản xuất của lao động giảm sút, kinh tế trì trệ
- Chủ quan, duy ý chí trong chủ trương phân bố lực lượng lao động
- Duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, coi nhẹ quy luật giá trị, quan hệ hàng hóa - tiền tệ, cơ chế thị trường, từ
đó tạo thành cơ chế kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
- Muốn tạo ra một quan hệ sản xuất nhất loạt như nhau trong những ngành sản xuất khác nhau, những vùng, miền, địa bàn khác nhau (vùng đồng bằng, miền núi, vùng sâu, vùng xa ) với những trình độ lực lượng sản xuất rất khác nhau, tức là cào bằng quan hệ sản xuất
Trang 20Lực lượng sản xuất ngày nay đã vượt xa so với thời Mác
C.Mác xây dựng học thuyết của mình trong điều kiện của cách mạng công nghiệp lần thứ hai (cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đánh dấu bằng sự ra đời của máy hơi nước, cách mạng công nghiệp lần thứ hai đánh dấu bằng sự ra đời của điện năng), còn ngày nay loài người đã trải qua cách mạng công nghiệp lần thứ
ba với sự ra đời của kỹ thuật số (máy tính) và đang bước nhanh vào cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mở ra kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo
Trước cách mạng công nghiệp lần thứ tư, con người chủ yếu
sử dụng tư liệu sản xuất là các tài nguyên thiên nhiên và các máy móc để sản xuất ra các sản phẩm Song, cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi cách thức sản xuất, chế tạo và có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với mọi yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất
Thứ nhất, với đối tượng lao động, nhờ ứng dụng công nghệ
trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tài nguyên và nhiên liệu, nguyên liệu đã phong phú hơn, giàu có hơn trong đó nhiều loại có hàm lượng tri thức ngày càng lớn hơn Nếu căn cứ theo những yếu tố đầu vào của nền kinh tế công nghiệp dựa vào tài nguyên thiên nhiên thì nguồn lực tự nhiên đang ngày càng khan hiếm và cạn kiệt do con người khai thác quá nhiều Tuy nhiên, khoa học - công nghệ phát triển vượt bậc đã giúp con người phát hiện ra nhiều thuộc tính mới của tài nguyên thiên nhiên, nhiều vật liệu trước kia tưởng chừng không có ích lại trở thành những vật có ích lớn, nhiều vật tính có ích lại được nhân lên gấp bội với
Trang 21sự xuất hiện của nhiều ngành sản xuất mới, tạo ra đối tượng lao động mới, phong phú và giàu có hơn
Thứ hai, với tư liệu lao động (công cụ lao động và phương
tiện sản xuất), cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra nhiều công cụ lao động mới và đưa đến việc thay thế từng bước các tư liệu lao động truyền thống bằng các tư liệu lao động hiện đại dựa trên thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại, tập trung
ở lĩnh vực công nghệ sinh học, vật liệu mới và công nghệ thông tin Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra các công cụ lao động và phương tiện sản xuất mới với những máy móc tiêu hao
ít nhiên liệu, năng lượng, thải ra ít phế thải, không gây ô nhiễm môi trường, tạo nên nền sản xuất phát triển bền vững Những máy móc, công nghệ mới chứa đựng lượng thông tin cực kỳ lớn, cho phép sản xuất với năng suất, chất lượng sản phẩm đặc biệt
cao Tư liệu sản xuất chính sẽ chuyển từ chủ yếu là vật chất sang
phi vật chất, tức là lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và chi phí
lao động phổ thông thấp sẽ ngày càng giảm, sản xuất sẽ có xu hướng dịch chuyển từ các nước có nhiều lao động phổ thông và tài nguyên sang những nước có nhiều lao động chuyên môn cao và gần thị trường tiêu thụ Những doanh nghiệp biết tận dụng các công nghệ mới với tư liệu sản xuất phi vật chất của cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng thu được những thành tựu lớn Ví
dụ, tập đoàn Alibaba của Trung Quốc được đánh giá là một trong những nhà bán lẻ có giá trị nhất thế giới song lại không có chút hàng lưu kho nào; hay Airbnb, nhà cung cấp phòng ở cho thuê lớn nhất thế giới nhưng lại không có chút bất động sản nào1
1 Tom Goodwin: In the age of disintermediation the battle is all for the consumer interface, TechCrunch, March, 2015, http://techcrunch com/2015/3/03/in-the-age-of-disintermediation-the-battle-is-allfor- thecustomer-interface/
Trang 22Thứ ba, với người lao động, cách mạng công nghiệp lần
thứ tư đã tác động mạnh mẽ đối với người lao động, làm biến đổi chức năng của con người trong sản xuất: con người dần dần không còn là yếu tố thao tác trực tiếp trong hệ thống kỹ thuật mà chuyển sang chủ yếu là sáng tạo và điều chỉnh quá trình đó Sự tác động này được thể hiện:
(i) Làm biến đổi nội dung và tính chất của lao động Về nội dung, lao động đang chuyển dần từ lao động thủ công, lao động
cơ khí sang lao động thông tin, lao động trí tuệ Về tính chất, lao động đang biến đổi theo hướng ngày càng mang tính xã hội hóa sâu sắc Do đó, cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang phá
vỡ cấu trúc thị trường lao động truyền thống ở nhiều quốc gia (ii) Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động đến số lượng việc làm thông qua sự thay thế sức lao động bằng máy móc, robot, trí tuệ nhân tạo và ứng dụng công nghệ thông tin đối với một số ngành, nghề đang diễn ra nhanh chóng, thâm nhập vào nơi làm việc trên thị trường lao động Xu hướng việc làm sẽ là sự dịch chuyển từ sản xuất sử dụng nhiều lao động sang sử dụng nhiều tri thức và công nghệ (iii) Tác động đến chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư Ngoài yêu cầu cứng về kỹ năng kỹ thuật (mức trung bình và cao) bao gồm những kiến thức và kỹ năng chuyên biệt nhằm thực hiện công việc cụ thể thì người lao động cần phải có những kỹ năng làm việc mềm hay cốt lõi như: khả năng tư duy sáng tạo và tính chủ động trong công việc, kỹ năng sử dụng máy tính, internet, khả năng ngoại ngữ, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng an toàn và tuân thủ kỷ luật lao động, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng tập trung OECD ước tính đến năm
2020, nguồn nhân lực trong thị trường kỹ thuật số sẽ thiếu hụt lớn, riêng khu vực châu Âu có thể thiếu khoảng 825.000 chuyên
Trang 23gia trong mảng lĩnh vực này1 (iv) Nền tảng công nghệ số, tích hợp tất cả các thông tin về công nghệ, quy trình, phương thức sản xuất, nhu cầu về ngành, nghề, kỹ năng và nhất là khả năng kết nối, chia sẻ trên toàn thế giới thông qua các thiết bị công nghệ sẽ làm thay đổi cách thức kết nối giữa cung và cầu trên thị trường lao động, xóa bỏ biên giới cứng của thị trường lao động giữa các quốc gia trong khu vực, khiến thị trường lao động sôi động hơn, thúc đẩy tạo việc làm giữa các quốc gia
Người lao động giờ đây không chỉ được giải phóng về lao động chân tay mà còn được giải phóng cả về lao động trí óc Máy móc -
công cụ lao động không chỉ là cánh tay nối dài của người lao động
mà cánh tay đó còn được “thông minh hóa” Sự giao tiếp giữa người lao động - robot cao cấp - máy móc thông minh tác động vào nguyên, nhiên, vật liệu mới, tạo ra sản phẩm theo nhu cầu của con người, thậm chí đáp ứng nhu cầu cá biệt hóa ngày càng tăng của mỗi người tiêu dùng
Bên cạnh đó, phân bố nguồn lực sản xuất, cách thức sản xuất
và tiêu dùng thay đổi mạnh mẽ nhờ vào sự phát triển của khoa học - công nghệ Nền sản xuất “tự động” hóa sẽ nhanh chóng chuyển sang “thông minh” hóa Nhân lực chất lượng cao gắn với
“sản xuất thông minh”, theo đó nguồn nhân lực chất lượng cao luôn là yếu tố quyết định cho sự phát triển Với tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì vai trò nguồn nhân lực càng được thể hiện rõ hơn
Hệ thống công nghệ cao chính là cốt lõi của lực lượng sản xuất mới trong nền sản xuất hiện đại Cho đến nay, người ta đã xác định các xu hướng chính của cách mạng công nghiệp lần thứ
tư bao gồm: phương tiện tự lái, in 3D, robot cao cấp, vật liệu mới
1 OECD: Science, Technology and Industry Outlook 2014,OECD Publishing, 2014, http://dx.doi.org/10.1787/sti_outlook-2014-en.
Trang 24và các công nghệ tích hợp khác dựa trên sự phát triển của mạng internet
Tóm lại, lực lượng sản xuất mới đã hình thành với những
đặc điểm mới vượt xa với thời C.Mác Đặc điểm của lực lượng
sản xuất mới là: Một là, khoa học - công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Hai là, tri thức khoa học làm thay đổi đặc điểm của lực lượng sản xuất mới Ba là, do tri thức khoa học
mang tính toàn cầu nên lực lượng sản xuất mới - dựa trên tri
thức khoa học - mang tính toàn cầu hoá Bốn là, vốn người là vốn quan trọng trong lực lượng sản xuất mới Năm là, bền vững và
thân thiện với môi trường là một trong những đặc điểm mới của lực lượng sản xuất
2 Những vấn đề liên quan đến sự biến đổi trong quan hệ sản xuất
Theo các chuyên gia dự báo, hiện nay, do tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất đã thay đổi đáng kể:
- Cách mạng công nghiệp lần thứ tư không chỉ làm thay đổi
cơ bản lối sống, phong cách làm việc mà còn thay đổi cả cách thức giao tiếp trong quá trình sản xuất Con người ngày càng có xu hướng ít quan hệ trực tiếp với nhau, chuyển từ xu hướng quan hệ trực tiếp sang quan hệ gián tiếp trong quá trình sản xuất (chủ yếu
là quan hệ gián tiếp qua công nghệ số hóa) Khả năng hàng triệu người kết nối với nhau qua điện thoại di động, với sức mạnh xử lý, dung lượng lưu trữ và sự tiếp cận tri thức chưa từng có tiền lệ, là không giới hạn Thậm chí, những khả năng đó còn được nhân lên gấp bội nhờ vào những đột phá về công nghệ mới nổi trong các lĩnh vực như trí thông minh nhân tạo, robot, mạng internet, phương tiện độc lập, in 3D, công nghệ nano, công nghệ sinh học, khoa học
về vật liệu, lưu trữ năng lượng và tin học lượng tử
Trang 25- Về quan hệ sở hữu, trước đây khi đề cập đến đối tượng sở
hữu, C.Mác chủ yếu mới nói đến sở hữu về tư liệu sản xuất, như người nô lệ, ruộng đất, hầm mỏ, súc vật , nhưng ngày nay đối
tượng sở hữu không còn bó hẹp như quan niệm thời đó nữa Đối
tượng sở hữu hiện nay không dừng ở tư liệu sản xuất, mà đã xuất hiện những dạng mới thời C.Mác chưa hề có, đó là: năng lượng, thông tin, trí tuệ, kinh nghiệm, sở hữu số Quan hệ sở hữu ngày
càng mở rộng, tính công hữu (sở hữu cộng đồng) ngày càng gia tăng, nhất là công nghệ siêu hiện đại (IoT, dữ liệu, điện toán đám mây và các công nghệ dịch vụ miễn phí khác )
- Về quan hệ quản lý, xu hướng robot hóa nền sản xuất,
nhất là robot cao cấp với trí thông minh nhân tạo sẽ trở thành người quản lý, là thành viên hội đồng quản trị khiến năng lực, chứ không phải nguồn vốn, trở thành nhân tố cốt lõi của nền sản xuất Ở cấp độ doanh nghiệp, hệ thống phân công lao động thế giới ngày nay được chuyên môn hóa, chi tiết theo chuỗi giá trị ngày càng phổ biến, làm biến đổi căn bản cách thức tổ chức tiến hành sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Lao động
kỹ thuật số là xu hướng mới nhất trong phân công lao động quốc
tế hiện nay Quan hệ cung - cầu cũng thay đổi đáng kể Hình thức nhà cung cấp, chuỗi giá trị, đối thủ cạnh tranh thay đổi, tính sáng tạo gia tăng, dẫn đến chất lượng, giá cả và tốc độ thay đổi cũng nhanh hơn, khiến các hệ thống logicstic truyền thống không còn phù hợp, phải thay bằng quy trình linh hoạt và sáng tạo hơn Theo đó, cầu cũng thay đổi, tính minh bạch ngày càng cao, sự cá biệt hóa là một xu hướng, làm cho mối quan hệ cung - cầu ngày càng gắn kết hơn bao giờ hết, sản xuất gắn với tiêu thụ theo yêu cầu Người tiêu dùng sản phẩm có thể đặt hàng và kiểm tra sản phẩm của mình từ A - Z trong quy trình sản xuất 3D, khiến cho doanh nghiệp buộc phải quan tâm đổi mới quy trình sản xuất kinh doanh
Trang 26Ở tầm quốc gia, công nghệ ngày càng cho phép người dân tiếp cận gần hơn với chính phủ của họ để nêu ý kiến, cùng phối hợp hoạt động Đồng thời, các chính phủ cũng sở hữu sức mạnh
về công nghệ để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của mình đối với toàn bộ xã hội Quá trình đồng sở hữu công nghệ vừa là thời
cơ, vừa là thách thức bởi những yếu tố an ninh phi truyền thống cũng dễ nảy sinh
- Về quan hệ phân phối, sự xuất hiện của những công
nghệ mới đã tạo ra những phương thức hoàn toàn mới nhằm phục vụ cho nhu cầu hiện nay, đồng thời tạo đột phá quan trọng trong những chuỗi giá trị công nghiệp hiện nay Sự đột phá cũng đang xuất hiện từ những nhà cạnh tranh linh hoạt và sáng tạo, những người được hưởng lợi từ việc tiếp cận các phương tiện số toàn cầu để tiến hành nghiên cứu, phát triển, tiếp thị, bán hàng
và phân phối Thuận lợi đó giúp họ cải thiện chất lượng, mẫu
mã và giá cả cho phù hợp với giá trị của hàng hóa được phân phối, từ đó có thể cạnh tranh và đánh bại các đối thủ lớn khác với tốc độ nhanh chưa từng thấy Những thay đổi lớn về nhu cầu cũng đang diễn ra khi tính minh bạch ngày một cao, sự tham gia của người tiêu dùng và những hành vi mới của người tiêu dùng (ngày càng được xây dựng trên cơ sở tiếp cận mạng lưới và
dữ liệu di động) buộc các công ty phải điều chỉnh phương thức thiết kế, tiếp thị và phân phối sản phẩm và dịch vụ của mình Thị trường lao động chuyển hóa thành hai nhóm: nhóm kỹ năng thấp được trả lương thấp và nhóm kỹ năng cao được trả lương cao Xuất hiện mô hình thị trường lao động “tăng hai đầu, rỗng
ở giữa”1
1 “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư - từ góc nhìn an ninh phi truyền thống”, 20/10/2017, http://hvctcand.edu.vn.
Trang 273 Những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, sự phát triển giao thoa giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ đã không chỉ đem lại sự phồn vinh về vật chất cho con người, mà điều quan trọng hơn là đã làm thay đổi cả phương thức sản xuất, phương thức quản lý đời sống xã hội của con người, dẫn đến những thay đổi lớn lao về kinh tế, xã hội, văn hóa trong nhiều thập kỷ qua
Chẳng hạn: không còn sự phân định rạch ròi ranh giới của một
số yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất do
sự phát triển có tính chất giao thoa giữa chúng, cụ thể: (1) tổ
chức quá trình sản xuất không thuần túy chỉ là một bộ phận cấu thành của quan hệ sản xuất mà còn là một bộ phận quan trọng của lực lượng sản xuất, nó là chất kết dính giữa các yếu tố vật chất và con người trong lực lượng sản xuất, chi phối trực tiếp tính hiệu quả của quá trình sản xuất; (2) khoa học - công nghệ cũng
làm thay đổi vai trò của các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất
và lực lượng sản xuất Con người dẫu vẫn là yếu tố quyết định
của lực lượng sản xuất, của quá trình sản xuất, nhưng lao động
quản lý, chỉ đạo ở cả tầm vĩ mô và vi mô ngày càng giữ vị trí quan trọng hơn so với lao động trực tiếp sản xuất.
Giải quyết những mâu thuẫn trong xã hội hiện đại do tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư như thế nào là một thách thức lớn trong việc xử lý mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đối với các nhà nước nói riêng và với toàn nhân loại nói chung
4 Một số gợi ý phương pháp luận bước đầu nhằm giải quyết mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất
- Để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, trước tiên cần tập trung phát triển lực lượng
Trang 28sản xuất, bao gồm trước hết là người lao động, tư liệu sản xuất (trong đó có công cụ lao động, phương tiện truyền tải và đối tượng lao động) Đó là do lực lượng sản xuất có vai trò chức năng sáng tạo ra của cải vật chất và là động lực của sự phát triển xã hội Chừng nào lực lượng sản xuất chưa phát triển thì chừng đó chưa
có điều kiện để hoàn thiện quan hệ sản xuất Bởi vì, lực lượng sản xuất là nội dung, là cái cấu thành nền tảng vật chất của toàn bộ lịch sử nhân loại, trong khi quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất Không thể hoàn thiện hình thức khi chưa có nội dung nền tảng vật chất
- Không thể giải quyết tốt mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất nếu không đồng thời hoàn thiện kiến trúc thượng tầng tương thích với cơ sở hạ tầng
- Phát triển lực lượng sản xuất phải bảo đảm sự phù hợp giữa các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, sự cân đối giữa nguồn nhân lực và tư liệu sản xuất cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu của cách mạng lần thứ tư và hội nhập quốc tế Hoàn thiện quan hệ sản xuất không chỉ tập trung vào ba mặt quan hệ: sở hữu, quản lý và phân phối mà còn phải chú ý hoàn thiện cả hệ thống quan hệ sản xuất
- Giải quyết mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất
và hoàn thiện quan hệ sản xuất phải tuân thủ các yêu cầu khách quan của các quy luật trong nền kinh tế thị trường
Trang 29QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT - NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TRONG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
GS.TS LÊ HỮU NGHĨA* 1
1 Nếu như học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là hòn đá
tảng của quan niệm duy vật lịch sử thì quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, có thể nói, là hòn đá tảng của học thuyết hình thái kinh tế -
xã hội Đây là quy luật cơ bản và phổ biến của xã hội loài người,
là động lực của lịch sử, quyết định sự vận động và phát triển của
xã hội từ hình thái này lên hình thái khác cao hơn Quy luật này
là do C.Mác phát hiện và đã được ông trình bày trong Lời tựa
của tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị (mặc dù
trong tác phẩm này C.Mác không dùng từ “quy luật”) Có lẽ phải
đến Stalin sau này, trong tác phẩm Những vấn đề kinh tế của chủ
nghĩa xã hội ở Liên Xô (năm 1952), ông mới dùng từ “quy luật”
Cụ thể là: “quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất” (cả tính chất và trình độ), thậm chí đưa “tính chất” lên trước “trình độ” Về sau này, từ Liên Xô tới các nước xã hội chủ nghĩa khác, kể cả trong sách giáo khoa đều gọi tên quy luật là: “quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
* Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương.
Trang 30tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất” Như vậy là không đúng với tư tưởng của C.Mác
Trong Lời tựa cuốn Góp phần phê phán khoa kinh tế chính
trị, C.Mác đã chỉ rõ rằng, “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống
của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan
hệ sản xuất hiện có, hay - đây chỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sản xuất đó - mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển
Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ”1
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, 1993, t.13, tr.14-16.
Trang 31Như vậy, theo C.Mác, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là cái quyết định, sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định kết cấu nội dung của quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất lạc hậu sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Quá trình này diễn ra một cách khách quan, như một quá trình lịch sử tự nhiên, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người và loài người Sau này, chính V.I.Lênin trong quá trình nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn chỉ đạo cách mạng cũng đi đến kết luận: “ chỉ có đem quy những quan hệ
xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên Và dĩ nhiên là không có một quan điểm như thế thì không thể có một khoa học xã hội được”1
Giữa trình độ của lực lượng sản xuất và tính chất của quan
hệ sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Trình độ lực lượng sản xuất quyết định tính chất quan hệ sản xuất (tính chất cá nhân hay tính chất xã hội); còn tính chất quan hệ sản xuất phụ thuộc vào trình độ lực lượng sản xuất Khi trình độ lực lượng sản xuất thay đổi thì tính chất quan hệ sản xuất cũng thay đổi theo Trước chủ nghĩa tư bản, tính chất lực lượng sản xuất là tính chất
cá nhân; từ chủ nghĩa tư bản trở đi, tính chất lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội và trình độ xã hội hóa cũng tiến triển theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (thể hiện qua sự phát triển của công cụ sản xuất, phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, nền sản xuất trên thế giới đi từ cơ khí hóa - tự động hóa - kinh tế tri thức - cách mạng công nghiệp 4.0)
1 V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, 1974, t.1, tr.163.
Trang 32C.Mác đã chỉ ra rằng quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Theo C.Mác, sự phù hợp đó là sự phù hợp bản chất, có tính chất động, phù hợp trong mâu thuẫn chứ không phải phù hợp hoàn toàn; trong phù hợp
có không phù hợp Đó là bởi lực lượng sản xuất “động” hơn, cách mạng hơn, biến đổi nhanh hơn, còn quan hệ sản xuất ổn định hơn, biến đổi chậm hơn Đó là quá trình vận động của hai mặt đối lập: phù hợp và không phù hợp Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định, quan hệ sản xuất từ chỗ là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, trở thành xiềng xích trói buộc lực lượng sản xuất, tới một mức độ nào đó sẽ dẫn đến thời đại cách mạng xã hội diễn ra
2 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật mà trong nhận thức
và vận dụng ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, đều mắc phải sai lầm, gây hậu quả nghiêm trọng, dẫn đến khủng hoảng kinh
tế - xã hội Xu hướng chung của các sai lầm này là muốn tạo ra quan hệ sản xuất đi trước “mở đường” cho lực lượng sản xuất phát triển trong khi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất chưa thể đáp ứng được những yêu cầu mà quan hệ sản xuất mới đòi hỏi Đây là lối tư duy nóng vội, chủ quan với mong muốn nhanh chóng xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa V.I.Lênin đã từng cảnh báo: “Muốn hoàn thành công việc đó, phải thực hiện một bước tiến khổng lồ trong sự phát triển lực lượng sản xuất, phải chiến thắng sự phản kháng (thường là tiêu cực, đặc biệt dai dẳng và đặc biệt khó khắc phục) của nhiều tàn dư của sản xuất nhỏ, phải chiến thắng sức mạnh to lớn của tập quán và thói thủ cựu gắn liền với những tàn dư đó”1 Thế nhưng, khi vận dụng vào thực tế, các nước chủ nghĩa xã hội trước đây đã bỏ qua cảnh báo
1 V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, 1977, t.39, tr.18
Trang 33này của V.I.Lênin bởi đã có những thành tựu nhất định trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội khi tạo ra quan hệ sản xuất
đi trước “mở đường” cho lực lượng sản xuất Tuy nhiên, trong dài hạn, đây có thể coi là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng trì trệ, khủng khoảng kinh tế - xã hội và dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu
Nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng trên là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp, trong khi đó những yếu tố của quan hệ sản xuất lại “đi quá xa”, không phù hợp dẫn đến lực lượng sản xuất bị kìm nén, không tiếp tục phát triển được Ở Việt Nam, phong trào hợp tác hóa với những hợp tác xã quy mô toàn
xã trong khi người nông dân mới chỉ là những tiểu nông, trình độ quản lý, điều hành thấp kém đã dẫn đến sản xuất nông nghiệp đình trệ, thiếu lương thực diễn ra trên diện rộng; hay đẩy mạnh phát triển công nghiệp nặng trong khi trình độ khoa học - kỹ thuật còn rất thấp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng không được chú trọng dẫn đến thiếu hàng hóa tiêu dùng trong nhân dân
là những ví dụ khá rõ nét cho tình trạng trên
3 Một số vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới
3.1 Về vị trí và vai trò của quan hệ sở hữu Chúng ta đều
biết, sở hữu giữ vai trò cực kỳ quan trọng cả về mặt kinh tế và mặt chính trị Nếu không giải quyết tốt quan hệ sở hữu giữa các nhóm dân cư, các giai cấp thì sẽ ảnh hưởng ngay đến sự phát triển kinh tế, sự ổn định xã hội, và nếu tình trạng đó kéo dài có thể gây ra những bất ổn về chính trị
Nước ta hiện nay đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa
xã hội, vì vậy trong nền kinh tế của chúng ta đang song song tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau Giữa chúng không tránh khỏi có những mâu thuẫn, xung đột Do đó, giải quyết các vấn đề
mà quan hệ sở hữu đang đặt ra có vai trò vô cùng quan trọng để
Trang 34huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực vào việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện được các mục tiêu
mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra
3.2 C.Mác trong bộ Tư bản đã khẳng định: “Sự phát triển
của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến
[Wissen, knowledge] đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực
lượng sản xuất trực tiếp, do đó nó cũng là chỉ số cho thấy những
điều kiện của chính quá trình sống của xã hội đã phục tùng đến mức độ nào sự kiểm soát của trí tuệ phổ biến và đã được cải tạo đến mức độ nào cho phù hợp với quá trình ấy; những lực lượng sản xuất xã hội đã được tạo ra đến mức độ nào không những dưới hình thức tri thức, mà cả như là những cơ quan thực hành xã hội trực tiếp, những cơ quan trực tiếp của quá trình sống hiện thực”1.Luận điểm này của C.Mác cần được luận giải rõ hơn Cụ thể,
ở đây cần hiểu rõ hơn “những cơ quan thực hành xã hội trực tiếp, những cơ quan trực tiếp của quá trình sống hiện thực” là những
cơ quan nào trong xã hội? và “tri thức xã hội phổ biến” là gì? Lâu nay chúng ta hay nói “khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp” - rõ ràng là không đúng tinh thần của C.Mác, vì vậy cần nghiên cứu sâu hơn, từ đó luận giải chính xác tinh thần của C.Mác Hơn nữa, cũng cần luận giải những điều kiện thế nào để
“tri thức xã hội phổ biến” chuyển hóa thành lực lượng sản xuất trực tiếp
3.3 Trước kia chúng ta nêu, đặc trưng của quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa là: chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu Đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) lại nêu, đó là “quan
hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp” Nhưng hiểu thế nào là quan hệ sản
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, 1993, t.46, p.II, tr.372-373.
Trang 35xuất tiến bộ, phù hợp; nội hàm là gì? Những vấn đề này vẫn đang còn bỏ ngỏ, chưa được luận giải một cách đầy đủ
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu 8 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam, trong đó có đặc trưng thứ hai “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp ”1 Vậy tiêu chí của lực lượng sản xuất hiện đại là những tiêu chí gì? Quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp được hiểu như thế nào? Để “tiến bộ” trước “phù hợp” có phải chăng là chúng ta đã vô tình không coi trọng đúng mức tính quy luật của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? Nên chăng là “có quan hệ sản xuất phù hợp và tiến bộ” sẽ hay hơn, đúng hơn? Những vấn đề trên cần tiếp tục làm rõ và luận giải đầy đủ trong thời gian tới
3.4 Về hoàn thiện thể chế liên quan đến quan hệ sản xuất, có
một số vấn đề đặt ra như sau:
(1) Về thể chế hóa quyền tài sản:
(i) xác lập đầy đủ các quy định pháp lý liên quan đến quyền
tài sản (quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền hưởng lợi từ việc sử
dụng các tài sản) của các đối tượng trong xã hội (bao gồm Nhà nước, các loại hình tổ chức, các doanh nghiệp, cộng đồng dân cư, các cá nhân; (ii) xây dựng các quy định nhằm đảm bảo trong thực
tế việc thực hiện quyền tài sản của Nhà nước, các tổ chức và cá nhân; (iii) xây dựng và hoàn thiện các quy định, các tổ chức bảo
vệ quyền tài sản của các đối tượng trong xã hội.
(2) Hoàn thiện thể chế về sở hữu trí tuệ:
Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được hiểu là việc Nhà nước và các chủ thể có quyền sở hữu trí tuệ sử dụng các phương thức pháp
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.70.
Trang 36lý để bảo đảm quyền sở hữu đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ của mình (bao gồm quyền tác giả và quyền liên đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng), chống lại mọi sự xâm phạm để giữ nguyên vẹn quyền sở hữu các đối tượng này
Quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ bằng các biện pháp hành chính, dân sự hoặc hình sự do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện hoặc do chính các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền tự bảo vệ
Với sự phát triển của kinh tế - xã hội trong nước và hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế thời gian qua, vấn đề sở hữu trí tuệ đang ngày càng được coi trọng ở Việt Nam Đây là điều tất yếu bởi tài sản trí tuệ hiện được coi là tài sản quan trọng nhất của mỗi quốc gia, nhất là trong điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển, bùng nổ mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu Việc xây dựng được thể chế về sở hữu trí tuệ tốt sẽ giúp bảo
vệ được tài sản quan trọng này, tạo niềm tin với những người làm công tác sáng tạo trong nước cũng như niềm tin của các nhà đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam
Muốn vậy, trước mắt, chúng ta cần thực hiện tốt Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và các văn bản liên quan đến
sở hữu trí tuệ đang có hiệu lực Đồng thời tiếp tục nghiên cứu, cập nhật, bổ sung để ngày càng hoàn thiện quy định về sở hữu trí tuệ cho phù hợp với tình hình mới
(3) Hoàn thiện thể chế về doanh nghiệp nhà nước:
Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã khẳng định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” Trong kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước có vai trò là lực lượng nòng cốt Hiện nay, doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ những nguồn lực to lớn về vốn, tài nguyên, nhân lực và đóng vai trò to lớn trong nền kinh tế nước ta Tuy nhiên, thực tế “Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả,
Trang 37chưa thể hiện được vai trò là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước”1 Vì vậy, hoàn thiện thể chế đối với doanh nghiệp nhà nước
là việc vừa cấp bách vừa là nhiệm vụ lâu dài để hoàn thiện quan
hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta nói chung; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói riêng
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.99
Trang 38NỘI DUNG CỐT LÕI TRONG LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT,
QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ MỐI LIÊN HỆ
GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VỚI QUAN HỆ SẢN XUẤT
GS.TS ĐỖ THẾ TÙNG* 1
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận xét: Quá trình sản xuất biểu
hiện ra là một quan hệ song trùng: Một mặt là quan hệ giữa con người và tự nhiên (được gọi là lực lượng sản xuất) và mặt khác là quan hệ giữa người với người trong sản xuất (được gọi
là quan hệ sản xuất) Lực lượng sản xuất là yếu tố có tính quyết định, cách mạng nhất và không ngừng phát triển Quan hệ sản xuất là yếu tố ổn định hơn Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì tạo điều kiện thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển lên một trình độ cao hơn thì quan hệ sản xuất hiện tồn lại trở thành xiềng xích, cản trở sự phát triển lực lượng sản xuất, do
đó tất yếu sẽ được thay thế bằng một quan hệ sản xuất tiến bộ hơn, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất mới
1 Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là sự thống nhất hữu cơ giữa những yếu
tố vật và người trong sản xuất
* Nguyên Trưởng khoa Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh.
Trang 39Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh: Các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải Lao động đúng
là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cái cung cấp những vật liệu cho lao động biến thành của cải
Khi phân tích quá trình lao động, C.Mác cũng chỉ rõ: Lao động trước hết là quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa
họ và tự nhiên Những yếu tố giản đơn của quá trình lao động
là sự hoạt động có mục đích hay bản thân sự lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động C.Mác còn gọi lao động là nhân tố người hay nhân tố chủ quan, còn đối tượng lao động và tư liệu lao động (gộp lại là tư liệu sản xuất) là nhân tố vật hay nhân tố khách quan
Lực lượng sản xuất biểu hiện ở sức sản xuất của lao động, C.Mác đã chỉ rõ: Sức sản xuất của lao động được quyết định bởi nhiều tình hình, trong đó có trình độ khéo léo trung bình của người công nhân, mức độ phát triển của khoa học và trình độ áp dụng khoa học vào quy trình công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất và các điều kiện thiên nhiên
1.1 Nhân tố người
Xu hướng lịch sử tự nhiên là lao động cá thể, phân tán từng bước chuyển thành lao động hiệp tác, tập trung hay còn gọi là lao động xã hội Trước chủ nghĩa tư bản, hiệp tác lao động giản đơn cũng đã có ở những trang trại lớn của địa chủ và trong các phường hội, nhưng phổ biến vẫn là lao động riêng lẻ Còn sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ thực sự bắt đầu ở nơi nào mà cùng một
tư bản cá biệt thuê nhiều công nhân trong cùng một lúc Do đó, hiệp tác lao động là điểm xuất phát lịch sử và lôgic của sản xuất
tư bản chủ nghĩa C.Mác đã nêu lên 7 ưu thế của lao động hiệp
Trang 40tác và 3 điều kiện để phát huy những ưu thế ấy Hiệp tác lao động giản đơn phát triển lên hiệp tác có phân công trong công trường thủ công; đại công nghiệp tái hiện 2 loại phân công đó giữa các máy trong công xưởng Còn người với người lại hiệp tác với nhau theo yêu cầu của máy1
Đại công nghiệp đòi hỏi giáo dục bách khoa và có thể xóa bỏ
sự phân công theo kiểu công trường thủ công bằng cách buộc chặt cùng một công nhân vào cùng một công việc Từ một nghề chuyên môn một đời điều khiển một dụng cụ bộ phận trở thành một nghề chuyên môn suốt đời phục vụ một chiếc máy bộ phận
Ph.Ăngghen dự báo trong tương lai, khi đại công nghiệp phát triển rất cao, việc sản xuất bằng lực lượng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất sẽ cần những con người hoàn toàn mới, những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất Công tác giáo dục sẽ làm cho những người trẻ tuổi có khả năng nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất, làm cho họ có thể lần lượt chuyển từ ngành này sang ngành khác tùy theo nhu cầu của xã hội
C.Mác cũng dự đoán: Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực sự sẽ trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và số lượng lao động đã chi phí, mà phụ thuộc vào trình
độ chung của khoa học và vào tiến bộ kỹ thuật, hay phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học vào sản xuất Lao động biểu hiện
ra không phải chủ yếu là lao động được nhập vào quá trình sản
1 “Từ quan điểm của C.Mác về những xu hướng phát triển chủ yếu của lực lượng sản xuất, suy nghĩ về vấn đề phát triển lực lượng sản xuất
ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 07/7/2005; “Tìm hiểu quan
điểm của V.I.Lênin về xã hội hóa lao động để vận dụng vào thực hiện lời chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xã hội hóa nông nghiệp ở Việt Nam”,
Tạp chí Cộng sản, số 894, tháng 4/2017.