1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx

56 600 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hóa
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý và Bảo tồn Thiên nhiên
Thể loại dự án xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên
Năm xuất bản 2006-2010
Thành phố Quảng Trị
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 713,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 2: Diện tích các loại đất đai khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới phân bố dưới 600m Kiểu phụ rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên n

Trang 1

Dự án xây dựng khu BTTN

Bắc Hướng Hoá

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Khu bảo tồn nằm ở phía bắc huyện Hướng Hóa, đây là vùng địa hình cao nhất của tỉnh Quảng Trị với hai đỉnh núi cao nổi trội là đỉnh Sa Mù (1550 m) và đỉnh Voi Mẹp (1771 m-Voi nằm) Đường Hồ Chí Minh nhánh tây bắt đầu từ thị trấn Khe Sanh

và chạy xuyên qua khu bảo tồn sau đó sang tỉnh Quảng Bình Trung tâm khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa cách trung tâm huyện Hướng Hóa (Khe Sanh) khoảng 50 km về phía bắc và thị xã Đông Hà khoảng 100 km theo quốc lộ 9 đến thị trấn Khe sanh và đường

và đang đóng vai trò phòng hộ đầu nguồn quan trọng của 4 hệ thủy lớn là sông Bến Hải, sông Cam Lộ (sông Hiếu), sông Rào Quán (sông Quảng Trị) và sông Xê Păng Hiêng (chảy vào sông Mê Kông bên Lào) Đặc biệt quan trọng là hệ thủy Rào Quán nơi có công trình thủy điện Rào Quán, sắp hoàn thành Theo kết quả tính toán độ che phủ rừng tự nhiên trong khu bảo tồn lên tới 83,5% Về đa dạng sinh học, các kết quả khảo sát bước đầu của Tổ chức BirdLife Quốc tế Chương trình Việt Nam cho thấy đây là điểm nóng về đa dạng sinh học mang tầm vóc quốc gia và quốc tế Đây là nơi sinh sống của các loài động thực vật có ý nghĩa bảo tồn quốc tế Thú lớn và linh trưởng có các loài: Saola, Bò tót, Mang lớn, Vooc Hà Tĩnh, Vượn đen má trắng, Vooc vá chân nâu Đây là nơi đã phát hiện nhiều loài chim đặc hữu và đang bị đe dọa

ở cấp quốc gia và quốc tế như: Gà lôi lam mào trắng, Trĩ sao, Hồng hoàng, Niệc nâu,

Gà so trung bộ và nhiều loài chim phân bố hẹp khác

Nhận thức rõ tầm quan trọng của khu vực trong nhiều lĩnh vực, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Trị đã đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành lập mới hai khu rừng đặc dụng thuộc tỉnh Quảng Trị là Bắc Hướng Hóa và Khu bảo vệ cảnh quan đường Hồ Chí Minh huyền thoại, theo công văn số 2036/TT-UB, ngày 8/10/2004 Bộ NN&PTNT đã có công văn trả lời số 1736/BNN-KL, ngày 13/7/2005

về việc thống nhất với đề nghị của UBND tỉnh Quảng Trị Hai khu rừng nói trên đã được Bộ NN&PTNT đưa vào danh mục các khu rừng đặc dụng Việt Nam quy hoạch đến năm 2010 để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt (trích nguyên công

văn của Bộ NN&PTNT trả lời tỉnh Quảng Trị) Hơn nữa trong chiến lược phát triển lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2005-2010 và định hướng phát triển đến năm

2020 đã được Bộ NN&PTNT góp ý theo công văn số 605/BNN-LN, ngày 23/3/2005

và đã được tỉnh phê duyệt theo quyết định số 1775/QĐ-UBND, ngày 4/8/2005

Trang 3

Để có cơ sở đầu tư lâu dài nhằm bảo tồn rừng, đa dạng sinh học và phòng hộ đầu nguồn của Bắc Hướng Hóa, Bộ NN&PTNT đã yêu cầu tỉnh Quảng Trị phải xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật (Dự án đầu tư) thành lập khu rừng đặc dụng để trình

Bộ NN&PTNT thẩm định

Thực hiện công văn trên của Bộ NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm tỉnh được UBND tỉnh Quảng Trị là cơ quan chức năng thực hiện công tác bảo tồn thiên nhiên của tỉnh Quảng Trị Với sự hỗ trợ của Tổ chức BirdLife Quốc tế Chương trình Việt Nam về tài chính và chuyên gia quy hoạch bảo tồn Nhóm xây dựng dự án đầu tư thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc hóa đã triển khai thực địa để thu thập: số liệu

đa dạng sinh học; đánh giá tình trạng rừng; xác định phương án quy hoạch ranh giới ngoài thực địa; thu thập số liệu kinh tế xã hội ở 5 xã vùng đệm của huyện Hướng Hóa

để xây dựng dự án đầu tư thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, giai đoạn 2006-2010

Trang 4

Chương 1 TÊN CÔNG TRÌNH, MỤC ĐÍCH VÀ CƠ SỞ XÂY DỰNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1.1 Tên công trình

Dự án xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị

1.2 Mục đích, nội dung của dự án

Mục đích

Xây dựng một khu bảo tồn thiên nhiên mới cho tỉnh Quảng Trị nhằm bảo vệ đa dạng sinh học tiêu biểu của vùng và duy trì và phát triển chức năng phòng hộ quan trọng của rừng Bắc Hướng Hóa đối với phát triển kinh tế của địa phương và của vùng

 Xác định các mục tiêu của khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa

 Xây dựng các chương trình hoạt động để định hình khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa

 Khái toán vốn đầu tư cho các chương trình hoạt động của khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa

 Hiệu quả đầu tư mong đợi từ các chương trình đầu tư

Công văn số 1736/BNN-LN, ngày 13/7/2005, của Bộ NN&PTNT về việc thành lập hai khu rừng đặc dụng của tỉnh Quảng Trị

Trang 5

Căn cứ Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg, ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất

Căn cứ Quyết định số 62/2005/QĐ-BNN, ngày 12/10/2005 về việc ban hành Bản quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng

Căn cứ vào Thông tư số 43/2002/TT-BTC ngày 07/5/2002 hướng dẫn việc quản lý, cấp phát vốn ngân sách nhà nước cho Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng

Tài liệu hướng dẫn của Bộ Lâm Nghiệp tháng 6 năm 1991 về nội dung, phương pháp xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật rừng đặc dụng

1.3.2 Cơ sở khoa học và môi trường

Kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học tại Bắc Hướng Hóa các năm 2004 và

2005 của Tổ chức BirdLife Quốc tế Chương trình Việt Nam phối hợp với Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị đã đánh giá rằng rừng và tài nguyên rừng của Bắc Hướng Hóa

có tính đa dạng sinh học cao; diện tích rừng tự nhiên trong phạm vi khu bảo tồn đề xuất chiếm 83,5% tổng diện tích dự kiến; khu vực hiện có quần thể của nhiều loài

quý hiếm có liên quan đến bảo tồn như: Saola (Pseudoryx nghetinhesis), Bò tót (Bos gaurus), Voọc Hà tĩnh (Semnopithecus laotum hatinhensis) Voọc vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) và thỏ vằn

Rừng Bắc Hướng Hóa là một phần của khu vực chim đặc hữu của Vùng đất thấp Miền Trung Việt Nam, là điểm nóng về đa dạng sinh học, tại đây đã phát hiện nhiều loài chim đặc hữu và quý hiếm như Gà lôi lam mào trắng, Gà so trung bộ, Trĩ sao, Hồng hoàng, Niệc nâu và nhiều loài chim có vùng phân bố hạn hẹp

Rừng của Bắc Hướng Hóa đã và đang đóng vai trò phòng hộ đầu nguồn quan trọng của ba con sông lớn của tỉnh Quảng Trị là sông Bến Hải, sông Cam Lộ (sông Hiếu) và sông Rào Quán (sông Quảng Trị) và là một chi lưu phòng hộ của sông Mê Kông (Xê Păng Hiêng) Đặc biệt quan trọng là phòng hộ đầu nguồn, điều tiết cung cấp nước cho công trình thủy lợi, thủy điện Rào Quán chuẩn bị hoàn thành

Rừng và thảm thực vật Bắc Hướng Hóa còn có giá trị kinh tế to lớn đối với cộng đồng địa phương đang sống trong và xung quanh ranh giới khu bảo tồn như cung cấp cây thực phẩm, các sản phẩm phi gỗ bao gồm cả cây làm thuốc, gỗ củi v.v

Trang 6

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, SINH HỌC VÀ KINH TẾ XÃ HỘI

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2.1.1 Địa lí sinh học

Khu vực đề xuất khu bảo tồn thuộc vùng núi thấp miền Trung Việt Nam nằm ở phía đông bắc của bán đảo Đông Dương Vùng này cũng đã được một số tác giả đề cập với các tên gọi khác nhau như: đơn vị 18 (King và cộng sự, 1975); đơn vị 05b (MacKinnon and MacKinnon, 1986); đơn vị 05c (MacKinnon, 1989) Một số tác giả khác gọi vùng này là Rừng Mưa Đông Dương hay đơn vị 4.5.1 (Udvardy, 1975)

Trong xuất bản gần đây "Các vùng chim đặc hữu thế giới", một số khu vực thuộc miền Trung Việt Nam, đặc biệt là thuộc các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế được xếp trong vùng đất thấp Trung Bộ (đơn vị 143) Vùng này bao gồm vùng đất thấp, vùng đồi chuyển tiếp bắc Trung Bộ và một phần phụ cận thuộc Trung Lào (Stattersfield và công sự, 1998)

Từ các quan điểm về địa sinh vật, khu vực đề xuất nằm gần ranh giới phía đông giữa Đông á và cổ Bắc cực nhưng chính thức nó thuộc vùng Đông Á Theo Lekagul và Round, 1991, xác định chi tiết vị trí của khu nghiên cứu theo trật tự dưới đây:

2.1.3 Địa chất

Khu vực nghiên cứu nằm trên hệ địa máng-uốn nếp Caledon Việt Lào ở Bắc Trung Bộ, giới hạn bởi đứt gãy sâu Sông Mã ở phía bắc và đứt gãy sâu Tam Kỳ-Hiệp Đức ở phía nam Các phức hệ địa máng phát triển từ kỷ Cambri (có thể từ Sini) cho đến cuối Silur hoặc đầu Đevon Trên chúng đã hình thành các lớp phủ nền trẻ

Trang 7

Epicaledon Paleozoi giữa-muộn, cũng như các võng chồng hoạt hoá-tạo núi trong

Mesozoi-Kainozoi Hầu hết các núi trung bình được cấu tạo bởi đá Granit phân bố

khá phổ biến trong vùng Các núi thấp được cấu tạo bởi đá trầm tích lục nguyên tuổi Ocdovic-Silur gồm có cát kết Mica, cát kết phân phiến, bột kết và sét kết phân phiến

bị biến chất yếu ở dạng Xirixit Ngoài đá Granit nêu trên là các đá biến chất yếu tuổi Cambri-Ordovic hạ bao gồm phiến thạch kết tinh, phiến thạch Xirixit, Pyrit, cát kết bị quarzit hoá (Theo bản đồ địa chất Việt Nam)

2.1.4 Đất

Trong phạm vi khu vực nghiên cứu có các loại đất sau:

 Đất Feralit đỏ vàng vùng đồi và núi thấp phát triển trên đá trầm tích và biến chất

 Đất Feralit vàng nhạt núi thấp phát triển trên đá hỗn hợp

 Đất Feralit vàng đỏ núi trung bình phát triển trên đá phún xuất tính chua

 Đất Feralit mùn vàng đỏ núi trung bình phát triển trên đá phún xuất tính chua

 Đất phù sa sông suối

2.1.5 Khí hậu

Khu vực bảo tồn nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 5(Biểu đồ khí hậu Việt Nam) Ba tháng có lượng mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 và 10 So với khí hậu Quảng Trị, vùng này mùa khô đến sớm hơn và mùa mưa cũng đến sớm hơn

Chế độ nhiệt

Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng từ 24oC-25oC tương đương với tổng nhiệt năm khoảng 8300-8500oC Mùa đông tương đối lạnh và rất ẩm ướt do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, nhiệt độ trung bình trong các tháng này ở vùng đồng bằng xuống dưới 22oC, còn trên các vùng có độ cao từ 400-500 m trở lên thường xuống dưới

20oC và nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất xuống dưới 15oC ở Khe Sanh vào tháng

12 và tháng 1 Ngược lại mùa hè do có sự hoạt động của gió Tây nên rất nóng và khô

Có tới 3-4 tháng (từ tháng 1 đến tháng 5) nhiệt độ không khí trung bình lớn hơn 25oC, tháng nóng nhất thường là tháng 4 hoặc tháng 5 nhiệt độ trung bình lên tới 29oC Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 39-40oC Độ ẩm trong các tháng này cũng xuống rất thấp, dưới 30%

Chế độ mưa ẩm

Vùng nghiên cứu có lượng mưa rất lớn, lượng mưa trung bình năm đạt tới 2400-2800mm hoặc lớn hơn và tập trung chủ yêú trong mùa mưa, hai tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9 và 11, chiếm tới 45% tổng lượng mưa toàn năm Mưa ít bắt

Trang 8

đầu từ tháng 5, kết thúc vào tháng 11, tuy vậy lượng mưa trung bình của tháng 5 ở Khe Sanh cũng đạt tới 157,4 mm

Độ ẩm không khí trong vùng đạt tới 85-90%, trong mùa mưa độ ẩm lên tới 91% Mặc dù vậy những giá trị cực đoan thấp vẫn đo được trong thời kỳ khô nóng kéo dài

Trong bảng là số liệu khí hậu cơ bản thu được từ 3 trạm khí tượng trong vùng, trong đó trạm Khe Sanh và Tuyên Hóa là những trạm nằm ở vùng giáp gianh và có điều kiện tự nhiên gần với khu bảo tồn

Bảng 1: Số liệu khí tượng một số trạm có liên quan đến vùng dự án

Tổng lượng mưa TB/năm (mm) 2262,0 2563,8 2266,5

Lượng mưa TB tháng lớn nhất (mm) 469,6 (IX) 620,5 (X) 582,0

Số giờ nắng trung bình trong năm - 1885,7 -

Nhiệt độ KK cao nhất tuyệt đối 38,2 42 -

Nhiệt độ KK thấp nhất tuyệt đối 7,7 (XII) 9,8 (I) -

Một số hiện tượng thời tiết đặc biệt

Gió Tây khô nóng: Đây là vùng chịu nhiều ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, hoạt động của gió Tây thường gây nên hạn hán trong thời kỳ đầu và giữa mùa hè (từ tháng 2-4) Trong những tháng này nhiệt độ tối cao có thể vượt quá 39oC và độ ẩm tối thấp xuống dưới 30%

Sạt lở đất: Đây là vùng có lượng mưa lớn hàng năm, do địa hình dốc, các công trình giao thông đang mở rộng và nâng cấp thường xảy ra sạt lỡ đất, đôi khi lũ quét cục bộ trong những tháng mùa mưa Nhìn chung đây là một trong những vùng khí hậu ít thuận lợi ở nước ta

2.1.6 Thuỷ văn

Do có địa hình có độ dốc lớn nên sông suối xuất phát từ đây thường ngắn, dốc đổ

ra biển theo hướng đông hoặc đông bắc Trong vùng nghiên cứu có các hệ thống sông chính sau:

 Phía đông bắc là sông Bến Hải, tất cả các con suối bắt nguồn từ sườn đông đều chảy vào sông Bến Hải và đổ ra biển đông ở Cửa Tùng

 Phía tây bắc và nam của khu bảo tồn là thượng nguồn sông Xê Păng Hiêng chảy qua Lào vào sông Mê Kông

 Phía đông nam, bao gồm bắc Động Sa Mùi và đông Động Voi Mẹp là thượng nguồn của sông Cam Lộ (gọi là nguồn Rào) và đổ ra biển Đông tại Cửa Việt

 Phía nam là hệ thống suối của sông Rào Quán, là một chi lưu của sông Quảng Trị (Thạch Hãn) Nơi đây có công trị thủy điện Rào Quán đang xây dựng

Trang 9

2.2 Thảm và khu hệ thực vật

2.2.1 Thảm thực vật rừng

Toàn bộ khu vực được bao phủ bởi các kiểu rừng kín thường xanh Ở độ cao dưới 600 m là rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và từ 600m trở lên là kiểu rừng kín thường xanh á nhiệt đới Nhưng trải qua quá trình tác động lâu dài của con người như đốt nương làm rẫy, khai thác lâm sản và ảnh hưởng của chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh hoá học đã làm thay đổi nhiều diện mạo của rừng thường xanh ở

khu vực Bắc Hướng Hóa

Bảng 2: Diện tích các loại đất đai khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa

Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới (phân bố dưới 600m)

Kiểu phụ rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đất

Kiểu phụ rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đất chiếm phần lớn diện tích khu vực nghiên cứu, hầu như không bị tác động (kể từ năm 1975 trở lại đây), thành phần thực vật có tính đa dạng cao; Trong tổ thành có sự tham gia của rất nhiều họ thực vật nhiệt đới ẩm, cây lá rộng xanh quanh năm, cây to, tán lớn, tròn Những họ thường gặp là: Họ Xoan (Meliaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Trám (Burceraceae), họ Côm (Eleocarpaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Thị (Ebenaceae), họ

Na (Annonaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Dung (Simplocaceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Mùng quân (Flacoutiaceae), họ Nhân sâm (Araliaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Dâu tằm (Moraceae) Nhóm dây leo gỗ thường to và dài, có thể dài đến 20-30m, đường kính có thể đạt tới 10cm Thường gặp

Trang 10

các loài thuộc các họ: họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Na (Annonaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Nho (Vitaceae), họ Thiên lý (Aslepiadaceae), họ Cau dừa (Arecaceae) Cây gỗ nhỏ, cây bụi dưới tán thường gặp các loài trong họ Cà phê (Rubiaceae), họ Ôrô (Acanthaceae), họ Mua (Melastomataceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Cau dừa (Arecaceae), Dương xỉ mộc (Cyatheaceae) Trong tầng cỏ quyết: phổ biến gặp là các loài Dương xỉ (Polypodyophyta), nhiều loài thuộc họ Môn ráy (Araceae), họ Gai (Urticaceae), họ Dứa gai (Pandanaceae), họ Đao dong (Maranthaceae), họ Riềng (Zingiberaceae), họ Thài lài (Commelinaceae), họ Đơn nem (Myrsinaceae) Ở những khoảng trống nhiều ánh sáng có thể có sự có mặt nhiều loài của chi Hedyotis họ Cà phê (Rubiaceae), nhiều loài cỏ thuộc họ Hòa thảo (Poaceae), một số loài thuộc họ Cúc (Asteraceae) Trên các khe, vách nơi ẩm gặp một

số loài họ Thu hải đường (Begoniaceae)

Đặc trưng về tầng tán: thể hiện rõ sự phân tầng; rừng này thường thấy có 5 tầng Tầng 1 (Tầng vượt tán/tầng nhô) Trên khu vực núi đất trong tầng vượt tán có chiều cao 20-25m đôi chỗ có thể có cây cao trên 25m Các loài thường gặp trong tầng này là các cây gỗ cao to, đường kính dao động từ 40 – 80cm đôi chỗ có thể có cây đạt tới đường kính 1-1,2m Tuy nhiên độ phủ của tầng này không cao chỉ ở mức 15-20%, nghĩa là số cây gỗ cao to vượt tán không nhiều, các loài thường gặp trong tầng

này là loài Cà ná mũi nhọn (Canarium subulatum) và Trám trắng (Canarium album)

thuộc họ Trám (Burceraceae)

Tầng 2 (Tầng ưu thế sinh thái) Thường cây gỗ có chiều cao tương đối đồng đều 10-15m, tán tròn tạo ra một màn có độ che phủ cao đạt tới 50-60% Cây gỗ có đường kính trung bình 30-40cm; Tầng này là sự đan xen, có tính đa dạng cao của các họ thực vật nhiệt đới ẩm, lá rộng thường xanh Xét về số cá thể của các họ khó có thể khẳng định độ ưu thế thuộc về họ nào; có thể ở nơi này ưu thế thuộc về họ Dẻ (Fagaceae) thì ở nơi khác vị trí khác lại thuộc họ De (Lauraceae) và có thể ở vị trí khác ưu thế lại thuộc về các họ khác: họ Đậu (Fabaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ

Bồ hòn (Sapindaceae) Tầng này chứa đựng tính đa dạng thực vật cao và có ý nghĩa lớn về mặt sinh thái và giá trị môi trường

Tầng 3 (Tầng dưới tán/tầng cây bụi và gỗ nhỏ) Có chiều cao 7-10m Thường gặp các cây tái sinh của hai tầng trên và những loài cây gỗ nhỏ thuộc họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Côm (Eleocarpaceae), họ Dẻ (Fagaceae),

họ Mùng quân (Flacourtiaceae), họ Na (Annonaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Cam quýt (Rutaceae), họ Thị (Ebenaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Dung (Simplocaceae),

họ Máu chó (Myristicaceae) Những nơi ẩm thung lũng có Dương xỉ gỗ, chi Cyatheca, nhiều loài Ficus chi Sung vả (Ficus) họ Dâu tằm (Moraceae); một số loài chi Sarauja, họ Dương đào (Actinidiaceae), một hai loài Sổ chi Sổ (Dillenia) họ Sổ (Dilleniaceae) và cũng những khu vực ven suối thung lũng có sự tham gia của Nứa dại họ Poaceae

Tầng 4 (Tầng cây bụi): có chiều cao 3-5m thường là các cây bụi chịu rợp sống dưới tán Phổ biến hơn cả là các loài họ Mua (Melastomataceae), họ Ôrô (Acanthaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Cau dừa (Arecaceae) với những cây tái sinh của tầng 1,2,3 do bị che rợp sống còi cọc

Tầng 5 (Tầng thảm tươi/tầng cỏ quyết) Nhìn chung các khu vực được khảo sát,

có lẽ do tính ổn định cao; rừng ít bị tác động, tàn che của các tầng 1,2,3 và 4 ổn định

Trang 11

nên tầng cỏ quyết phát triển yếu, thưa thớt, chỉ ở những khu vực ven suối thung lũng thấp, nơi có ánh sáng, tầng này mới thể hiện rõ, ưu thế của tầng này thuộc về các loài Dương xỉ (Polypodyophyta), nhiều loài thuộc họ Môn ráy (Araceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ Đao dong (Maranthaceae), họ Gai (Urticaceae), họ Thài lài (Commelinaceae), họ Hòa thảo (Poaceae)

Kiểu phụ thảm thực vật rừng kín cây lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi

Do đặc trưng về lập địa: thường các dãy núi đá vôi có thành rất dốc, có chỗ vách

đá dựng đứng, chóp nhọn, tầng đất mặt rất mỏng hay không có, phần chân thoải Rừng trên núi đá vôi có độ che phủ thấp, không tạo được một màn khép tán liên tục như kiểu rừng trên núi đất Về mặt cấu trúc tầng tán: Vẫn thể hiện 5 tầng; Nhưng điều khác biệt cơ bản của kiểu phụ thảm thực vật trên núi đá vôi so với kiểu phụ trên núi đất là thành phần hệ thực vật Ưu thế trong các tầng của kiểu thảm này là những loài chịu khô, phát triển trên nền đá vôi với những loài đặc trưng không gặp trên vùng núi đất Với những họ thường gặp có số cá thể khá phong phú là các loài trong chi Lòng mang (Pterospermum) họ Trôm (Sterculliaceae); Nhiều loài thuộc chi Trâm (Syzygium) họ Sim (Myrtaceae), nhiều loài thuộc chi Thị rừng (Diospyros) họ Thị (Ebenaceae); chi Bứa (Garcinia) họ Măng cụt (Guttiferae) Nhiều loài thuộc chi Cóc rừng (Spondias), Dâu gia xoan chi Allospondias; Xuyên cóc chi Choerospondias, Sưng đào chi Semecarpus; họ Đào lộn hột (Anacardiaceae) Nhiều loài Bình linh chi Bình linh (Vitex) họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) Một số loài thuộc họ Gai (Ulmaceae) Chi Sếu (Celtis); Nhiều loài họ Đay (Tiliaceae) Đặc biệt phải kể đến cây

Phay rất thường gặp ở các thung lũng ven suối núi đá vôi (Duabanga sonneratoides)

họ Bần (Sonneratiaceae) và một số loài thuộc chi Đùng đình (Caryota) họ Cau dừa

(Arecaceae) Nhiều loài thuộc chi Lụi (Rhapis), loài Đùng đình (Caryota bacsonensis) cây to đường kính tới 50cm, cao 10-15m rất đặc trưng cho vùng núi đá

vôi Đặc biệt ở kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi thảm thực vật bò leo trên đá rất nhiều loài thuộc họ Môn ráy (Araceae) và họ Hồ tiêu (Piperaceae); cũng trong tầng thảm tươi là sự có mặt rất đặc trưng của các loài Lá

han: Han trâu (Dendrocnide urentissima), Han tím (Laportea interrupta), Han bò (Laportea thorelli) khi cọ sát vào da rất ngứa; và nhiều loài khác thuộc họ Gai

(Urticaceae) Trên những thành vách đá có rất nhiều loài chi Đa sung (Ficus) nhóm cây có nhựa mủ chịu khô hạn; Những nơi ẩm thường gặp một số loài chi Ngũ gia bì (Schefflera) họ Nhân sâm (Araliaceae) chịu khô hạn tốt, rễ nổi bám vào các khối hay thành vách đá phát triển mạnh

Rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp (phân bố từ độ cao 600m trở lên)

Khu vực Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, kiểu thảm thực vật thường xanh á nhiệt đới núi thấp phân bố từ độ cao 600m trở lên chỉ gặp trên núi đất (khu vực núi đá vôi ít, không có các đỉnh cao) Kiểu thảm này có diện tích khá, phần lớn giữ được tính tự nhiên ít bị tác động Về cấu trúc tầng không đồng nhất ở các khu vực: vùng thung lũng, nơi bằng có dạng điển hình 5 tầng gần giống với kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đất, cũng thể hiện rõ 5 tầng (Tầng 1:Tầng vượt tán; Tầng 2: Tầng ưu thế sinh thái; Tầng 3: Tầng cây gỗ nhỏ và cây bụi; Tầng 4: tầng dưới tán – Tầng cây bụi; Tầng 5: Tầng cỏ quyết – Thảm tươi) Nhưng ở những triền núi dốc hay ở các đỉnh dông, đỉnh núi, do bị bào mòn tầng đất mặt mỏng (có nhiều đá lộ

Trang 12

đầu), yếu tố ánh sáng mạnh cộng với tác động của gió đã ảnh hưởng mạnh tới hệ thực vật: Không có cây to cao, nên ít thấy cây vượt tán, như thế rừng chỉ thấy rõ 4 tầng Các đỉnh cao, các chóp núi thường có gió liên tục, cường độ, mật độ ánh sáng phân

bố đều, cộng với tầng đất mặt rất mỏng chỉ thích hợp cho một số loài ưa lạnh, chịu gió, phát triển được trên tầng đất nghèo dinh dưỡng, nên thành phần thực vật nghèo nàn; Tầng tán đơn giản, chỉ thấy rõ 3 tầng

Tầng đất mặt rất mỏng, gió thường xuyên, lại có mù luôn xuất hiện nên chỉ thấy

rải rác có cây bụi và ưu thế là những loài họ Hòa thảo (Poaceae), Chè vè (Miscanthus floridulus), Chít (Thysanoloena maxima) hay Trúc gai (Sinarundinaria griffithiana)

phát triển mạnh

Những khác biệt lớn phân biệt kiểu thảm này với kiểu thảm thực vật thường xanh mưa mùa nhiệt đới là sự có mặt của các loài khỏa tử Thường tới độ cao 600m thấy xuất hiện một số loài khỏa tử Rất phổ biến trong khu vực này là loài Thông tre

lá dài (Podocarpus neriifolius), Thông nàng – Thông lông gà (Dacrycarpus imbricatus), Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri) Trong kiểu thảm này ưu thế

tuyệt đối về các loài Dẻ thuộc họ Dẻ (Fagaceae) ở một số vị trí Dẻ ưu thế chiếm đến

50 - 60% cá thể trong quần xã Trong kiểu thảm này còn có sự có mặt của một số loài thuộc họ Thích (Aceraceae), một số loài Chẹo thuộc chi Chẹo (Engelhardtia) họ Óc

chó (Juglandaceae); Loài Chắp tay (Symingtonia populnea) thuộc họ Sau sau

(Hamamelidaceae) Nhiều loài thuộc chi Eurya, Adinandra, Camellia, Godonia, Vối

thuốc – Chò sót (Schima wallichii) thuộc họ Chè (Theaceae); Dưới tán rừng cũng chỉ

ở đai này mới gặp loài Trúc gai (Sinarundinaria griffithiana) có cá thể nhiều, những

nơi sáng chiếm ưu thế tuyệt đối Cũng trong kiểu thảm này gặp nhiều loài gỗ có giá

trị: Giổi lá nhẵn (Michelia faveolata), Giổi găng (Paramichella baillonii) họ Mộc lan (Magnoliaceae), Sến (Madhuca pasquieri) họ Hồng xiêm (Sapotaceae) Tại khu vực

đèo Sa mù dưới tán kiểu thảm này ở độ cao 1200m có gặp loài Lan hài

(Paphiopedilum amabile) có số lượng cá thể khá, là loài quí hiếm

2.2.1.2 Thảm thực vật thứ sinh

Nhìn chung cả đai thấp dưới 600m và đai cao 600m trở lên có thể nơi nhiều, nơi

ít nhưng không tránh khỏi sự tác động của con người, sự tác động mạnh mẽ nhất là canh tác nương rẫy, thể hiện rõ ở đai thấp dưới 600m, tiếp đến là khai thác gỗ và lâm sản khác Ở đai cao từ 600m trở lên ít bị tác động bởi canh tác nương rẫy Một số nơi thảm thực vật nguyên sinh bị hủy diệt do chất độc hóa học (trước năm 1975) và một

số nơi khác là những căn cứ quân sự (Nơi đóng quân, hầm hào, lô cốt) Đó là nguyên dân dẫn đến thảm thực vật nguyên sinh bị mất đi Cây gỗ, cây bụi, cây thảo tái sinh phát triển trở lại tạo nên các thảm thực vật thứ sinh Tùy thuộc vào mức độ tác động nhiều hay ít, diễn ra một hay nhiều lần, thời gian phục hồi của thảm thực vật thứ sinh diễn ra dài hay ngắn mà thảm thực vật thứ sinh có những nét đặc trưng khác nhau về ngoại mạo, về cấu trúc, về thành phần hệ thực vật, cũng như tính đa dạng thực vật Đương nhiên các thảm thực vật thứ sinh không thể có tính đa dạng sinh học cao so với thảm thực vật nguyên sinh

Rừng thứ sinh sau canh tác nương rẫy

Phần lớn phân bố từ độ cao 600m trở xuống Khác với vùng núi phía Bắc và các vùng khác; Tại khu vực Bắc Hướng Hóa chỉ có dân tộc Vân Kiều số lượng không nhiều; sống ở các khu vực thấp ven suối; nương rẫy canh tác cũng không xa bản

Trang 13

Trình độ dân trí thấp, chưa biết sản xuất hàng hóa: Canh tác nương rẫy chỉ là Lúa, Ngô nhằm giải quyết nhu cầu lương thực tại chỗ nên rừng thứ sinh sau canh tác nương rẫy không nhiều, vùng thấp quanh khu vực bản làng Những khu vực sau canh tác nương rẫy, được bỏ hoang từ 8 – 10 năm, rừng thứ sinh hình thành Cấu trúc và thành phần hệ thực vật cũng như hình thái ngoại mạo khác biệt rõ rệt so với rừng nguyên sinh Thường không có tầng tán rõ rệt

Tầng 1 (Tầng ưu thế sinh thái) Tầng này với các cây gỗ ưa sáng phát triển trở lại

từ chồi hay hạt, cùng tuổi có chiều cao dao động từ 8 -10m, đường kính dao động từ

10 – 15cm Phổ biến ở tầng này là các loài Bời lời chi Bời lời (Litsea), Kháo (Machilus), Nang trứng (Lindera) họ Long não (Lauraceae), một số loài chi Ba soi

(Macaranga spp.), chi Ba bét (Mallotus spp.), chi Sòi tía (Sapium spp.), chi Bi điền (Bridelia spp.), Vạng trứng (Endospermum sinensis) thuộc họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae) Một hai loài Trám chi Canarium; Ba gạc lá xoan (Euodia melifolia), Bưởi bung (Acronychia pedunculata) họ Cam chanh (Rutaceae), Ngát lông (Gironniera subaequalis), Hu đay (Trema orientalis), Sếu (Centis sinensis) họ Sếu

(Ulmaceae) Một số loài họ Đậu (Fabaceae); họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Đào lộn hột (Anacardiaceae) Những khu vực ẩm là các loài thuộc chi Sung vả (Ficus) họ Dâu tằm (Moraceae)

Tầng 2 (Tầng gỗ nhỏ cây bụi) Có chiều cao 5 - 7m Thường gặp các loài thuộc

họ Cà phê (Rubiaceae), chi Chè (Camellia), chi Súm (Eugenia) họ Chè (Theaceae) Một số loài chi Cò ke (Grewia) họ Đay (Tilliaceae)

Tầng 3 (Tầng cây bụi dưới tán) Tầng này không dày rậm, thường gặp một số loài họ Mua (Melastomataceae) , họ Cà phê (Rubiaceae), chi Lồng đèn

(Clerodendron) họ Cỏ doi ngựa (Verbenaceae), cây Lụi (Rapis excelsa) họ Cau dừa

(Arecaceae), có nơi có số lượng cá thể nhiều

Tầng 4 (Tầng cỏ quyết) Trong tầng này của rừng thứ sinh gặp rất ít các loài dương xỉ Phổ biến hơn là các họ Gừng (Zingiberaceae); Các loài Môn ráy họ Môn ráy (Araceae) Những nơi có ánh sáng nhiều, gặp một số loài cỏ họ Hòa thảo (Poaceae), nơi ẩm có thể gặp một số loài họ Cà phê (Rubiaceae) chi Cỏ vừng (Hydeotis), một số loài thuộc họ Ôrô (Acanthaceae) chi Staurogyne và chi Strobilanthes

Nét đặc trưng của rừng thứ sinh sau nương rẫy là hệ dây leo nói chung, dây leo

gỗ nói riêng rất ít Tầng cỏ quyết đơn điệu, nghèo nàn, độ phủ tầng này rất thấp Tầng

bì sinh (Phong lan, dương xỉ sống bám) hầu như không có; có lẽ do độ ẩm thấp và chưa đủ thời gian cho những loài bì sinh, dương xỉ hay Phong lan phát triển trở lại

Trảng cây bụi, cỏ cao

Kiểu thảm này có diện tích đáng kể trong khu vực Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Phân bố ở đai thấp dưới 600m và trên 600m Thảm này cần có những nghiên cứu sâu nguyên nhân hình thành kiểu thảm này, đặc biệt là những diện tích bị rải chất diệt

cỏ (trước 1975) Qua khảo sát tại một số khu vực chúng tôi thấy có 4 nguyên nhân:

Trang 14

Bốn nguyên nhân trên đã làm mất đi thảm thực vật nguyên sinh: Ở đai thấp (dưới 600m) là rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới, đai cao (từ 600m trở lên) là rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp; Diễn thế rừng thứ sinh diễn ra khi đất nương rẫy được bỏ hoang, đất sau cháy rừng và những diện tích rừng bị hủy diệt do chất độc hóa học của Mỹ rải xuống (trước 1975)

Nguyên nhân làm mất thảm thực vật nguyên sinh là khác nhau nhưng thảm thực vật thứ sinh: Trảng cây bụi, cỏ cao có những đặc trưng hình thái và cấu trúc ngoại mạo giống nhau ở cả đai cao và đai thấp

Đặc trưng của kiểu thảm thứ sinh trảng cỏ, cây bụi cao là các loài cỏ cao thuộc

họ Hòa thảo (Poaceae): Chè vè (Misclanthus floridulus), Chít (Thysanolaena maxima), Lách (Saccharum spontaneum), Cỏ tranh (Imperata cylindrica), Cỏ Lau (Imperata conferta) Cấu trúc đơn điệu, những loài cỏ cao có chiều cao từ 1 – 2m, độ

phủ đạt 70 – 80%, rất ít những khoảng trống, rải rác có những cụm cây bụi, cây gỗ nhỏ, những loài ưa sáng cao 5 – 8m.Thành phần cây bụi có sự khác biệt ít nhiều phụ thuộc vào nguyên nhân làm mất rừng nguyên sinh và kiểu thảm nguyên sinh vốn có tại đó

Ở những khu vực thấp (dưới 600m) đất sau nương rẫy bỏ hoang, trảng cây bụi

cỏ cao là trạng thái bắt đầu của diễn thế thứ sinh Cây bụi cỏ cao phát triển nhanh, ưu

thế là những cây ưa sáng phát triển nhanh: Hu đay (Trema orientalis; Trema cannabina), Ba soi (Macaranga spp.), Ba bét (Mallotus spp.) Một số loài Bời lời chi Bời lời (Litsea), Vối thuốc (Schima wallichii), Ba gạc lá xoan (Euodia melifolia), Bưởi bung (Acronychia paniculata), Trám (Canarium spp.), Vạng trứng (Endospermum sinensis), một số loài họ Dẻ (Fagaceae) và do đất ẩm xốp Chè vè (Misclanthus floridulus), Chít (Thysanolaena maxima), Cỏ Lau (Imperata conferta)

phát triển mạnh tạo nên các bụi, cụm lớn độ phủ cao Có nơi độ phủ cao đạt tới 70 – 80%

Những diện tích rừng nguyên sinh bị rải chất độc hóa học trước đây và sau đó cháy đi cháy lại nhiều lần: ưu thế tuyệt đối thuộc những loài cỏ cao họ Hòa thảo

(Poaceae) Chè vè (Misclanthus floridulus), Chít (Thysanolaena maxima), Cỏ tranh (Imperata cylindrica), Lau (Imperata conferta) phát triển kém hơn, cằn cỗi, cao 1 -

1,5m, rải rác có cây bụi gỗ nhỏ; Thường là những loài chịu khô, chịu cháy, sống trên đất thoái hóa nghèo mùn.Phổ phiến là các loài họ dẻ (Fagaceae), Họ Óc chó (Juglandaceae), Họ chè (Theaceae), Họ Nhựa ruồi (Aquifoliaceae), một số loài họ Long não (Lauraceae), họ Côm (Eleocarpaceae)

Trảng thứ sinh tre nứa (Trúc sặt) phân bố ở độ cao 600m trở lên

Ở độ cao 700 – 1200m có một diện tích khá nhiều Trảng thứ sinh Trúc sặt

(Arundiunria peteloti) Cây cao từ 3 - 5m có mật độ khá dầy, mọc tản (không hình

thành bụi cụm) ưu thế tuyệt đối 60 – 70% độ phủ Rải rác có cây gỗ thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Chè (Theaceae), họ Bồ đề (Styraceae), họ Nhựa ruồi (Aquifoliaceae),

họ Côm (Eleocarpaceae), một hai loài họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Thích (Aeraceae) Tuy nhiên cây gỗ trong kiểu trảng này thưa thớt Kiểu trảng thứ sinh này rất đặc trưng , thường phân bố ở độ cao từ 800 – 1500m gặp ở Ba Vì, Tam Đảo, Phan

Xi Phăng Có lẽ do một tác động nào đó (cháy rừng, chất độc hóa học) làm cho thảm thực vật rừng ẩm thường xanh á nhiệt đới núi thấp bị mất đi Loài Trúc sặt

(Arundinaria petelotii) – một loài thuộc họ Hòa thảo (Poaceae) ưa sáng thân ngầm

lan nhanh, phát triển mạnh, ưu thế tuyệt đối nhờ sức cạnh tranh đã chiếm lĩnh nhanh

Trang 15

chóng diện tích rừng nguyên sinh á nhiệt đới núi thấp bị mất Cây gỗ, cây bụi, tái sinh phát triển chậm, sức cạnh tranh kém cũng bị loại, tạo nên kiểu trảng thứ sinh Trúc sặt gần như thuần loài, dầy đặc, độc đáo ổn định

Trảng cỏ cây bụi thấp

Trên những vùng đất bằng chân núi, gần khu vực bản làng, những diện tích canh tác nương rẫy diễn ra nhiều năm, đất bạc màu, tầng đất mỏng do bị xói mòn Đây cũng là nơi chăn thả, kiếm ăn của gia súc, sự giẫm đạp, tác động thường ngày của gia súc đã hạn chế sinh trưởng của cây Nên tại những khu vực này chỉ còn những loài cây bụi cỏ thấp phát triển được trên nền đất thoái hóa nghèo dinh dưỡng Tùy theo mức độ thoái hóa của tầng đất mặt và mức độ tác động ít nhiều của gia súc mà thành phần cây bụi, cây thảo là loài này hay loài khác và ưu thế thuộc về cây bụi hay cây thảo

Những khu vực đất chưa bị thoái hóa nặng thành phần cây bụi phong phú: thường gặp các loài cây bụi họ Cà phê(Rubiaceae), họ Ôrô(Acanthaceae), họ Cúc (Asteraceae) , họ Cỏ doi ngựa (Verbenaceae) và nhiều loài mua chi Melastoma, họ Mua (Melastomataceae) Một số loài cỏ cao thường gặp trong kiểu thảm này thuộc

chi Cỏ đắng (Paspalum), cỏ Tranh (Imperata cylindrica), cỏ Sả (Cymbopogon spp.),

cỏ Bông (Eragrostis spp.), cỏ Rác (Isachne spp.), cỏ Sâu róm (Sertaria spp.) cao tới

một vài loài họ Hoa mõm chó (Scrophuliaceae) chi Lindernia, thường gặp loài Cam

thảo nam (Seoparia dulcis)

Những khu vực đất chua, cây bụi ưu thế là các loài mua (Melastoma spp.) và cỏ

thấp Đơn điệu về cấu trúc, nghèo nàn về thành phần Một vài loài cỏ thấp thuộc chi

cỏ đắng (Paspalum spp.) hay thuần loại cỏ May (Chrysopogon aciculatus), cỏ gà (Cynodon dactylon), cỏ Chỉ (Digitaria spp.).

2.2.2 khu hệ thực vật

Điều tra ban đầu đã ghi nhận được 920 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc

518 chi và 130 họ (tham khảo Bảng 3 và phụ lục) Trong đó có 17 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam và 23 loài được ghi trong sách đỏ Thế Giới (IUCN 1994)

Về kinh tế trong tổng số những loài thống kê được có 125 loài cây cung cấp gỗ, 161 loài cây làm thuốc, 44 loài cây làm cảnh và 89 loài cây làm thực phẩm (ăn được)

Bảng 3: Thành phần thực vật khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa

Trang 16

- Lớp Hành (Liliopsida) 21 90 129

Đa dạng của một số họ thực vật tại Bắc Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị

Kết quả ở Bảng 4 cho thấy: có 13 họ có tính đa dạng cao về số lượng chi và loài Xét về số lượng chi có 12 họ có số chi từ 7 – 20 chi Họ Cà phê (Rubiaceae), họ Hoà thảo (Poaceae), họ Lan (Orchidaceae) có số lượng chi cao nhất từ 16 – 20 chi Họ Long não (Lauraceae) và họ Cam chanh (Rutaceae) có số lượng lớn hơn 10 chi (14 và 11) Còn 7 họ khác: họ Mua (Melastomataceae); Dâu tằm (Moraceae); Bồ hòn (Sapindaceae); Chè (Theaceae); Gai (Urticaceae); Cỏ doi ngựa (Verbenaceae) và Cau dừa (Arecaceae) có số chi dao động từ 7 đến 9 chi

Bảng 4 Thống kê những họ có tính đa dạng cao bậc chi và loài ở Bắc Hướng Hoá tỉnh Quảng Trị

Tên khoa học Tên Việt nam

Về số lượng loài: có 5 họ có số lượng trên 20 loài: Long não (Lauraceae) 24 loài; Dâu tằm (Moraceae) 24 loài; Cà phê (Rubiaceae) 24 loài; Lan (Orchidaceae) 26 loài; Hoà thảo (Poaceae) 23 loài; Các họ : Mua (Melastomataceae), Đơn nem (Myrsinaceae), Cam chanh (Rutaceae), Gai (Urticaceae), Cỏ doi ngựa (Verbenaceae)

có xấp xỉ 20 loài

Những số liệu trong báo cáo này mới chỉ phản ánh phần nào tính đa dạng thực vật khu vực Bắc Hướng Hoá tỉnh Quảng Trị Với diện tích lớn xấp xỉ 40.000 ha, đa dạng về địa hình, địa chất, khí hậu, hệ thực vật chưa bị tác động nhiều; chắc chắn Hệ thực vật ở khu vực này có số lượng taxon bậc chi và loài có thể cả bậc họ sẽ có số lượng cao hơn nhiều so với báo cáo này, hy vọng sẽ được tìm hiểu bổ sung trong tương lai

Trang 17

Đa dạng Hệ thực vật Bắc Hướng Hoá so với các khu vực lân cận

Tìm hiểu sâu hơn về Hệ thực vật: Bạch mã, Đakrông và Bắc Hướng Hoá đã có khác biệt nhau ít nhiều về số lượng các taxon (bậc họ; bậc chi; bậc loài) Nhưng ba khu vực này có những nét tương đồng về Hệ thực vật, có tới 90% các họ gặp ở cả 3 khu vực Sự khác biệt về mặt số lượng chính bởi sự hạn chế về mức độ nghiên cứu tại mỗi vùng Điều này cũng chỉ ra tại Đăkrông và Bắc Hướng Hoá có Hệ thực vật đa dạng không kém so với Vườn Quốc gia Bạch mã, cần có những nghiên cứu xa hơn nữa trong quá trình quản lý khu bảo tồn sau này mới có thể khẳng định

Bảng 5: So sánh tính đa dạng thực vật Bắc Hướng Hoá với các khu bảo tồn trong vùng

Ghi chú: BHH= Bắc Hướng Hóa, Đak= Đakrông, BM= Bạch Mã

Giá trị về nguồn gen quý hiếm

Bảng 6 Danh sách các loài quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới

Tình trạng SĐVN (1996)

IUCN (1994)

Trang 18

STT Tên khoa học Tên Việt nam

Tình trạng SĐVN (1996)

IUCN (1994)

28 Sindora tonkinensis A Chev ex K & S S Lars Gõ dầu V VU

Ghi chú: Tình trạng Sách đỏ Việt nam (1996): Endangered (E) - Đang bị đe doạ tuyệt chủng; Vulnerable (V) – Sắp bị đe doạ tuyệt chủng; Rare (R) – Loài hiếm; Threatened (T) -

Bị đe doạ tuyệt chủng; Insufficiently know (K) - Biết không chính xác để xếp vào các cấp đe dọa trên

Bảng 7 : Danh sách các loài thực vật quý hiếm theo các mức độ đe dọa ở KBTTN Bắc Hướng Hóa

2.3.1 khu hệ thú

Tính đa dạng của khu hệ thú

Tổng số 42 loài thú (không kể Dơi) thuộc 17 họ và 6 bộ đã được ghi nhận trong quá trình điều tra Trong đó có 26 loài đã chắc chắn ghi nhận cho khu vực và 16 loài được ghi nhận tạm thời qua thông tin phỏng vấn (Phụ lục 1) Trong đó loài Voọc

Hà tĩnh, loài phụ đặc hữu của Việt Nam lân đầu tiên phát hiện ở tỉnh Quảng Trị

Trong số 26 loài ghi nhận chắc chắn trong hai đợt điều tra, 11 loài có trong

Sách đỏ các loài bị đe dọa của IUCN 2004 (IUCN, 2004) ở các cấp bị đe dọa, gần bị

đe dọa hoặc chưa đủ thông tin để xếp vào các nhóm loài bị đe doạ Mười một trong số

này có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (Anon 2000), bao gồm 5 loài ‘Nguy cấp’: Voọc

vá chân nâu, Voọc Hà Tĩnh, Vượn đen má trắng, Gấu ngựa và Sao la; sáu loài thuộc

Trang 19

loại sắp nguy cấp là Tê tê Java, Khỉ mặt đỏ, Rái cá vuốt bé, Mang lớn Megamuntiacus vuquangensis, Bò tót và Sơn dương (Bảng 8)

Bảng 8: Các loài thú bị đe dọa ở cấp quốc gia và quốc tế ghi nhận ở Bắc Hướng Hoá

Quốc gia Thế giới

4 Voọc Hà Tĩnh Semnopithecus laotum

hatinhensis

8 Mang lớn Megamuntiacus vuquangensis V

Ghi chú: Tình trạng quốc gia: E = Nguy cấp; V = Sắp nguy cấp theo Anon (2000)

Tình trạng toàn cầu: EN = Nguy cấp; VU = Sắp nguy cấp; NT = Gần bị đe dọa; DD = Chưa đủ dữ liệu theo IUCN (2004)

Các loài quan trọng đối với công tác bảo tồn

Phần này trình bày chi tiết các ghi nhận về các loài bị đe dọa ở cấp độ quốc gia

và quốc tế theo IUCN (2004) và Anon.(2000) trong lần khảo sát 2004 và 2005 Ngoài

ra bổ sung thêm một số loài quan sát thấy qua các lần khảo sát ngắn hoặc kết quả của Nhóm giám sát đa dạng sinh học do cộng đồng tiến hành từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2004

Tê tê Java Manis javanica

Loài này được xác định dựa trên các vảy thu được tại một nhà thợ săn tại thôn

Cuồi, xã Hướng Lập Dấu hang mới đào của tê tê cũng được ghi nhận tại vùng Khe

cựp (16°55'39”N, 106°35'29”E) vào ngày 11/02/2004 Theo thông tin phỏng vấn thì loài này hiện còn có ở vùng núi giữa hai thôn Khe cựp và Cuồi, và mối đe dọa lớn nhất đối với loài này là săn bắn và buôn bán do giá của chúng lên đến 400.000 đồng một kilôgram (tại thời điểm phỏng vấn Tháng 2/2004)

Khỉ mặt đỏ Macaca arctoides

Quan sát một đàn khoảng 15 cá thể, ngày 13/02/2004 ở khu rừng gần thôn Cuồi (16°55'24”N, 106°39'15”E) vào lúc 10h15’ Phân mới được xác định là của loài này được tìm thấy ở độ cao 870 m so với mặt biển trên một đỉnh núi đá vôi không có tên (16°55'38”N, 106°35'36”E) gần thôn Khe cựp vào ngày 11/02/2004 và một điểm khác gần suối (16°53'49”N, 106°395'04”E) vào ngày 16/02/2004 Đợt khảo sát tháng 10/2005, đã quan sát 3 đàn, một đàn khoảng 30 cá thể trên đường mòn đi cột mốc 25 (Lào), một đàn cũng trên đường mòn này và một đàn nhìn thấy 3 cá thể ở thượng nguồn Khe Cựp Khỉ mặt đỏ hiện còn phổ biến ở khu vực bảo tồn Bắc Hướng Hóa

Trang 20

Voọc vá chân nâu Pygathrix nemaeus

Một đàn 5 cá thể đã quan sát thấy khi đang di chuyển trên cây ở dọc đường từ thôn Khe cựp đến thôn Thôn Cuồi (16°55'43”N, 106°35'45”E) vào lúc 09h30 ngày 11/02/2004 Thông tin bổ sung từ Nhóm giám sát cộng đồng cho thấy: Đã nhìn thấy một đàn lớn 30 cá thể, ngày 17/10/2004 tại khu vực Dốc Mang, một đàn khác 10 cá thể cũng nhìn thấy ở khu Rào Thép, ngày 14/11/2004 Đợt khảo sát tháng 10/2005, đã quan sát 3 con trong một đàn di chuyển trên đường mòn cách bên giới Việt-Lào khoảng 1km

Khu vực Thôn Cợp có ít nhất 3 đàn vượn, hai đàn ở phía tây và một đàn ở phía đông đường Hồ Chí Minh Một đàn 3 cá thể đã quan sát thấy ngày 3/11/2005 ở khu vực Khe Cợp, trong đó 1 con đực, 1 con cái và 1 con non (tọa độ: 0670237 N,

1872190 E) Thông tin bổ sung từ Nhóm giám sát cộng đồng cho thấy: Đã nhìn thấy

3 con ở Khe Suốt, ngày 16/11/2004 và 2 con khác cũng nhìn thấy vào tháng 10/2004

Voọc Hà Tĩnh Semnopethecus laotum hatinhensis

Tên địa phương gọi loài này là con Cùng (con khỉ đen, đuôi dài sống ở lèn đá) Một đàn 12 cá thể đã quan sát thấy tại sườn núi đá vôi có cây gần bản Trăng vào lúc 15h ngày 4/11/2005 Sáng ngày 5/11 lại quan sát thấy loài này trên các mỏm đá cùng

vị trí Vào giữa tháng 12 quan sát thấy một cá thể trên mỏm đá cùng vị trí trên (Trải quan sát) Dãy núi đá vôi nơi đang có đàn voọc sinh sống kéo dài từ bản Trăng về phía đông khoảng 6-7 km với nhiều đỉnh và vách đá dốc đứng nối tiếp nhau, trên sườn núi có nhiều cây gỗ và dây leo, cây bụi Phía sau bản Trăng cũ có một hang đá vòm cao, rộng trên đỉnh núi là nơi thích hợp loài voọc trú ngụ qua đêm và khi thời tiết khắc nghiệt Với điều kiện tự nhiên như vậy có thể số lượng đàn và cá thể voọc đen ở đây còn nhiều hơn nếu được điều tra kỹ Đây là loài phụ linh trưởng đặc hữu của Việt Nam Đây là lần đầu tiên ghi nhận cho tỉnh Quảng Trị, trước đây loài này chỉ được biết từ vùng núi Phong Nha-Kẻ Bàng và Kim Lũ Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình

Gấu ngựa Ursus thibetanus

Các dấu móng cào của loài này được ghi nhận trên các cây gỗ (16°55'51”N, 106°35'22”E), và dấu móng và phân mới được cho là của loài này được phát hiện ở vùng rừng nguyên sinh khu vực Khe cựp (16°55'40”N, 106°35'46”E) vào ngày 11/02/2004 Những người cung cấp thông tin còn cho biết một thợ săn thôn Khe cựp mới săn được một con Gấu ngựa (khoảng 100 kilôgram) ở ngay vùng Khe cựp vào tháng 12/2003

Rái cá vuốt bé Aonyx cinereaDấu chân của loài này được phát hiện ở bờ sông Xê

Păng Hiêng vào các ngày 15 và 16/02/2004 Số lượng dấu chân phát hiện được rất thấp cho thấy rằng có lẽ số lượng Rái cá vuốt bé trong vùng không nhiều Phân rái cá

và dấu chân quan sát thấy ở dọc suối Cha Lỳ tháng 10/2005 Một bàn chân của loài này thu được trong gia đình ở thôn Cựp trong đợt điều tra tháng 10-11/2005

Mang lớn Megamuntiacus vuquangensis

Loài này được xác định qua ba bộ gạc tìm thấy ở nhà các thợ săn ở các thôn Khe cựp, Xà Lỳ và Thôn Cuồi Những người được phỏng vấn cho rằng Mang lớn còn tương đối phổ biến ở các vùng rừng thường xanh của xã Hướng Lập Hai thợ săn bắt

Trang 21

gặp tại khu vực Khe cựp nói rằng họ mới bắn được một con Mang lớn vào năm 2003 Ông Hồ Hanh ở thôn Thôn Cuồi cũng khẳng định đã săn được một con vào cùng năm

2003

Quan sát thấy một cá thể khi chạy ngang rừng (16°55’38”N, 106°35’21”E) ở khu vực Khe cựp vào 08h27 ngày 11/2/2004 Đã quan sát thấy phân và dấu chân mới của loài này vào các ngày 15 và 16/02/2004 tại một số điểm khác nhau ở khu vực Khe Cuồi Đã quan sát thấy ba cặp sừng của loài này ở các thôn Khe Cợp và Thôn Cuồi Thông tin bổ sung từ Nhóm giám sát cộng đồng cho thấy: Đã nhìn thấy 1 con ở Rào Thép, ngày 17/10/2004 và 2 con khác nhìn thấy ở Rào Thép, ngày 15/11/2004 và

1 con khác ở ngã ba Dân Chủ cùng ngày 15/11/2004 Dấu chân và phân của loài này thấy nhiều ở khu vực Động Sa Mù trong lần điều tra vào tháng 11/2005

Bò tót Bos gaurus

Nhóm hỗ trợ bảo tồn tại bắc Hướng Hoá do Dự án MacArthur thành lập trong khi đi tuần tra vào 18/10/2004 đã nhìn thấy 1 con đực ở Khe Cuồi; 1 con khác nhìn thấy ở Dốc Mang ngày 5/11 và Khe Tà Nạp vào ngày 8/11/2004 Nhóm giám sát khẳng định trong vùng có một đàn Bò tót 3 cá thể, nhiều lúc tách ra ăn rải rác, trong các tháng cuối năm 2004 thường thấy 3 con kiếm ăn tập trung

Sao la Pseudoryx nghetinhensis

Đồng bào Vân Kiều gọi loài này là con La Ràng Loài này gần đây được ghi nhận tại xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (tiếp giáp về phía bắc của xã

Hướng Lập) bởi Lê Mạnh Hùng et al (2002) Các thợ săn ở các thôn Khe cựp và

Thôn Cuồi đều mô tả Sao la một cách chính xác và khẳng định loài này hiện vẫn còn phân bố ở khu vực Khe cựp - Thôn Cuồi Những người được hỏi còn cung cấp thông tin về một con Sao la (khoảng 70 kilôgram) đã bị ông Vương ở thôn Khe cựp bẫy vào năm 2003, và một con Sao la khác (khoảng 100 kilôgram) đã bị một thợ săn tên là Hồ

Sy bắn ở vùng rừng Thôn Cuồi vào tháng 11/2003 và sau đó sừng của cá thể này được đem cho ông Hồ Sam Khi được hỏi, ông Hồ Sam cũng khẳng định thông tin này là đúng Đã quan sát và chụp ảnh sừng của loài này tại nhà Ông Hồ Sâm ngày 15/9/2004 (Lê Trọng Trải và Vũ Văn Dũng pers obser.) Nhiều vết ăn trên cây môn thục cùng dấu chân còn mới của Saola quan sát thấy dọc khe cạn của Khe Rào Thép vào giữa tháng 12/2005 (Trải quan sát)

Thỏ vằn Nesolagus timminsi

Ngày 20/1/2005, trên đường từ Bắc Hướng Hoá ra Khe Sanh nhìn thấy 1 con Thỏ vằn chạy ngang qua đường khu vực gần đèo Sa Mù, độ cao khoảng 900 m (Tordoff pers observ.) Tháng 5/2005 nhóm khảo sát thú Viện Động vật Peterburg (Nga) thu được mẫu sọ thỏ rừng tại lán thợ săn ( toạ độ 0671516N, 1871475E) trong khu vực rừng giữa 2 thôn Cuồi-Cợp Thợ săn cho biết đã bắt được 4 con thỏ trong khoảng 20 ngày ở khu vực này (10-30/4/2005)

2.3.2 Khu hệ chim

Kết quả của hai lần khảo sát năm 2004 và 2005 đã ghi nhận 171 loài chim, thuộc 14 Bộ, và 32 Họ cho khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa (Phụ lục 2) Trong số đó có 18 loài có giá trị bảo tồn (Bảng 9), trong số đó có 9 được ghi trong

Trang 22

sách đỏ Thế Giới (BirdLife International 2004) đây là những loài bị đe dọa mang tính toàn cầu, và 12 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam (Anon 2000) Trong số 18 loài có 7 loài là những loài có vùng phân bố hẹp (vùng phân bố toàn cầu nhỏ hơn 50.000km2), trong đó có 2 loài đặc hữu cho Việt Nam (Gà lôi lam mào trắng và Gà so trung bộ)

Tính đa dạng về thành phần loài của khu hệ chim Bắc Hướng Hóa

Danh sách 171 loài chim chỉ là kết quả bước đầu cho khu hệ chim Bắc Hướng Hóa, các đợt khảo sát cho tới thời điểm này mới chỉ tập trung ở các đai cao dưới 1000m Khác với khu hệ chim ở các vùng khác, một số loài gặp với số lượng khá lớn như: Gầm ghì lưng nâu, Cu xanh mỏ quặp, Niệc nâu, Yểng, Cành cạch đen, các loài chào mào và các loài cu rốc Đây là các loài chim chủ yếu ăn quả Điều đó chứng minh rằng, chất lượng rừng hoặc số lượng các loài cây rừng có quả làm thức ăn cho chim đa dạng và phong phú Ba loài chim Gầm ghi lưng nâu, Yểng và Niệc nâu có thể là chỉ thị cho chất lượng rừng ở khu vực còn tốt Cũng như vậy các loài chim ăn ở tầng giữa và dưới tán rừng gặp với số lượng lớn như: Khướu xám, Khướu đầu trắng, Khướu má xám và nhiều loài khướu nhỏ khác Đây là những loài chỉ thị cho chất lượng tầng tán rừng ở Bắc Hướng Hóa vẫn còn nguyên vẹn

Bảng 9: Các loài chim có giá trị bảo tồn ghi nhận cho KBTTN Bắc Hướng Hóa

1 Gà so Trung bộ Arborophila merlini RRS En

2 Gà lôi lam mào trắng Lophura edwardsi EN, RRS En

5 Gõ kiến xanh cổ đỏ Picus rabieri NT, RRS

6 Thầy chùa đít đỏ Megalaima lagrandieri RRS

12 Diều cá bé Ichthyophaga humilis NT

15 Chim khách đuôi cờ Temnurus temnurus T

16 Khướu đầu xám Garrulax vassali RRS T

17 Khướu mỏ dài Jabouilleia dangjoui VU, RRS T

18 Chích chạch má xám Macronous kelleyi RRS

Ghi chú: Tình trạng bị đe dọa trong sách đỏ: E (EN)= Bị đe dọa Nghiêm trọng trong sách

đỏ Việt Nam và Thế Giới (IUCN); V (VU)= Sắp bị đe dọa Nghiêm trọng trong sách đỏ Việt Nam và Thế Giới (IUCN); NT= Gần bị đe dọa trong sách đỏ Thế Giới (IUCN); T= Bị đe dọa trong sách đỏ Việt Nam; R= Loài hiếm trong sách đỏ Việt Nam; En= Loài đặc hữu của Việt Nam; RRS= Loài có vùng phân bố hạn hẹp

Tình trạng của một số loài quí hiếm ở khu vực nghiên cứu

Gà lôi lam mào trắng Lophura edwardsi

Trang 23

Tên địa phương (tiếng Vân Kiều) gọi loài này con Cà Lừng Trong hai đợt khảo sát 2004, 2005 chưa quan sát được loài này Tuy nhiên Nhóm giám sát cộng đồng nhìn thấy 2 con trống (con đực) ở vùng Rào Thép, ngày 17/10/2004 Trước đây, năm

1996, tại làng Kreng (16035’N; 107005’E), xã Hướng Hiệp (phía đông bắc của khu vực) thợ săn địa phương đã bẫy được một cặp (trống và mái) của loài này, con mái bị chết, con trống được chuyển về nuôi tại Vườn thú Hà Nội (Lê Trọng Trải và cộng sự 1999) Mối đe dọa lớn nhất của loài này hiện nay là săn bẫy với mục đích làm thực phẩm, đôi khi bán trong vùng với giá đắt hơn gà nhà chút ít Trong phạm vi khu bảo tồn, sinh cảnh rừng thích hợp của Gà lôi lam mào trắng là rừng thường xanh trên đất thấp dưới 600 m còn khá lớn

Gà so Trung Bộ Arborophila merlini

Gà so Trung Bộ là loài đặc hữu có vùng phân bố giới hạn trong Vùng Chim Đặc hữu (EBA) Đất thấp Trung Bộ Trong lần khảo sát năm 2005 đã quan sát được loài này ở khu vực Suối Cha Lỳ, nhiều tiếng kêu của loài này cũng nghe thấy dọc theo đường mòn từ Cha Lỳ đi cột mốc 25 giữa Việt Nam và Lào Đe dọa lớn nhất của loài này cũng như các loài khác trong Bộ gà là săn bẫy

Trĩ sao Rheinardia ocellata

Đã thu thập được nhiều lông của loài này tại hai lán thợ săn bẫy trong lần điều tra năm 2005 Nhóm tuần tra rừng cộng đồng đã nhiều lần quan sát thấy Trĩ sao ở khu rừng thôn Cuồi và Cựp trong các năm 2004 và 2005

Hồng hoàng Buceros birconis

Khu vực rừng giáp ranh hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị thường xuyên gặp loài này, nhưng mỗi lần gặp chỉ tối đa 3 cá thể Hiện tại loài này chỉ đe dọa khi diện tích rừng thường xanh bị mất vì hầu hết súng săn trong vùng đã tịch thu và được bộ đội biên phòng kiểm soát nghiêm ngặt

Niệc nâu Anorrhinus tickelli

Đã quan sát một đàn lớn khoảng hơn 30 cá thể khu vực ngã ba Dân Chủ trong lần khảo sát năm 2005 So với các vùng khác trên cả nước khu vực Bắc Hướng Hóa hiện có số lượng quần thể Niệc nâu khá lớn Loài này bị đe dọa bởi săn bắn dùng súng và mất rừng cung cấp thức ăn và làm tổ Những lần khảo sát năm 2004 và đầu năm 2005 cũng đã quan sát thấy loài này nhưng số lượng không nhiều

Khướu mỏ dài Jabouilleia danjoui

Đã quan sát nghe thấy nhiều tiếng kêu của loài này ở khu vực giáp ranh hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị Tình trạng khá phổ biến trong khu vực nghiên cứu năn 2005 Đây là loài đặc hữu của Việt Nam

2.3.3Khu hệ bò sát và ếch nhái

Khảo sát khu hệ Bò sát và Ếch nhái khu vực Bắc Hướng Hóa do nhóm chuyên gia của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh Vật và Viện Động vật St Petersburg-Viện Hàn Lâm Khoa học Nga tiến hành từ ngày 20/4-15/5/2005 Kết quả phân tích và báo cáo sơ bộ đã chỉ ra rằng khu hệ Bò sát và Ếch nhái khu vực có tính đa dạng sinh học cao Tổng số ghi nhận 61 loài Bò sát và Ếch nhái, trong đó 30 loài Ếch nhái thuộc 5

Trang 24

họ và 1 bộ và 31 loài Bò sát thuộc 8 họ và 2 bộ Kết quả nghiên cứu cũng ghi nhận

mới một số loài cho khu vực như: 2 loài ếch cây thuộc giống Theloderma spp., Ếch cây Hymalayan Rhacophorus bipunctatus, Rắn ri cá (H buccata), Rắn khuyết (L ruhstrati), Rắn lục cườm (Trimeresurus mucrosquamatus), Rắn cạp nia thường (Bungarus bungaroides) vvv Hơn thế nữa, đã phát hiện 3 loài có thể chúng là loài mới cho học thuộc 3 giống sau: Nhái cây (Philautus), Rắn sãi (Amphiesma) và Rắn khiêm (Oligodon) Về giá trị bảo tồn chưa thống kê cụ thể nhưng có nhiều loài quý

hiếm trong sách đỏ Việt Nam và Thế Giới như: Tắc kè, Rồng đất, Cạp nia nam, Cạp nia thường, Rắn lục volgel, Rùa đất Sêpôn, Cóc rừng, Ếch gai sần vvv (Hồ Thu Cúc

2005 báo cáo tóm tắt gửi Chi cục kiểm lâm Quảng Trị)

2.4 Đặc điểm kinh tế-xã hội

2.4.1 Dân số và sự phân bố dân cư

Các thông tin về kinh tế xã hội được thu thập ở 5 xã có liên quan đến quy hoạch Khu BTTN Bắc Hướng Hoá thuộc tỉnh Quảng Trị Năm xã có liên quan bao gồm: Hướng Lập, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Việt và Hướng Linh (huyện Hướng Hóa) và Hướng Hiệp (huyện Đakrông), trong đó xã Hướng Việt mới được thành lập theo Nghị định số 08/NĐ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2004 của Chính Phủ Tổng số dân

là 9.151 người, 1.915 hộ, trong đó có 1.308 hộ là người Vân Kiều (chiếm 68,3 % tổng

số hộ của 5 xã), dân tộc Pacô chỉ có 1 hộ, còn lại là người Kinh Kết quả thống kê tình hình dân số, diện tích và mật độ dân số năm 2004 của vùng nghiên cứu được trình bày

Hướng Phùng

Hướng Sơn

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2004 (Phòng thống kê huyện Hướng Hoá )

Kết quả ở Bảng 10 cho thấy, tổng số hộ đói nghèo của 5 xã là 751 hộ (chiếm 39,2 % tổng số hộ của 5 xã) Trong đó, xã có tổng số hộ đói nghèo nhiều nhất trong

Trang 25

5xã là xã Hướng Linh với tổng số hộ đói nghèo là 234 hộ, chiếm 66,5% tổng số hộ của

xã Tổng diện tích đẩt tự nhiên của 5 xã là 665,914 ha Trong đó, xã Hướng Việt có diện tích tự nhiên là nhỏ nhất (6.520 ha), xã Hướng Sơn có diện tích tự nhiên là lớn nhất (20.456 ha) trong 5 xã Dân cư các xã trong vùng nghiên cứu có mật độ dân số là tương đối thấp (19,1 người/km2) trong đó xã có mật độ phân bố dân cư thấp nhất là xã Hướng Lập với 7,4 người/km2, xã có mật độ dân số cao nhất là xã Hướng Phùng với 28,2 người/km2

2.4.2 Giáo dục

Hầu hết các xã trong vùng nghiên cứu đều có trường trung học cơ sở và trường tiểu học Tuy nhiên các xã vẫn chưa có trường phổ thông trung học, công tác phổ cập học sinh trong độ tuổi đến trường vẫn chưa huy động hết, đội ngũ giáo viên còn thiếu, chất lượng dạy và học chưa cao Trình độ văn hoá nói chung còn thấp, đặc biệt là đối với cộng đồng người dân tộc vân kiều Nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện kinh tế của người dân trong vùng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác giảng dạy còn thiếu, điều kiện giao thông đi lại khó khăn đặc biệt là vào mùa mưa

2.4.3 Công nghiệp và dịch vụ

Tình hình phát triển các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ ngoài quốc doanh trong vùng nói chung còn kém phát triển và số lượng còn ít Cụ thể là, tổng số

cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh trong vùng là 21 cơ sở, tổng sổ cơ sở thương

mại và dịch vụ ngoài quốc doanh là 51 cơ sở (Niên giám thống kê năm 2004 huyện Hướng Hoá)

tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân vẫn còn thiếu

2.4.5 Chăn nuôi gia súc

Tình hình chăn nuôi gia súc trong vùng nói chung là tương đối phát triển cả về

số lượng và chất lượng Theo thông tin từ niên giám thống kê từ năm 2000 đến nay số lương các đan gia súc ở tất cả các xã đều tăng đã góp một phần đáng kể thu nhập cho nhiều hộ gia đình Tuy vậy chủ yếu là chăn thả rông nên chất lượng đàn gia súc ở đây không được cao

Bảng 11: Tổng đàn gia súc trong vùng nhiên cứu năm 2004

Đơn vị: con

Hạng mục Hướng

Lập

Hướng Việt

Hướng Phùng

Hướng Sơn

Trang 26

Cộng 1.034 749 1.262 1.583 2.014 6642

Nguồn: Niên giám thống kê năm (Phòng thống kê Hướng Hoá 2004 và Đakrông 2005)

2.4.7 Nông Lâm nghiệp

Tổng diện tích đất trồng lúa trong vùng là 3.341,9 ha (bao gồm lúa nươc và lúa nương), phần lớn là ruộng một vụ Phần còn lại là 2.271,7 ha đất sản xuất nông nghiệp

để trồng các loại cây hàng năm, đất cỏ dùng vào chăn nuôi và đất để trồng cây lâu năm Phần lớn là các loại cây hoa màu như ngô, khoai lang, sắn, lạc và thuốc lá Năng suất lúa bình quân của 5 xã huyện Hướng Hóa là 24,7 tạ/ha/năm, trong đó vụ Đông Xuân: 30,3 tạ/ha/năm, lúa nước: 28,86 tạ/ha/năm, lúa rẫy: 13,16 tạ/ha/năm, ngô: 13,612 tạ/ha/năm, khoai lang: 55,62 tạ/ha/năm, sắn: 121,6 tạ/ha/năm.

Bảng 12: Diện tích lúa và các loại hoa màu đang canh tác của 6 xã (Đơn vị: ha)

Nguồn: Niên giám thống kê năm (Phòng thống kê Hướng Hoá 2004)

Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của 5 xã tính đến năm 2004 là 2606,47 ha, trong đó xã Hướng Phùng có tổng diện tích đất nông nghiệp lớn nhất (1215,92 ha), hai xã Hướng Lập và Hướng Việt có tổng diện tích đất nông nghiệp nhỏ hơn các xã còn lại (287,12 ha và 280,5 ha) Thực tế tổng diện tích đất nông nghiệp của 5 xã tăng lên theo các năm do nhu cầu lương thực và dân số gia tăng hàng năm

Bảng 13: Diện tích các loại đất ở vùng nghiên cứu Đơn vị: ha

Lập

Hướng Việt

Hướng Phùng

Hướng Sơn

Nguồn: Niên giám thống kê năm (Phòng thống kê Hướng Hoá 2004 )

2.4.8 Các cơ quan có trong khu vực dự án

Một số cơ quan đóng ở vùng đệm của Khu BTTN Bắc Hướng Hóa:

i) Đồn biên phòng 605 (Đồn Cù Bai) trên địa phận của thôn A Sóc, xã

Hướng Lập

ii) Đội sản xuất số 5 thuộc Đoàn kinh tế quốc phòng 337 đóng trên địa phận

của xã Hướng Việt và đang có các hoạt động sản xuất lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng do Bộ Quốc Phòng thực hiên theo

Trang 27

chương trình 661 Hiện tại đang quản lý bảo vệ một số diện tích rừng khu vực Đèo Sa Mù Diện tích này cũng nằm trong phương án quy hoạch của Khu BTTN Bắc Hướng Hóa

Thông tin từ văn bản thẩm định và kết quả hoạt động của dự án giai đoạn 2000-2010 như sau:

Phạm vi dự án: trên địa bàn 5 xã: Hướng Lập, Hướng Việt, Hướng Phùng,

Hướng Sơn và Hướng Linh

Quy mô dự án:

+ Trồng mới và chăm sóc 3 năm tiếp theo: 4000 ha

+ Bảo vệ rừng hiện có: 7000 ha

+ Khoanh nuôi có trồng bổ sung cây lâm nghiệp: 2000 ha

+ Xây dựng đường ranh cản lửa: 50 km

+ Biển báo bảo vệ rừng: 15 bảng

+ Làm đường nội vùng: 40 km

Nguồn vốn: Ngân sách nhà nước thuộc Chương trình 661

Phương thức thực hiện dự án: Giao cho Đoàn KTQP 337 phối hợp với Sở

NN&PTNT tỉnh Quảng Trị tổ chức thực hiện dự án

Trong khu vực dự án có 1800 ha rừng tự nhiên thuộc tiểu khu 641,657 và 670 nằm trong quy hoạch khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa Hiện nay, chủ dự án đang tổ chức giao khoán bảo vệ rừng và sẽ kết thúc hợp đồng vào năm 2009 Như vậy diện tích trên cũng sẽ không ảnh hưởng đến việc quy hoạch lâu dài cho khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa

iii) Đồn biên phòng 609 (Sen Bụt) đống trên địa phận xã Hướng Phùng

iv) Đơn vị giao thông bão dưỡng và quản lý đường bộ (Đường Hồ Chí Minh

nhánh tây) trên địa phận xã Hướng Phùng

Trang 28

Chương 3 ĐÁNH GIÁ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BẮC HƯỚNG HÓA

3.1 Giá trị về bảo tồn

Tỉnh Quảng Trị hiện tại hai khu vực đang có diện tích rừng nguyên sinh lớn nhất

và là trung tâm đa dạng sinh học có ý nghĩa quốc gia và quốc tế: Khu BTTN Đakrông

và khu vực Bắc Hướng Hóa Cả hai khu vực này đã được ghi trong chiến lược phát triển lâm nghiệp của tỉnh Kết quả khảo sát bước đầu cho thấy rừng Bắc Hướng Hóa thể hiện những nét đặc trưng về bảo tồn như sau:

 Là một phần của Vùng chim đặc hữu-Đất thấp Miền Trung Việt Nam theo các tiêu chí Quốc Tế;

 Là một vùng chim quan trong theo các tiêu chí Quốc Tế bởi sự có mặt của các loài chim và thú đặc hữu; các loài thú lớn và linh trưởng đang bị đe dọa mang tính toàn cầu (Bảng 9& 10);

 Là một trong ba khu bảo vệ duy nhất ở Việt Nam và Thế Giới có quần thể loài Gà lôi lam mào trắng (Phong Điền, Đakrông và Bắc Hướng Hóa);

 Là một trong hai nơi duy nhất ở Việt Nam và Thế Giới có quần thể loài Voọc Hà tĩnh (Phong Nha-Kẻ Bàng và Bắc Hướng Hóa);

 Là một trong số ít khu có tiềm năng bảo tồn quần thể loài thú lớn Saola đặc hữu của Việt Nam và Lào (Quảng Nam, Thừa Thiên Huế và Bắc Hướng Hóa)

Bảng 14 &15 là kết quả khảo sát bước đầu minh chứng một phần về ý nghĩa bảo tồn của khu vực rừng Bắc Hướng Hóa

Bảng 14: So sánh các loài chim quý hiếm giữa Bắc Hướng Hóa với các khu bảo tồn ở Miền Trung

Loài gần bị đe doạ

Ghi chú: BHH- Bắc Hướng Hóa, KG-Kẻ Gỗ, PNKB-Phong Nha Kẻ Bàng, PĐ-ĐR-Phong Điền Đakrông, Bạch Mã Tình trạng: RSS-loài có vùng phân bố hẹp, E (Endangered)-loại bị đe doạ nghiêm trọng, V (Vulnerable)-loài sắp bị đe doạ nghiêm trọng, NT (Near-Threatened)-loài gần bị đe doạ X-ghi nhận

Ngày đăng: 20/03/2014, 23:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số liệu khí tượng một số trạm có liên quan đến vùng dự án - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
Bảng 1 Số liệu khí tượng một số trạm có liên quan đến vùng dự án (Trang 8)
Bảng 3:  Thành phần thực vật khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
Bảng 3 Thành phần thực vật khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa (Trang 15)
Bảng 5: So sánh tính đa dạng thực vật Bắc Hướng Hoá với các khu bảo tồn trong vùng - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
Bảng 5 So sánh tính đa dạng thực vật Bắc Hướng Hoá với các khu bảo tồn trong vùng (Trang 17)
Bảng 7 : Danh sách các loài thực vật quý hiếm theo các mức độ đe dọa ở KBTTN Bắc  Hướng Hóa - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
Bảng 7 Danh sách các loài thực vật quý hiếm theo các mức độ đe dọa ở KBTTN Bắc Hướng Hóa (Trang 18)
Bảng 8: Các loài thú bị đe dọa ở cấp quốc gia và quốc tế ghi nhận ở Bắc Hướng Hoá - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
Bảng 8 Các loài thú bị đe dọa ở cấp quốc gia và quốc tế ghi nhận ở Bắc Hướng Hoá (Trang 19)
Bảng 10: Thống kê tình hình dân số, diện tích và mật độ dân số trong khu vực năm 2004 - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
Bảng 10 Thống kê tình hình dân số, diện tích và mật độ dân số trong khu vực năm 2004 (Trang 24)
Bảng 14: So sánh các loài chim quý hiếm giữa Bắc Hướng Hóa với các khu bảo tồn ở  Miền Trung - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
Bảng 14 So sánh các loài chim quý hiếm giữa Bắc Hướng Hóa với các khu bảo tồn ở Miền Trung (Trang 28)
Bảng 15: Tổng số loài có trong sách đỏ Việt Nam và Thế Giới - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
Bảng 15 Tổng số loài có trong sách đỏ Việt Nam và Thế Giới (Trang 29)
Bảng 17: Phương thức quản lý phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Khu bảo tồn thiên nhiên  Bắc Hướng Hoá 1 - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
Bảng 17 Phương thức quản lý phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá 1 (Trang 35)
Bảng 19: Sử dụng đất các xã có liên quan đến diện tích quy hoạch vào khu bảo  tồn - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
Bảng 19 Sử dụng đất các xã có liên quan đến diện tích quy hoạch vào khu bảo tồn (Trang 38)
Bảng 20: Hiện trạng sử dụng đất thôn Cựp và giải pháp đề xuất - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
Bảng 20 Hiện trạng sử dụng đất thôn Cựp và giải pháp đề xuất (Trang 43)
Bảng  20  &21  đề  xuất  giải  pháp để  quản  lý  bền  vững  tài  nguyên  rừng  trong  Phân  khu  phục  hồi  sinh  thái  I&  II - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
ng 20 &21 đề xuất giải pháp để quản lý bền vững tài nguyên rừng trong Phân khu phục hồi sinh thái I& II (Trang 43)
Sơ đồ cơ cấu tổ chức khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa (Trang 46)
Bảng 22: Khái toán vốn đầu tư cho khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
Bảng 22 Khái toán vốn đầu tư cho khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá (Trang 48)
Bảng 23: Tổng hợp vốn đầu tư theo giai đoạn - Dự án xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá docx
Bảng 23 Tổng hợp vốn đầu tư theo giai đoạn (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm