Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế giáo dục ở nước ta là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM KHOA LÝ
LUẬN CHÍNH TRỊ Bộ môn: Những NLCB của CNMLN
tạo ở Việt Nam hiện nay
Nhóm SVTT: Nguyễn Thị Kim Anh-MSSV: 21136121
Lê Thị Phương Anh-MSSV: 21136117
Lý Lê Nhật Hòa-MSSV: 21136031Đặng Châu Anh-MSSV: 21136003Bùi Xuân Quỳnh-MSSV: 21136076
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thúy Cường
TP HCM, 12-2021
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 2
Trang 2I QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ THỰC TIỄN VÀ NHẬN
THỨC……… 2
1.1 Thực tiễn và giai đoạn của thực tiễn 4
1.1.1 Khái niệm của thực tiễn……… 4
1.1.2 Đặc trưng của thực tiễn……… 4
1.1.3 Hình thức của thực tiễn……… 4
1.2 Nhận thức và giai đoạn của nhận thức 4
1.2.1 Khái niệm nhận thức 4
1.2.2 Tính chất của nhận thức 4
1.2.2.1 Các giai đoạn của nhận thức 4
1.2.2.2 Phân loại nhận thức 4
1.3 Vai trò của thực tiễn với nhận thức 4
1.3.1 Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức 4
1.3.2 Thực tiễn là động lực, mục đích của nhận thức 4
1.3.3 Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý 4
II VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC LENIN VÀO VIỆC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 4
2.1 Thực trạng giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay 4
2.1.1 Những thành tựu của giáo dục và đào tạo ở VN và nguyên nhân những thành tựu đó 4
2.1.2 Những hạn chế trong giáo dục và đào tạo ở VN và nguyên nhân những hạn chế đó 4
2.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới giáo dục và đào tạo ở VN hiện nay trên cơ sở vận dụng quan điểm triết học Mac Lênnin 4
Trang 32.2.1Đổi mới giáo dục và đào tạo theo hướng gắn lý thuyết với thực hành, đặc biệt chú trọng
thực hành……… 4
2.2.2 Đẩy mạnh phát triển giáo dục đào tạo một cách toàn diện……… 4
2.2.3Đổi mới giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học 4
III LIÊN HỆ TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN TRONG THỰC TIỄN HIỆN NAY Ở NƯỚC TA……… 4
3.1 Không ngừng nổ lực phấn đấu, tự học, tự nghiên cứu……… 4
3.2 Tích cực tham gia xây dựng bảo vệ tổ quốc 4
3.3 Tích cực tham gia phòng chống, đẩy lùi dịch bệnh Covid-19 4
3.4 Tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện……… 4
C.KẾT LUẬN 4
D TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU - MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Triết học được xem là thành tựu của nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo con người và loài người nói chung Để có được “Triết học” của ngày hôm nay thì nó đã phải trải qua một giai đoạn hình thành và phát triển vô cùng lâu dài và phức tạp
Trong triết học xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin thì vấn đề quan hệ giữa nhận thức
và thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt Chính vì vậy việc tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn là vô cùng quan trọng cũng như cần thiết
Vậy nhận thức là gì? Thực tiễn là gì? Vai trò của thực tiễn với nhận thức hay sự tác động qua lại giữa nhận thức và thực tiễn ra sao? Và con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? đó là những vấn đề cơ bản của triết học mà tất cả mọi trào lưu hay những khuynh hướng triết học khác nhau, đặc biệt là triết học truyền thống bắt buộc phải giải quyết
Trên cơ sở nền tảng triết học Mác – Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để
Trang 4xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, y tế và đặc biệt là giáo dục, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ với các nước trong khu vực và thế giới Chính những thành tựu của chủ nghĩa xã hội và qua nhiều năm đổi mới là minh chứng chính xác cho vấn đề nêu trên Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế giáo dục ở nước ta là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay Vì vậy, chúng em quyết định chọn đề tài: “Quan điểm triết học Mác-Lênin về thực tiễn, nhận thức và vai trò của thực tiễn với nhận thức Vận dụng quan điểm này vào việc đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay.”
NỘI DUNG
I QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ THỰC TIỄN VÀ NHẬN THỨC.
1.1 Thực tiễn và giai đoạn của thực tiễn
1.1.1 Khái niệm thực tiễn
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, có tính sáng tạo, mang
tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
1.1.2 Đặc trưng thực tiễn
Thực tiễn là hoạt động vật chất – cảm tính của con người hay nói khác đi là những
hoạt động vật chất mà con người cảm giác được, quan sát được, trực quan được Hoạtđộng vật chất – cảm tính là những hoạt động mà con người phải sử dụng lực lượng vậtchất, công vụ vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để biến đổi chúng; trên cơ sở
đó, con người làm biến đổi thế giới khách quan và biến đổi bản thân mình
Thực tiễn là hoạt động chỉ diễn ra trong xã hội, với sự tham gia đông đảo của mọi
người, luôn bị giới hạn bởi những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể và cũng trải qua cácgiai đoạn lịch sử phát triển cụ thể Do vậy, thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử
- xã hội của con người
Trang 5Thực tiễn là hoạt động có mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội để phục vụ con
người Nói tới thực tiễn là nói tới hoạt động có tính tự giác cao của con người, khác hẳnvới hoạt động chỉ dựa vào bản năng, thụ động của động vật
1.1.3 Hình thức của thực tiễn
Thực tiễn có 3 hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị
xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học
- Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực tiễn.
Đây là hoạt động mà trong đó con người dùng những công cụ lao động tác động vào giới
tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết để nhằm duy trì sự tồn tại vàphát triển của mình Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động bằng : lao dộng phổ thông(chân tay), lao động trí óc, cộng với các phương tiện, dụng cụ lao động, máy móc kĩ thuật
để sản xuất và tái sản xuất mở rộng ra vật chất (sản phẩm,, hàng hóa) phục vụ cho nhu cầutiêu dùng và xã hội
- Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động thực tiễn thể hiện tính tự giác cao của
con người nhằm biến đổi, cải tạo xã hội, phát triển các thiết chế xã hội, các quan hệ xãhội tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho con người phát triển Hoạt động chính trị - xãhội bao gồm các hoạt động như đấu tranh giai cấp; đấu tranh giải phóng dân tộc; đấu tranhcho hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội; đấu tranh cải tạo các quan hệ chính trị - xã hội,nhằm tạo ra môi trường xã hội dân chủ, lành mạnh, thuận lợi cho con người phát triển.Thiếu hình thức hoạt động thực tiễn này, con người và xã hội loài người cũng không thểphát triển bình thường
- Hoạt động thực nghiệm khoa học là hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn.
Bởi lẽ, trong hoạt động thực nghiệm khoa học, con người chủ động tạo ra những điều kiệnkhông có sẵn trong tự nhiên cũng như xã hội để tiến hành thực nghiệm khoa học theo mụcđích mà mình đã đề ra Trên cơ sở đó, vận dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, côngnghệ vào sản xuất vật chất, vào cải tạo chính trị - xã hội, cải tạo các quan hệ chính trị - xãhội phục vụ con người Ngày nay, khi mà cách mạng khoa học công nghệ phát triển như
vũ bão, ‘‘khi mà tri thức xã hội phổ biến đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng
Trang 6sản xuất trực tiếp” thì hình thức hoạt động thực tiễn này ngày càng đóng vai trò quantrọng.
1.1.4 Mối quan hệ giữa các hoạt động thực tiễn
Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có chức năng quan trọng khác nhau.Không thể thay thế cho nhau nhưng chúng có mối quan hệ chặc chẽ, tác động qua lại lẫnnhau Trong mối quan hệ đó, hoạt động sản xuất vật chất lại có vai trò quan trọng nhất,đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động thực tiễn khác Bởi vì nó là hoạt độngnguyên thủy nhất và tồn tại một cách khách quan, thường xuyên nhất trong đời sống củacon người và nó tại ra những điều kiện, của cái thiết yếu nhất, có tính quyết địnhn nhất với
sự sinh tòn và phát triển của con người Không có hoạt động sản xuất vật chất thì khôngthể hình thành được các hoạt động thực tiễn khác Các hình thức hoạt động thực tiễn khác,suy cho cùng cũng bắt nguồn từ thực tiễn sản xuất vật chất và nhằm phục vụ cho thục tiễnsản xuất vật chất
Theo quan điểm của duy vật biện chứng, thực tiễn gồm 2 chức năng quan trọng: thứnhất là chuyển cái tinh thần thành cái vật chất, tức là khách quan hóa chủ quan Thứ hai làchuyển cái vật chất thành cái tinh thần, tức là chủ quan hóa khách quan Thực tiễn có vaitrò đặc biệt to lớn đối với nhận thức, nó chính là cơ sở mục đích, động lực của nhận thức,
là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý
1.2 Nhận thức và các giai đoạn của nhận thức
1.2.1 Nhận thức là gì?
Theo quan điểm của Triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trìnhphản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tíchcực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn
Bằng sự kế thừa những yếu tố hợp lý của các học thuyết đã có, khái quát các thànhtựu khoa học, C.Mác và Ph.Angghen đã xây dựng nên học thuyết biện chứng duy vật vềnhận thức Học thuyết này ra đời đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lý luận nhận thức vì
đã xây dựng được những quan điểm khoa học đúng đắn về bản chất của nhận thức Họcthuyết này ra đời dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
Trang 7Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với tư duy ý thức
của con người Con người có năng lực nhận thức được thế giới của con người Về nguyêntắc là không có cái gì là không biết Nhận thức của con người về giới tự nhiên là một quátrình từ thấp đến cao, chuyển chỗ biết không đầy đủ, không chính xác đến chỗ biết ngàycàng đầy đủ, chính xác hơn Nhận thức đi từ dễ đến khó, đi từ đơn giản đến phức tạp, từrộng đến sâu, từ hiện tượng bản chất cấp một đến hiện tượng bản chất cấp hai Thế giới vậtchất rất rộng lớn, có thể có những cái con người chưa biết nhưng trong tương lai, với sựphát triển của khoa học, con người dần có thể khám phá ra được Với khẳng định trên đây,
lý luận nhận thức Mác-xít khẳng định sức mạnh của con người trong việc nhận thức và cảitạo thế giới
Hai là, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người, là quá
trình tạo tri thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan Nhờ nhận thức conngười mới có thể ý thức được thế giới, ý thức về cơ bản là kết quả của quá trình nhận thứcthế giới Thế giới vật chất tồn tại khách quan ở ngoài và độc lập với ý thức của con ngườitác động vào các giác quan sinh ra cảm giác, từ đó đi tới hình thành ý thức
Con người là chủ thể tích cực, sáng tạo và có ý thức nhận thức cải tạo thế giới Chủthể là sản phẩm có tính lịch sử, xã hội kế thừa tri thức của xã hội trước đồng thời sử dụngphương tiện nhận thức xã hội tạo ra Do đó khi nhận thức, các yếu tố của chủ thế như lợiích, lý tưởng, tài năng, ý chí, phẩm chất đạo đức…đều tham gia vào quá trình nhận thứcvới những mức độ khác nhau và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức
Còn khách thể nhận thức là một bộ phận của thế giới khách quan mà nhận thứchướng đến nắm bắt, phản ánh nó nằm trong phạm vi tác động của hoạt động nhận thức Do
đó, khách thể không đồng nhất với hiện thực khách quan, phạm vi của khách thể nhận thứcđược mở rộng đến đâu là tùy theo sự phát triển của nhận thức Như vậy không chỉ có chủ thểnhận thức mà khách thể nhận thức cũng mang tính xã hội Trong quan hệ giữa chủ thể vàkhách thể bao giờ cũng giữ vai trò quyết định bởi vì nó quyết đinh nội dung tri thức của nhậnthức Tuy nhiên chủ thể vẫn có tác động tích cực đến khách thể vì phản ánh của chủ thể là sựphản ánh có sáng tạo, có mục đích, có chọn lọc nhẳm phục vụ sự vật và thực tiễn
Trang 8Ba là, nhận thức không phải là một hành động tức thời đơn giản, máy móc và thụ
động mà là quá trình sáng tạo dựa trên hoạt động thực tiễn Có thể nói quá trình nhận thức
đi từ hiện thực đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn Vì vậy:
“trong lý luận nhận thức cũng trong tất cả lĩnh vực khác của khoa học, cần suy luận mộtcách biện chứng nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức của chúng ta là bất di bất dịch và
có sẵn, mà phải phân tích xem sự hiểu biết nảy sinh ra từ sự không hiểu biết như thế nào,
sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn thếnào”
Cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn Thực tiễn còn là mụcđích của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý của nhận thức Nhận thức là quátrình con người phản ánh một cách biện chứng, năng động sáng tạo thế giới khách quantrên cơ sở thực tiễn lịch sử-xã hội
1.2.2 Tính chất của nhận thức:
a) Các giai đoạn của nhận thức:
Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con người
đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn.Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từthấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong, nhưsau:
Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên
của quá trình nhận thức Đó là giai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động vào
sự vật nhằm nắm bắt sự vật ấy Nhận thức cảm tính gồm các hình thức sau:
- Cảm giác: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh các thuộc tính riêng lẻ của
các sự vật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan của con người Cảmgiác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của sự chuyển hoá những năng lượngkích thích từ bên ngoài thành yếu tố ý thức
- Tri giác: hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối toàn vẹn sự vật khi sự
vật đó đang tác động trực tiếp vào các giác quan con người Tri giác là sự tổng hợp cáccảm giác So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức đầy đủ hơn, phong phú hơn
Trang 9Trong tri giác chứa đựng cả những thuộc tính đặc trưng và không đặc trưng có tính trực quan của sự vật.
- Biểu tượng: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối hoàn chỉnh sự
vật do sự hình dung lại, nhớ lại sự vật khi sự vật không còn tác động trực tiếp vào các giácquan Trong biểu tượng vừa chứa đựng yếu tố trực tiếp vừa chứa đựng yếu tố gián tiếp
*Giai đoạn này có các đặc điểm:
- Phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức
- Phản ánh bề ngoài, phản ánh cả cái tất nhiên và ngẫu nhiên, cả cái bản chất và không bản chất Giai đoạn này có thể có trong tâm lý động vật
- Hạn chế của nó là chưa khẳng định được những mặt, những mối liên hệ bản chất,tất yếu bên trong của sự vật Để khắc phục, nhận thức phải vươn lên giai đoạn cao hơn,giai đoạn lý tính
Nhận thức lý tính (hay còn gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn phản ánh gián
tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phánđoán, suy luận
- Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính
bản chất của sự vật Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biệnchứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay lớp sự vật
- Phán đoán: là hình thức tư duy trừu tượng, liên kết các khái niệm với nhau để
khẳng định hay phủ định một đặc điểm, một thuộc tính của đối tượng
- Suy luận: là hình thức tư duy trừu tượng liên kết các phán đoán lại với nhau để rút
ra một phán đoán có tính chất kết luận tìm ra tri thức mới
*Giai đoạn này cũng có hai đặc điểm:
- Là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng
- Là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng
Nhận thức cảm tính và lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệchặt chẽ với nhau Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính Không cónhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự vật
Trang 10Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, nhận thức được phân loại như sau:
Dựa vào trình độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng:
- Nhận thức kinh nghiệm hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng
trong tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học Tri thức kinh nghiệm là kết quảcủa nó, được phân làm hai loại:
+ Tri thức kinh nghiệm thông thường là loại tri thức được hình thành từ sự quan sát
trực tiếp hàng ngày về cuộc sống và sản xuất Tri thức này rất phong phú, nhờ có tri thứcnày con người có vốn kinh nghiệm sống dùng để điều chỉnh hoạt động hàng ngày
+ Tri thức kinh nghiệm khoa học là loại tri thức thu được từ sự khảo sát các thí
nghiệm khoa học, loại tri thức này quan trọng ở chỗ đây là cơ sở để hình thành nhận thứckhoa học và lý luận
Hai loại tri thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau để tạo nên tính phong phú, sinh động của nhận thức kinh nghiệm
- Nhận thức lý luận (gọi tắt là lý luận) là loại nhận thức gián tiếp, trừu tượng và
khái quát về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng Nhận thức lý luận có tínhgián tiếp vì nó được hình thành và phát triển trên cơ sở của nhận thức kinh nghiệm Nhậnthức lý luận có tính trừu tượng và khái quát vì nó chỉ tập trung phản ánh cái bản chất mangtính quy luật của sự vật và hiện tượng Do đó, tri thức lý luận thể hiện chân lý sâu sắc hơn,chính xác hơn và có hệ thống hơn
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức khácnhau, có quan hệ biện chứng với nhau Trong đó nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhậnthức lý luận Nó cung cấp cho nhận thức lý luận những tư liệu phong phú, cụ thể Vì nógắn chặt với thực tiễn nên tạo thành cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa, bổ sung cho lýluận và cung cấp tư liệu để tổng kết thành lý luận Ngược lại, mặc dù được hình thành từtổng kết kinh nghiệm, nhận thức lý luận không xuất hiện một cách tự phát từ kinh nghiệm
Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những sự kiện kinh nghiệm,hướng dẫn sự hình thành tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn kinh nghiệm hợp lý đểphục vụ cho hoạt động thực tiễn Thông qua đó mà nâng những tri thức kinh nghiệm từchỗ là cái cụ thể, riêng lẻ, đơn nhất trở thành cái khái quát, phổ biến
Trang 11 Dựa vào tính tự phát hay tự giác của sự xâm nhập vào bản chất của sự vật:
- Nhận thức thông thường (hay nhận thức tiền khoa học) là loại nhận thức được
hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của con người Nóphản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểm chi tiết, cụ thể và những sắcthái khác nhau của sự vật
- Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác và gián
tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu của các sự vật Nhận thứckhoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng, khái quát lại vừa có tính hệ thống, có căn cứ
và có tính chân thực
Hai loại nhận thức này cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau Nhận thứcthông thường có trước nhận thức khoa học và là nguồn chất liệu để xây dựng nội dung củacác khoa học Ngược lại, khi đạt tới trình độ nhận thức khoa học thì nó lại tác động trở lạinhận thức thông thường, xâm nhập và làm cho nhận thức thông thường phát triển, tăngcường nội dung khoa học cho quá trình nhận thức thế giới của con người
1.3 Vai của của thực tiễn đối với nhận thức
1.3.1 Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức
Thông qua hoạt động thực tiễn, con người nhận biết được cấu trúc; tính chất và cácmối quan hệ giữa các đối tượng để hình thành tri thức về đối tượng Hoạt động thực tiễn
bổ sung và điều chỉnh những tri thức đã được khái quát Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm
vụ, cách thức và khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức Chính nhu cầu giảithích, nhận thức và cải tạo thế giới buộc con người tác động trực tiếp vào đối tượng bằnghoạt động thực tiễn của mình Chính sự tác động đó đã làm cho các đối tượng bộc lộnhững thuộc tính, những mối liên hệ và các quan hệ khác nhau giữa chúng đem lại chocon người những tri thức, giúp cho con người nhận thức được các quy luật vận động vàphát triển của thế giới Trên cơ sở đó hình thành các lý thuyết khoa học
Như vậy, nguyên tắc thống nhất giữa thực tiễn và lý luận phải là nguyên tắc cơbản trong hoạt động thực tiễn và hoạt động lý luận; lý luận mà không có thực tiễn làm cơ
Trang 12sở và tiêu chuẩn để xác định tính chân lý của nó thì đó chỉ là lý luận suông, ngược lại,thực tiễn mà không có lý luận khoa học, cách mạng soi sáng thì nhất định sẽ biến thànhthực tiễn mù quáng.
1.3.2 Thực tiễn là động lực, mục đích của nhận thức
Hoạt động thực tiễn góp phần hoàn thiện các giác quan, tạo ra khả năng phản ánhnhạy bén, chính xác, nhanh hơn; tạo ra các công cụ, phương tiện để tăng năng lực phảnánh của con người đối với tự nhiên Những tri thức được áp dụng vào thực tiễn đem lạiđộng lực kích thích quá trình nhận thức tiếp theo
+ Thực tiễn sản xuất vật chất và cải biến thế giới đặt ra yêu cầu buộc con người phải nhận thức về thế giới
+ Thực tiễn làm cho các giác quan, tư duy của con người phát triển và hoàn thiện,
từ đó giúp con người nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về thế giới
Mục đích cuối cùng của nhận thức là giúp con người hoạt động thực tiễn nhằm cảibiến thế giới Nhấn mạnh vai trò này của thực tiễn Lênin đã cho rằng: “Quan điểm về đờisống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”
Nhận thức không chỉ thoả mãn nhu cầu hiểu biết mà còn đáp ứng nhu cầu nâng caonăng lực hoạt động để đưa lại hiệu quả cao hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của conngười Thực tiễn luôn vận động, phát triển nhờ đó, thực tiễn thúc đẩy nhận thức vận động,phát triển theo Thực tiễn đặt ra những vấn đề mà lý luận cần giải quyết
Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, thì tri thức con người mới thể hiện được sứcmạnh của mình, sự hiểu biết của con người mới có ý nghĩa Bằng thực tiễn mà kiểm chứngnhận thức đúng hay sai, khi nhận thức đúng thì nó phục vụ thực tiễn phát triển và ngượclại
1.3.3 Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm tra chân lý
Nhờ có thực tiễn, chúng ta phân biệt được chân lý và sai lầm, tức thực tiễn đóngvai trò là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
Trang 13– Thực tiễn là hoạt động vật chất có tính tất yếu khách quan, diễn ra độc lập đốivới nhận thức, nó luôn luôn vận động, và phát triển trong lịch sử Nhờ đó là mà thúc đẩynhận thức cùng vận động, phát triển Mọi sự biến đổi của nhận thức suy cho cùng khôngthể vượt ra ngoài sự kiểm tra của thực tiễn Nó thường xuyên chịu sự kiểm nghiệm trựctiếp của thực tiễn.
– Chính thực tiễn có vai trò làm tiêu chuẩn, thước đo giá trị của những tri thức đãđạt được trong nhận thức Đồng thời nó bổ sung, chỉnh sửa, điều chỉnh, sửa chữa, pháttriển và hoàn thiện nhận thức C.Mác đã viết “vấn đề tìm hiểu tư duy của con người có thểđạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là mộtvấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”
– Nhờ có thực tiễn kiểm nghiệm, chứng minh mà ta xác định đâu là cái hợp quyluật, đâu là cái tri thức đúng, đâu là sai lầm cũng như cái gì nên làm, cái gì không nên làm,đâu là cái không hợp với quy luật mà chân lý chính là cái tri thức đúng, cái hợp quy luậthay là đúng với quy luật
– Thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố đóng vai tròquyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức cònphải luôn luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình Vì thế mà thực tiễn là cơ
sở, động lực, mục đích của nhận thức vừa là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý Và khi nhấnmạnh điều này thì V.I Lênin đã viết: “Quan điểm về đời sống và thực tiễn phải là quanđiểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức”
– Chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm thực tiễn, quan điểm này yêu cầu việcnhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, độ sâu vào thực tiễn, phải coitrọng công tác tổng kết thực tiễn, việc nghiên cứu phải liên hệ với thực tiễn tức là “học phải điđôi với hành” Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy
ý chí, giáo điều, máy móc, quan liêu, không xác định được quy luật, không phân biệt đượcquy luật đó có hợp quy luật hay không có là tri thức đúng (chân lý) hay không nhưng nếutuyệt đối hóa thì sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng, kinh nghiệm chủ nghĩa nên đòi hỏi chúng
ta phải có cái nhìn đúng đắn thì mới xác định được quy luật hợp chân lý
Trang 14II VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC LENIN VÀO VIỆC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay
2.1.1 Những thành tựu của giáo dục và đào tạo ở Việt Nam và nguyên nhân những thành tựu đó
Hệ thống giáo dục và đào tạo ở nước ta đã khá hoàn chỉnh vào thời điểm hiện tại.Các trường tiểu học hầu hết đều đã có mặt ở các bản, làng, xã, phường; các xã hoặc cụmliên xã cũng xây dựng những trường trung học cơ sở; trường trung học phổ thông đượcxây ở các huyện Về cơ bản, hệ thống giáo dục và đào tạo nước ta cũng đã đáp ứng đượcnhu cầu học tập của nhân dân Và hiện nay, hầu hết người dân trong độ tuổi đi học đềuđược đến trường
Dưới đây là một vài thành tựu giáo dục nước ta trong hơn 75 năm qua thể hiện sựquan tâm của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đồng thời cho thấy sự nỗ lực to lớn của nhândân ta đối với sự nghiệp phát triển giáo dục của nước nhà
-Hệ thống cơ chế, chính sách trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cơ bản được hoàn thiện
Bộ GD-ĐT đã rà soát, trình Chính phủ, Quốc hội và ban hành theo thẩm quyền các
cơ chế, chính sách khắc,phục những,hạn chế, bất,cập,tồn tại từ nhiều năm trước Lần đầutiên trong 2 năm liên tiếp, Bộ đã tham mưu Chính phủ trình Quôc hội thông qua Luật sửađổi, bổ sung một số điều của,Luật,Giáo,dục đại học năm 2018 và Luật,Giáo,dục (sửa đổi,ban hành mới) năm 2019, giải quyết những “nút thắt” và tạo hành lang pháp lý cho cáchoạt động đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Hiện nay, về cơ bản các chủ trương củaNghị quyết 29 đã được thể chế hóa và được cụ thể trong các văn bản hướng dẫn thực hiện
-Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non; duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở
Trang 15Chỉ tiêu về đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trên toàn quốc cho trẻ 5 tuổi đãhoàn thành ngay từ đầu năm 2017 với tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo 5 tuổi đạt 99,98% Bêncạnh đó, cả nước đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2, trong đó có 18/63 tỉnh,thành phố đạt mức độ; cả nước đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 1,trong đó có 19/63 tỉnh, thành phố đạt mức độ 2, mức độ 3
-Ban hành và tích cực triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới
Cuối năm 2019, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã phê duyệt 5 bộ sách giáo khoa lớp 1, vớitổng số 46 quyển của 9 môn học và hoạt động giáo dục cho phép sử dụng trong năm học2020-2021 Việc lựa chọn sách giáo khoa được các địa phương thực hiện cơ bản nghiêmtúc, công khai, minh bạch Đây là lần đầu tiên trong lịch sử ngành giáo dục nước ta thựchiện chủ trương này và đã có kết quả bước đầu đáng khích lệ
-Công tác tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục ngày càng thực chất, hiệu quả hơn
Ở các bậc giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, việc đổi mới thi
cử, kiểm tra và đánh giá chất lượng đã được triển khai theo đánh giá chất lượng và kết hợpkết quả quá trình với kết quả cuối năm học Các bậc học sau phổ thông như cao đẳng, đạihọc đã chuyển từ việc tổ chức đào tạo theo niên chế sang cơ chế tích lũy mô đun hoặc tínchỉ Trình độ đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ được kiểm tra, đánh giá chặt chẽ hơn; chất lượngcác luận văn, luận án dần theo tiêu chuẩn quốc tế Thi tốt nghiệp trung học phổ thông,tuyển sinh đại học, cao đẳng được đổi mới bằng đánh giá năng lực, kết hợp kết quả quátrình với kết quả cuối năm học, từ đó giảm áp lực và tốn kém cho xã hội
-Chất lượng giáo dục phổ thông cả đại trà và mũi nhọn đều được nâng lên, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao
Trong báo cáo năm’2020 của Ngân hàng’Thế giới về Vốn nhân lực,’thành phần kết quả giáo dục của Việt Nam đứng thứ 15, tương đương với các nước như Hà Lan, New
Trang 16Zealand, Thụy Điển Nhiều chỉ’số được’đánh giá cao trong khu vực của giáo dục và đàotạo Việt Nam như: tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành chương trình tiểu học sau 5 năm đạt92,08%, đứng trong top đầu của khối ASEAN; kết quả Chương trình Đánh giá kết quả họctập của học sinh tiểu học các nước Đông Nam Á (SEA PLM) năm 2019 cho thấy chấtlượng giáo dục tiểu học của Việt Nam đứng vào top đầu của các nước ASEAN Trong cácđợt đánh giá PISA, Việt Nam có kết quả vượt trội so với trung bình của các nước trongkhối OECD trong khi giáo dục có mức đầu tư thấp hơn hẳn Trong những năm vừa qua,kết quả thi Olympic của học sinh Việt Nam có bước tiến bộ vượt bậc với 49 huy chươngVàng trong giai đoạn 2016-2020 so với 27 huy chương Vàng trong giai đoạn 2011-2015;nhiều học sinh Việt Nam đạt những kết quả cao nhất ở các nội dung thi.
-Tự chủ đại học được đẩy mạnh, chất lượng đào tạo đại học có nhiều chuyển biến
tích cực
Nếu như trước đây chỉ có hai đại học quốc gia được giao quyền tự chủ cao, thì từnăm 2014 đã có 23 cơ sở giáo dục đại học được thí điểm thực hiện tự chủ tương đối toàndiện theo Nghị quyết 77 của Chính phủ Vào năm 2019, hệ thống giáo dục đại học ViệtNam xếp thứ 68/196 quốc gia trên thế giới, tăng lên 12 bậc so với năm 2018 Và lần đầutiên, Việt Nam có 4 cơ sở giáo dục đại học được vào top 1.000 trường đại học tốt nhất thếgiới; có 11 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam nằm trong danh sách 500 trường đại học hàngđầu Châu Á
-Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên có nhiều chuyển biến tích cực
Những nội dung giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng sống được chú trọng thựchiện trong Chương trình giáo dục phổ thông mới thông qua tất cả các môn học, hoạt độnggiáo dục
-Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và tích cực đẩy mạnh chuyển đổi số trong ngành giáo dục