1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN HAY NHẤT) tiếp cận bài thơ tràng giang của huy cận từ điểm nhìn không gian nghệ thuật

23 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiếp cận bài thơ Tràng Giang của Huy Cận từ điểm nhìn không gian nghệ thuật
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Nghiên cứu đề xuất
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 32,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lấy cảm hứng từ vũ trụ và thiên nhiên, thơHuy Cận là cõi bao la trong nỗi buồn mênh mang, là sự cảm nhận thân phận bé nhỏ cô độc của con người trước vũ trụ, là cái hữu hạn đời người trướ

Trang 1

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

1.1.1 Huy Cận là nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới 1932 – 1945

Trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” nhà phê bình Hoài Thanh đã viết

rằng: “Đời chúng ta nằm trong vòng chứ Tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu nhưng càng đi càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu liêu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận” Nhận xét của

Hoài Thanh đã khái quát đặc trưng cơ bản, nét đặc trưng đã hình thành phong cáchthơ Huy Cận – Nỗi buồn ảo não Nỗi buồn ấy Huy Cận gửi cả vào không gian NếuXuân Diệu là nhà thơ luôn nhạy cảm với thời gian thì Huy Cận là nhà thơ củakhông gian Không gian nghệ thuật thơ Huy Cận là cả một thế giới bên trong sâulắng, bàng bạc mông mênh cảm xúc Lấy cảm hứng từ vũ trụ và thiên nhiên, thơHuy Cận là cõi bao la trong nỗi buồn mênh mang, là sự cảm nhận thân phận bé nhỏ

cô độc của con người trước vũ trụ, là cái hữu hạn đời người trước vô tận của đấttrời…

Đi tìm những nét đặc trưng trong thi pháp nghệ thuật của Huy Cận, thế giớinội tâm sâu lắng qua hình ảnh của không gian là hướng tiếp cận đúng đắn, sẽ giải

mã được những vấn đề cốt lõi trong thơ Huy Cận Không gian trong thơ Huy Cậnhiện hữu như: Dòng sông, bầu trời, con đường, biển cả… Song tất cả cũng để toátlên nỗi buồn thiên cổ, nỗi buồn như từ thuở con người cảm nhận được kiếp người,cảm nhận cái tôi bé nhỏ của một linh hồn lạc loài chấp chới Phải đến sau Cáchmạng tháng Tám, cuộc sống mới đã thổi vào hồn thơ Huy Cận một nguồn gió mớilàm thay đổi điểm nhìn, cách nhìn của nhà thơ Vẫn bút pháp tài hoa lãng mạn, vẫncảm hứng về vũ trụ nhưng hồn thơ thi nhân căng tràn nhựa sống, đầy ắp niềm tin

“Trời mỗi ngày lại sáng” Điểm nhìn đã thay đổi tất yếu tứ thơ cũng thay đổi, hình

Trang 2

tượng thiên nhiên, vũ trụ cũng thay đổi và tạo nên thông điệp mới về con người,cuộc sống.

1.1.2 Bắt đầu từ những vần thơ trong tập Lửa thiêng, không gian nghệ thuật của Huy Cận thường gắn liền với những dòng sông mênh mông nước: “Nắng đã xế

về bên xứ bạn/ Chiều mưa trên bãi, nước sông đầy” (Vạn lý tình) Sông nước cứ

dềnh lên, mênh mông không tìm thấy đâu là bến bờ Đó chính là dòng cảm xúc

Không gian nghệ thuật của nhà thơ như kéo dài vô tận: “Sóng gợn tràng giang

buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song/ Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng” (Tràng giang) Giữa cái mênh mông của

sông dài trời rộng, một con thuyền trôi xuôi, một cành củi khô lạc giữa dòng, đó làbiểu tượng thân phận con người bơ vơ giữa dòng đời, giữa thiên nhiên Cái cảmgiác cô đơn của con người trong thơ Huy Cận không chỉ đặt trong không gian bachiều mênh mông bát ngát mà còn có cả chiều thứ tư: Chiều thời gian vô tận (sónggợn tràng giang), đó là nỗi buồn nhân thế từ ngàn xưa vọng về theo cơn sóng gợn

để lay động tâm thức nhà thơ Không gian vô định, thời gian vô tận chỉ con người

nhỏ bé hữu hạn Giáo sư Phan Cự Đệ đã gọi đó là “Cái buồn trong cuộc đời thực

thành những dòng lệ trong văn chương”.

1.1.3 Theo quan niệm mỹ học của các nhà thơ mới, cái đẹp luôn gắn với cáibuồn, cái buồn trong Tràng giang cứ chất chồng tầng tầng lớp lớp, cứ luôn hiện hữunhư từng cơn sóng gợn mặt nước sông dài, và thiên nhiên được cá thể hóa thành

“Củi một cành khô” lạc giữa dòng trôi vô định, thành những cánh bèo dật dờ nước

cuốn: “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng/ Mênh mông không một chuyến đò ngang/

Không cầu gợi chút niềm thân mật/ Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” (Tràng giang).

Thân phận bọt bèo, trôi về đâu? Không gian với tính ước lệ tượng trưng quahình ảnh những cánh bèo trôi Nhà thơ mang cả nỗi buồn thời thế, mang cả tâmtrạng cô độc trong thế giới nội tâm sâu thẳm trong không gian hiu quạnh Khôngmột con đò, không một chiếc cầu, không chợ, không khói chiều, chỉ có thi nhân cô

Trang 3

độc dưới bóng chiều lặng ngắm những cánh bèo cứ lặng lẽ nối tiếp nhau phiêu dạtqua bờ xanh bãi vàng hiu hắt để nỗi buồn cứ dợn lên cứ lan tỏa thấm sâu nỗi nhớquê nhà của thân phận lạc loài.

Không gian bên ngoài đi vào thơ Huy Cận thành thế giới nội tâm, nhà thơ

thường chọn những khoảng cách vô tận mang tính đối lập: “Nắng xuống trời lên

sâu chót vót/ Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” (Tràng giang); “Lên bề cao hay đi xuống bề sâu?/ Không biết nữa - Có chút gì làm ngợp” (Đi giữa đường thơm);

“Nắng đã xế về bên xứ bạn/ Chiều mưa trên bãi, nước sông đầy” (Vạn lý tình).

Không có sự giao thoa, chỉ có khoảng cách mưa nắng, dài rộng, lên xuống, cao - sâu… Ngay cả trong lời tự tình tuyệt đẹp của Ngậm ngùi, không gian

-cũng bị chia cắt trên -cũng một bãi sông: “Nắng chia nửa bãi chiều rồi/ Vườn hoang

trinh nữ xếp đôi lá rầu” (Huy Cận).

Đó chính là nỗi cô đơn giằng xé đến tột cùng Nếu như Xuân Diệu: “Hôm

nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”, thì Huy Cận lại mang

đến một trường liên tưởng rất lạ tạo cho người đọc một cảm giác không gian như

đè nén lên tâm can để con người có thể cân đo không gian trong thoáng mơ hồ:

“Tai nương giọt nước mái nhà/ ghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn” (Buồn đêm

mưa) Cái buồn vô cớ mà vẫn cứ buồn, chừng như cái buồn ấy cứ chực chờ mộtngoại cảnh nào đó có tác động hay không thì vẫn tuôn tràn Những giọt mưa lànhững giọt buồn tích tụ, lắng đọng trong cảm giác lả tả mơ hồ của cõi vô thức

1.1.4 Không gian nghệ thuật luôn có ranh giới với không gian vật chất bênngoài, nó là thế giới tinh thần là điểm nhìn của nhà thơ Huy Cận chọn không gian

của buổi chiều trong Ngậm ngùi: “Tay anh em hãy tựa đầu/ Cho anh nghe nặng

trái sầu rụng rơi”…

Trong tập thơ Lửa thiêng, Huy Cận không vẽ nên những bức tranh hoành

tráng của thiên nhiên, không tô vẽ sắc màu rực rỡ mà chủ yếu là sắc màu tâmtưởng, bàng bạc, đìu hiu heo hút của ngôi làng vùng sơn cước, là tiếng thở dài, tủi

Trang 4

nhục của người dân mất nước, là tâm trạng cô đơn đến tột cùng của con ngườitrước vũ trụ…

Và có lẽ phải đến cuối những thập niên 50 của thế kỷ 20, tâm hồn thơ Huy

Cận mới dạt dào nhựa sống thời đại: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa/ Sóng đã

cài then đêm sập cửa/ Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi/ Câu hát căng buồm cùng gió khơi” (Đoàn thuyền đánh cá).

Không là “Nắng chia nửa bãi”, không là “Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư”

mà là một bầu trời lồng lộng cao rộng in ráng đỏ xuống mặt biển bao la, là nhịpđiệu cuộc sống mạnh mẽ, tấp nập, mặc cho bóng đêm đổ ập vào Sóng cồn lên nhốtánh sáng bằng động tác sập cửa nhanh mạnh, dứt khoát Bóng đêm phủ trùm nhưng

con người không bơ vơ, rợn ngợp mà đầy ắp niềm lạc quan yêu đời: “Thuyền ta lái

gió với buồm trăng/ Lướt giữa mây cao với biển bằng” (Đoàn thuyền đánh cá).

Đó là cách đặt con người ngang tầm vũ trụ, con thuyền là gạch nối để liênkết trời và biển Nhà thơ khắc tạc không gian đầy sắc màu: Lấp lánh của cá songgiữa ánh trăng vàng chóe rồi vẩy bạc đuôi vàng, rạng đông… Đó là những màutươi sáng của cuộc sống ấm no, của hạnh phúc Tầm thước con người trở nên rộnglớn, bài thơ là khúc tráng ca về lao động, về tình yêu thiên nhiên, cuộc sống

1.1.5 Tràng giang là điển hình cho tư duy không gian đầy “khắc khoải” của

Huy Cận, là những gì tinh tuý nhất của “Lửa thiêng” Nhà phê bình Đỗ Lai Thuý cho rằng Huy Cận là nhà thơ của “sự khắc khoải không gian” “Tràng giang là một

bài thơ về không gian, chứa đầy không gian” Nhà thơ mô tả cái mênh mông của

không gian bằng những vật thể nhỏ như một cành củi, cồn nhỏ lơ thơ, những đám

bèo dạt trên mặt nước bởi lẽ, chúng dễ chuyên chở cảm giác cô đơn, rợn ngợp

của con người

Đề tài “Tiếp cận bài thơ Tràng giang của Huy Cận từ góc nhìn không

gian nghệ thuật” sẽ đem lại cái nhìn cụ thể, đa chiều, tạo hứng thú cho các em lĩnh

hội tác phẩm một cách sâu sắc, trọn vẹn

1.2 Mục đích nghiên cứu

Trang 5

Đề tài này đi sâu vào hướng tiếp cận văn bản thơ trữ tình từ góc nhìn thipháp học Xuất phát từ thực tế dạy văn bản văn học hiện nay, người dạy chỉ địnhhướng học sinh tiếp nhận theo phương pháp truyền thống: tìm hiểu tác giả, chủ đề

tư tưởng của tác phẩm, phân tích nội dung, những biểu hiện nghệ thuật ở các khổthơ, bài thơ… Điều đó dẫn đến cách dạy – học nặng tính công thức, đơn điệu,nhàm chán Giờ dạy - học thơ trữ tình nặng tính thao tác, thiếu chiều sâu cho nhữngtìm tòi, trải nghiệm, rung cảm nghệ thuật Văn bản văn học nói chung, văn bản thơtrữ tình nói riêng có tính mở, đa ngôn, đa nghĩa Người dạy có thể định hướng họcsinh cách tiếp cận nhiều chiều, trong đó tiếp cận từ góc nhìn thi pháp - về khônggian, thời gian nghệ thuật sẽ giúp học sinh có cái nhìn sâu sắc, đa chiều từ đó khơidậy ở học sinh những rung cảm thẩm mĩ, đi tới tận sâu thẳm những điều ẩn kín ởchủ thể trữ tình

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài này hướng đến nghiên cứu những vấn đề cụ thể sau đây:

- Không gian trong thơ Huy Cận nói chung, không gian nghệ thuật trong bài thơ Tràng Giang:

- Không gian thiên nhiên quê hương, đất nước – không gian của cái Tuyệt đích, Vô cùng

- Không gian ứng chiếu, giao thoa tâm tình giữa chủ thể và ngoại giới.

- Không gian mang dấu ấn thế giới quan phương Đông – một chỉnh thể thống nhất củanhững mặt đối lập

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết

- Phương pháp khảo sát thực tế, thu thập thông tin

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

Trang 6

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề

Tiếp cận tác phẩm văn chương dưới góc nhìn thi pháp học là hướng nghiêncứu được các nhà khoa học quan tâm Trong đó, các vấn đề cơ bản, nổi bật nhưđiểm nhìn nghệ thuật, kết cấu trần thuật, giọng điệu, không gian, thời gian … làchìa khoá giúp giải mã thế giới nghệ thuật của tác phẩm Đối với thơ ca, tiếp cậndưới góc nhìn này lại càng khả dĩ, bởi sẽ soi sáng nhiều vấn đề quan trọng khingười dạy, người học bước vào khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm thơ ca

Bàn về không gian nghệ thuật trong tác phẩm trữ tình, Giáo sư Trần Đình Sử

cho rằng: “Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận thế giới và con người thì thời gian,

không gian chính là hình thức để con người cảm nhận thế giới và con người” Mọi

sự vật, hiện tượng đều được gắn với hệ tọa độ không – thời gian xác định, nênnhững cảm nhận của con người về thế giới đều bắt đầu từ sự đổi thay của khônggian, thời gian Và từ sự đổi thay của không gian – thời gian, con người nhận ra sựđổi thay trong chính mình

Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao thì: “Thời gian

và không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phản ánh trong tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật một mặt thuộc phương diện đề tài, mặt khác thể hiện nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức tác phẩm của từng tác giả, từng thể loại, từng hệ thống nghệ thuật”

Ở đề tài này, người viết sẽ trình bày về hướng tiếp cận không gian nghệ thuật trongbài thơ Tràng giang Bởi vì với Huy Cận, không gian trở thành mọi thước đo của tư tưởng, tình cảm, vớinhững biểu hiện từ hình thức cho đến nội dung biểu đạt của tác phẩm

Trang 7

Để hiểu đầy đủ, sâu sắc hơn về không gian nghệ thuật trong Tràng giang củaHuy Cận, người viết xin viện dẫn ra đây một số vấn đề lí luận về không gian,không gian nghệ thuật, những đặc điểm của không gian nghệ thuật để làm điểm tựacho phần trình bày Không gian nghệ thuật trong bài thơ Tràng giang của mình:

2.1.1.Khái niệm không gian

Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê đã cắt nghĩa, lí giải về khônggian như sau: “Không gian là khoảng không bao la trùm lên tất cả sự vật hiệntượng xung quanh đời sống con người”

Không gian chính là môi trường chúng ta đang sống với sự tồn tại của các sựvật Không gian chính là hình thức tồn tại của vật chất với những thuộc tính nhưcùng tồn tại và tách biệt, có chiều kích và kết cấu

2.1.2 Khái niệm không gian nghệ thuật

Để hiểu được khái niệm không gian nghệ thuật một cách cơ bản và khái quátnhất, tôi xin được viện dẫn cách hiểu của Lê Bá Hán trong cuốn Từ điển thuật ngữ

văn học: “Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật

thể hiện tính chỉnh thể của nó”.

Giáo sư Trần Đình Sử lí giải thêm: “Không gian nghệ thuật là hình thức tồn

tại cùng thế giới nghệ thuật” Ông còn khẳng định một cách hết sức chắc chắn:

“Không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có một nhân vật

nào không nào không có một nền cảnh nào đó”, và “không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống”

Như vậy, không gian nghệ thuật là phương thức tồn tại và triển khai của thếgiới nghệ thuật Không gian nghệ thuật trở thành phương tiện chiếm lĩnh đời sống,

“mang ý nghĩa biểu tượng nghệ thuật” Và sự miêu tả, trần thuật bên trong tác

phẩm văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, ta xác định được vị trí củachủ thể trong không – thời gian, thể hiện ở phương hướng nhìn, diễn ra trong mộttrường nhìn nhất định Căn cứ vào điểm nhìn mà xác định được vị trí của chủ thể

Trang 8

trong không – thời gian, thể hiện ở phương hướng nhìn, khoảng cách nhìn, ở đặcđiểm của khách thể được nhìn Điểm nhìn không gian được thể hiện qua các từ chỉphương vị (phương hướng, vị trí), để tạo thành “viễn cảnh nghệ thuật”.

Tóm lại, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệthuật Không gian nghệ không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm vănhọc, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy những quan niệm về thế giới,chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở kháchquan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượngnghệ thuật Vì vậy không thể tách hình tượng ra khỏi không gian mà nó tồn tại

Lửa thiêng của Huy Cận nói chung và bài thơ Tràng giang nói riêng đã mangđầy đủ những đặc điểm thi pháp của Thơ Mới, trong đó đặc sắc nghệ thuật đã hìnhthành phong cách thơ độc đáo của Huy Cận là không gian nghệ thuật Không giantrong Tràng giang là không gian vũ trụ bao la, bất tận với trời rộng, sông dài, làkhông gian cõi lòng của các tôi trữ tình nhỏ bé, lạc loài, cô đơn, bơ vơ - nỗi niềmtâm trạng con người khi đối diện trước không gian; bộc lộ nỗi “khắc khoải không

gian” của hồn thơ Huy Cận Bàn về thơ Huy Cận, Xuân Diệu cho rằng: "Huy Cận

như không ở trong thời gian mà chỉ ở trong không gian" Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam đã nhận xét vô cùng tinh tế, chính xác: "Người thấy lạc loài giữa cái mênh mông của không gian, cái xa vắng của thời gian, lời thơ vì thế mà buồn rười rượi".

2.2.Thực trạng của vấn đề

2.2.1 Như một thói quen, người giáo viên dạy văn thường hay đứng ở mộtgóc nhìn để lí giải tác phẩm nên bỏ qua nhiều khía cạnh khác quan trọng, trong đó

có góc nhìn thi pháp học Tiếp nhận văn học từ góc độ Thi pháp học là quan tâm

đến vấn đề không gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật là phương thức tồn tạicủa thế giới nghệ thuật Với tư cách là phương thức tồn tại của thế giới nghệ thuật,không gian có thể biểu hiện ở các phạm trù như cao – thấp, rộng – hẹp, trong –

Trang 9

ngoài, thoáng đãng – tù túng hoặc gắn với các địa điểm cụ thể như núi non, sôngbiển, nhà cửa, con đường, bầu trời…

Khi tìm hiểu không gian nghệ thuật, bên cạnh việc chỉ ra đặc điểm của thếgiới nghệ thuật được tái hiện, còn cần chỉ ra quan niệm của nhà văn về không gian

Chỉ ra được quan niệm của nhà văn về không gian cũng chính là chỉ ra được cảmnhận của nhà văn về cuộc sống, thấy được chiều sâu trong tư tưởng nghệ thuật củanhà văn

2.2.2 Khi dạy bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận, người dạy thường tiếpcận từ góc độ tác giả, rồi phân tích từng khổ thơ với các biểu hiện nội dung và nghệthuật Hướng tiếp cận ấy mang tính công thức, tuy không sai nhưng lại thiếu chiềusâu, không thể hiện được năng lực định hướng, tổ chức của người dạy và năng lựckhám phá, sáng tạo của người học Tiết học nặng về thuyết trình tác giả, các bướctiếp cận tác phẩm công thức, đơn điệu, thiếu tính sáng tạo Giờ học trở nên nhàmchán

2.2.3 Từ thực trạng còn nhiều bất cập ấy, việc tìm tòi một hướng tiếp cậnmới khi dạy tác phẩm “Tràng giang” là điều trăn trở của không ít thầy cô dạy văn

Qua thực tiễn giảng dạy, chúng tôi nhận thấy tiếp cận tác phẩm này dưới góc nhìnthi pháp học, nhìn bài thơ Tràng giang như một kiến trúc về không gian, với nhiềukiểu kết cấu không gian khác nhau Không gian nghệ thuật như là chìa khoá giúpngười học bước vào thế giới nghệ thuật của nhà thơ với những quan niệm thẩm mĩ,

tư tưởng, tình cảm sâu sắc, mới mẻ Đây là hướng đi cần thiết, sẽ khơi nguồn cảmhứng mới cho cả người dạy và người học tiếp nhận tác phẩm thêm sâu sắc, trọn vẹnhơn

2.3 Các giải pháp giải quyết vấn đề 2.3.1 Không gian thiên nhiên quê hương, đất nước – không gian của cái tuyệt đích, vô cùng.

Trước hết, dạy bài Trang giang tôi khái quát cho học sinh: Tràng giang trước

hết là một bức họa với chất liệu ngôn từ nghệ thuật Nó họa lại một không gian

Trang 10

sông nước mênh mông, rộng lớn với bốn chiều kích dài – rộng – cao – sâu Ở chiềukích nào cũng được đẩy lên tới cái tuyệt đích, vô cùng, hạt nhân trung tâm là cái tôitrữ tình luôn khát khao chiếm lĩnh, bao trọn.

Bài thơ “được sông Hồng gợi tứ” Vậy thì chí ít, dòng sông trên trang thơ

Huy Cận sẽ có dáng hình của sông trên bất cứ mảnh đất nào của nước ta, chứkhông nhất thiết phải là sông Hồng Thế nên, Huy Cận định danh cho không gian

ấy là Tràng giang Cái tên đẩy nhẹ cánh cửa ngôn từ, hé mở một không gian có gì

như cổ kính, trang trọng lắm Điệp âm “ang” giao thoa về ngữ âm, tạo hình trongtrí tưởng tượng người đọc về một dòng sống dài vô tận, rộng mênh mang Dòng

Tràng giang đã được cảm nhận từ hai thước đo: thước đo địa lí và thước đo lịch sử.

Tràng giang không chỉ vô thủy vô chung dưới góc nhìn của địa lí mà trầm tích

trong dòng chảy ấy là bề dày lịch sử – văn hóa Có một dòng sông chảy song hànhcùng dòng chảy miên viễn của thời gian vũ trụ, khởi nguyên từ thượng nguồn quákhứ, lặng lờ trong thực tại và miên man tới tận tương lai vô cực Một sự bề thếđáng tự hào của dòng sông đất nước, quê hương mình

Trong bài thơ, Huy Cận cứ nhắc mãi về cái ấn tượng “trời rộng”, “sông dài” từ lời đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đến tận câu thơ cuối khổ

thứ hai: “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” Không gian được mở ra ở tầm thấp lẫntầm cao: trên là “trời rộng” thênh thang, dưới là “dòng dài” miệt mài chảy trôi, kéomãi tới tận chân trời Ấn tượng về sự “rộng” “dài” của không gian được tấu lên từdòng thơ đầu của khổ thứ nhất: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” Sóng trênmặt sông chỉ “gơn”, chỉ lăn tăn, miên man không dứt khiến dòng sông mềm nhưmột dải lụa, uốn nhẹ thân mình trong gió chiều miên man Từ láy “điệp điệp” trướcnhất miêu tả động thái của từng lớp sóng sông Từng con sóng nhỏ nối đuôi nhau,kéo nhau hết lớp nọ đến lớp kia đưa nhau đến tận cùng khoảng giới hạn của đườngchân trời xa xăm Nói là giới hạn, chứ biết đường chân trời chẳng qua chỉ là cáigiới hạn tương đối mà con người tự huyễn hoặc để thỏa mãn nhu cầu chiếm lính vũtrụ của mình Không gian thơ được mở ra tới vô cùng

Trang 11

Khi đã hình dung cái tuyệt đích của không gian Tràng giang ở bề “rộng”

“dài”, Huy Cận đẩy không gian bằng chiều kích thứ ba và thứ tư – chiều cao vàchiều sâu Một không bốn chiều được xác lập cũng là khi sự vô biên, tính chất vũ

trụ của Tràng giangvững chãi ở chiếc ngai vàng Tuyệt đích:

“Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

Phê bình hai câu thơ này, PGS.TS Chu Văn Sơn đã thể hiện được khả năng

thẩm bình tuyệt hay, tuyệt khéo của mình: “Câu trên là sự vô biên được mở về

chiều cao Câu dưới là sự vô biên về cả bề rộng và chiều dài Có một khoảng không gian đang giãn nở ra trong cụm từ “nắng xuống trời lên” Hai động từ

ngược hướng “lên” và “xuống” đem lại một cảm giác chuyển động rất rõ rệt Nắng

xuống đến đâu, trời lên đến đó Và nó được hoàn tất bởi cụm từ “sâu chót vót”.”

Trong lời bình của PGS.TS Chu Văn Sơn, ông đã diễn lại bằng văn xuôi cái ýtưởng cấu trúc hình ảnh thơ của Huy Cận Huy Cận đã tưởng tượng nắng như mộtcây sào có khả năng giãn nở hai đầu Một đầu soi chiếu, đâm vào lòng sông, đầukia chống trời lên cao vút Nắng trở thành một thực thể nhị chức năng, mở rộngkhông gian ra ở chiều sâu và tầm cao Sự đẩy căng biên độ không gian tạo nên mộthiệu ứng cộng hưởng bất ngờ “sâu chót vót” “Sâu chót vót” là sáng tạo ngôn từđộc đáo của Huy Cận nhà thơ không dùng từ “cao” mà dùng từ “sâu” vì nó vừa gợi

độ cao, vừa gợi cái hun hút, thăm thẳm của bầu trời hoàng hôn, từ “chót vót” lạicàng làm tăng thêm cái rợn ngợp của khung cảnh

Để rồi đến câu thơ: “Mênh mông không một chuyến đô ngang”, các chiều

kích không gian bị xóa mờ; để rồi, ấn tượng đó gói lại trong một từ láy “mênhmông” Chỉ thế thôi cũng đủ để nói về cái tuyệt đích, vô cùng của không gian

Tràng giang.

Thứ hai, tôi nhấn mạnh cho học sinh hiểu được: Không gian Tràng giang không chỉ rộng dài, cao sâu tuyệt đối, vô cùng mà qua những kí hiệu ngôn từ mà Huy Cận đưa đến độc giả, ta còn nhận ra một Tràng giang hoang vu, vắng lặng

Ngày đăng: 28/11/2022, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Tác giả: Hoài Thanh, Hoài Chân
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2012
2. Nguyễn Đăng Mạnh, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
3. Đỗ Lai Thúy, Mắt thơ, NXB trẻ, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mắt thơ
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2010
4. Lê Quốc Hán (Chủ biên) – Lê Quang Hưng – Chu Văn Sơn, Tinh hoa thơ Mới – suy nghĩ và thẩm bình, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa thơ Mới – suy nghĩ và thẩm bình
Tác giả: Lê Quốc Hán, Lê Quang Hưng, Chu Văn Sơn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
5. Lê Bá Hán – Nguyễn Khắc Phi – Trần Đình Sử (Đồng chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử (Đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục, Hà Nội
Năm: 1992
6. Phương Lựu (Chủ biên), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
7. M. Khrap – chen – cô, Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học
Tác giả: M. Khrap – chen – cô
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1978

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w