Là một huyện còn nhiều khó khăn nhưng cótruyền thống hiếu học, trong những năm qua, Phòng GD&ĐT Nông Cống đã cónhiều chỉ đạo quyết liệt trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, bước đầu đ
Trang 13 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4 Phương pháp nghiên cứu
II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2 Thực trạng kết quả Bồi dưỡng học sinh giỏi ngữ văn 6 trongnhững năm học trước tại Trường THCS Hoàng Sơn
3.2.1 Rèn kĩ năng làm tốt phần đọc – hiểu văn bản
3.2.2 Rèn học sinh một số kĩ năng làm tốt phần Tập làm văn
4 Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm đạt được.
III.PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1.Kết luận.
UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 2I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài.
Danh sĩ Thân Nhân Trung từng nói: “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia” vìthế bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngànhgiáo dục và Đào tạo Nông Cống Là một huyện còn nhiều khó khăn nhưng cótruyền thống hiếu học, trong những năm qua, Phòng GD&ĐT Nông Cống đã cónhiều chỉ đạo quyết liệt trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, bước đầu đã đạtđược những kết quả khởi sắc về chất lượng mũi nhọn cho huyện nhà.Đó là điềuđáng tự hào và là động lực to lớn cho mọi giáo viên trong huyện nhà cố gắng,nỗlực hơn nữa
Cùng với giáo dục huyện nhà,tập thể giáo viên trường THCS Hoàng Sơn
đã nỗ lực hết mình để đạt thành tích trong công tác giảng dạy Để phát huynhững kết quả đã đạt được và không ngừng nâng cao hơn nữa kết quả chấtlượng học sinh mũi nhọn Ngay từ đầu năm học 2020-2021, Trường THCSHoàng Sơn đã xây dựng, triển khai chi tiết kế hoạch ôn thi học sinh giỏi
Là một giáo viên đảm nhận công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn6- môn học không chỉ giúp hình thành ở học sinh năng lực “nghe - nói- đọc -viết” thành thạo mà còn hình thành năng lực thẩm mĩ, tưởng tượng, tư duy, đặcbiệt năng lực lập luận và phản biện góp phần phát triển vốn tri thức căn bản củamột người có văn hóa, hình thành và phát triển con người nhân văn, biết tiếpnhận, cảm thụ, thưởng thức, đánh giá các giá trị cao đẹp trong văn học và cuộcsống Chính vì vậy để lựa chọn được học sinh tham gia bồi dưỡng học sinh giỏivăn không chỉ đòi hỏi phải thông minh có tư duy tốt mà còn phải có năng khiếuvăn chương.Tuy nhiên từ thực tế ôn luyện bồi dưỡng học sinh giỏi của năm họctrước, bản thân Tôi nhận thấy việc lựa chọn đội tuyển ôn luyện môn Ngữ văn 6còn nhiều khó khăn, kết quả đạt được chưa cao
Từ thực tế trên tôi mạnh dạn thực hiện đề tài nghiên cứu: “Những kkinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn 6 ở trường THCS Hoàng Sơn” với hi vọng cùng chia sẻ kinh nghiệm hiểu biết của mình với đồng nghiệp
đồng thời cùng nhau vận dụng vào thực tiễn dạy học để nâng cao chất lượng mũinhọn
2 Mục đích nghiên cứu
- Để vận dụng và áp dụng cho đối tượng học sinh lớp 6 trong trường THCS Hoàng Sơn Nắm được phương pháp, kĩ năng, kiến thức cần thiết khi tham gia
ôn luyện bồi dưỡng học sinh giỏi
- Để Giáo viên ôn luyện đội tuyển văn 6 có thêm những kinh nghiệm, địnhhướng khi bồi dưỡng đội tuyển nhằm góp phần nâng cao chất lượng mũi nhọncủa nhà trường
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Là học sinh lớp 6 trường THCS Hoàng Sơn- Nông Cống
b Phạm vi nghiên cứu
- Bộ môn Ngữ văn 6
- HSG môn Ngữ Văn 6 trường THCS Hoàng Sơn
UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 34 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra, phỏng vấn, tổng kết, rút kinh nghiệm từ kết quả ôn luyện những năm học trước
- Nghiên cứu các tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài
AINỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Cơ sở lí luận:
1.1 Thế nào là một học sinh giỏi Văn?
Theo PGS Đỗ Ngọc Thống khi bàn về học sinh giỏi văn, Ông từng nói:
“Mục tiêu chính của nhà trường phổ thông ở tất cả các cấp của Việt Nam khôngđặt ra vấn đề đào tạo ra những nhà văn, nhà thơ, những nghệ sĩ ngôn từ” Domục đích như trên cho nên đánh giá kết quả học tập môn văn người ta chủ yếutập trung đánh giá năng lực văn học của học sinh Trong tất cả các kì thi, kiểmtra ở môn học này, học sinh chưa bao giờ phải làm một bài thơ hoặc viết mộttruyện ngắn cả mà chủ yếu là phải viết một bài văn theo một yêu cầu nhất địnhnào đó cả về nội dung cũng như kiểu bài trong phạm vi nhà trường Vậy đối vớimột học sinh giỏi văn để viết được một bài văn hay thì cần phải có những yêucầu:
- Có niềm say mê yêu thích văn chương
- Có tư chất, tiếp thu nhanh, có trí nhớ, có khả năng phát hiện vấn đề và
có khả năng sáng tạo
- Có vốn tri thức về tác phẩm văn học phong phú và hệ thống, có sự hiểu biết và con người và xã hội
- Giàu cảm xúc và thường nhạy cảm trước mọi vấn đề của cuộc sống
- Có vốn từ tiếng việt dồi dào
- Nắm chắc các kĩ năng làm bài văn theo các kiểu bài: Tự sự, miêu tả,biểu cảm, nghị luận Dù ở kiểu bài nào học sinh phải bộc lộ cái riêng, sự độcđáo, mới mẻ cách cảm nhận, suy nghĩ, quan điểm của bản thân
1.2 Thế nào là bồi dưỡng học sinh giỏi văn?
Theo giáo trình “Phương pháp dạy học văn” của Đại học Quốc gia Hà Nộithì: “ Bồi dưỡng học sinh giỏi văn hiểu theo nghĩa thông thường tức là giáo viên–người hướng dẫn biết khơi dậy khả năng, năng lực cảm thụ của học sinh trên
cơ sở vốn hiểu biết của học sinh đã có và cao hơn nữa là cung cấp cho các emnhững điểm mới, sâu hơn về văn học mà học sinh chưa có Để từ đó các em vậndụng vào việc làm văn có hiệu quả” Như vậy bồi dưỡng học sinh giỏi văn cónghĩa là công việc bồi dưỡng khả năng, năng lực vốn có của học sinh giúp họcsinh phát huy được năng lực cảm thụ, năng lực viết văn hay để trở thành mộtngười giỏi văn thực thụ
2 Thực trạng kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn 6 trong những năm học trước tại trường THCS Hoàng Sơn
Trang 4Thứ nhất: Học sinh lớp 6 là học sinh đầu cấp, các em phải làm quen với
nhiều môn học và phương pháp học tập khác với ở Tiểu học vì vậy còn rất bỡngỡ cần thời gian để thích nghi
Thứ hai: Theo xu hướng phát triển của xã hội hiện nay, phụ huynh không
muốn con em theo học các môn Xã hội Vì thế ngay từ đầu lớp 6- những học sinhhọc tốt đã được phụ huynh định hướng cho các em tham gia ôn luyện đội tuyển Toán, Tiếng Anh…Chỉ còn lại những em có học lực Trung Bình, hoặc những học sinh bị loại ở những môn khác mới đăng kí thi văn Do vậy việc thành lập đội tuyển việc ôn luyện gặp rất nhiều khó khăn dẫn đến kết quả chưa cao Nếu có giảithì số lượng giải không nhiều và chất lượng giải chưa cao
2.2 Về phía giáo viên:
- Một số giáo viên chưa tìm hiểu nắm bắt được hoàn cảnh gia đình học sinh, chưa động viên khuyến khích các em tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi
- Một số giáo viên chưa xác định đúng nội dung, phương pháp ôn luyện phù hợp với học sinh khá giỏi
- Một số giáo viên chưa thật sự chịu khó, tâm huyết với nghề, Chưa chịu khó tìm tòi, đầu tư tìm hiểu kiến thức mới, đổi mới phương pháp dạy học
2.3 Về phía gia đình học sinh:
- Một số phụ huynh đi làm ăn xa thiếu quan tâm đến việc học của học sinh, công việc giúp gia đình nhiều
- Một số phụ huynh không thiết tha với việc con tham gia bồi dưỡng họcsinh giỏi môn Ngữ Văn, sợ con ảnh hưởng đến kết quả học tập môn Toán, TiếngAnh
3.Giải pháp giải quyết vấn đề : 3.1 Các giải pháp chung:
Từ thực trạng đã nêu trên, bản thân tôi qua nhiều năm trực tiếp ôn luyện đội
tuyển môn ngữ văn 6 Tôi mạnh dạn xin đưa ra một số kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn 6 tại Trường THCS Hoàng Sơn” như sau:
3.1.1 Bước 1: Phát hiện, lựa chọn học sinh tham gia ôn luyện bồi dưỡng hoc sinh giỏi.
Phát hiện, lựa chọn học sinh giỏi văn 6 là công việc khó khăn vì các emvừa bắt đầu làm quen với lượng kiến thức nhiều, phương pháp học tập khác với
ở Tiểu học nhưng lại giữ vai trò vô cùng quan trọng Giữ vai trò nền tảng đặtnền móng cho những năm về sau, đặc biệt là nguồn chính của đội tuyển 9 đểtham gia ki thi chọn học sinh giỏi cấp Tỉnh Lựa chọn học sinh tham gia độituyển thường vào cuối tháng 10 vì vậy giáo viên cần căn cứ vào kết quả học tập
ở Tiểu học những học sinh đạt giải Tiếng Việt lớp 5 trong kì thi giao lưu học
UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 5sinh giỏi cấp huyện, Kết hợp với trong quá trình giảng dạy trực tiếp, giáo viên
có thể phát hiện thêm những em có khả năng từ đó có phương pháp động viêncác em tham gia đội tuyển văn không chuyển sang các môn học khác, khích lệ,kèm cặp các em trong quá trình học tập
Chọn những học sinh phải đảm bảo yêu cầu viết chữ sạch đẹp, chuyên cầnhọc tập, ít nhất phải nắm chắc kiến thức cơ bản, có tinh thần tự giác học tập, họclực từ khá trở lên
Phát hiện lựa chọn học sinh nên tôn trọng sở thích và nguyện vọng củahọc sinh không nên gượng ép, khi các em được ôn luyện theo sở thích các emmới phát huy được năng lực của bản thân
3.1.2 Bước 2: Giáo viên bộ môn cần phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, nhà trường và phụ huynh học sinh.
Giáo viên bộ môn cần phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, nhà trường đểlàm tốt công tác phân luồng học sinh để tránh nhiều môn lựa chọn cùng một em
Hoặc có những môn có những học sinh học tốt nhưng cũng có những môn lạikhông có nguồn nào
Giáo viên bộ môn cần phối hợp với phụ huynh học sinh vì thực tế hiệnnay có những học sinh thích học văn, thích được ôn văn nhưng gia đình lạimuốn cho con thi Toán, Tiếng anh Có những gia đình không muốn các em đi ôn
vì sợ “học nhiều” không còn thời gian để học các môn khác Trước thực tế ấygiáo viên dạy Văn cần phối hợp với giáo viên các bộ môn khác nắm bắt đượclực học của các em, nếu lực học các môn khác kém hơn môn văn, kém hơnnhững bạn khác thì nên trao đổi với gia đình học sinh tạo điều kiện cho các emphát huy khả nằng, sở thích của mình Giáo viên bộ môn cũng nên trao đổi,thuyết phục để phụ huynh nhận thức được việc được ôn luyện là có thêm kiếnthức, học tốt một môn các em sẽ biết có phương pháp học tập tốt các môn khác
để phụ huynh có thể yên tâm, tin tưởng về việc học của con em mình
Thường xuyên liên lạc, trao đổi về tình hình học tập của học sinh để phụhuynh ngày càng tin tưởng con em mình được học tập, được giáo dục trong mộtmôi trường học tập tốt
3.1.3 Bước 3: Không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
Muốn có trò giỏi thì phải có thầy giỏi, Người thầy giỏi là người không chỉ
có nhân cách tốt mà còn phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, có phươngpháp truyền thụ thích hợp, phù hợp với mọi đối tượng học sinh Để làm đượcđiều đó người thầy phải luôn có ý thức tự rèn luyện, tích lũy kiến thức kinhnghiệm, trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ Nếu như trước đây dạy học vănthường tạo suy nghĩ thầy đọc- trò chép, hay học văn chỉ cần học thuộc kiến thức,học sinh học tập một cách thụ động thì hiện nay theo yêu cầu đổi mới giáo dục,Dạy văn là dạy cho các em những năng lực, trí tuệ, tình cảm, nhân cách thôngqua “Nghe, nói, đọc, viết”, để một giờ dạy văn đạt kết quả tốt đòi hỏi người giáoviên không ngừng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực gây đượchứng thú với học sinh giúp học sinh hiểu bài, nẵm vững kiến thức Từ đó mới
UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 6khơi gợi được được tình cảm yêu thích môn học, khơi gợi được khả năng nhậnthức và tư duy từ đó mới hứng thú tham gia vào việc bồi dưỡng học sinh giỏi.
Thường xuyên tự học, tham khảo kiến thức trên mạng nẵm vững cấu trúc
đề thi, kiến thức trọng tâm để từ đó có những vận dụng phù hợp trong đổi mớikiểm tra đánh giá chính xác phù hợp có thể phân loại được đối tượng học sinhchính xác
3.1.4 Bước 4: Xây dựng kế hoạch chương trình bồi dưỡng
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là cả một quá trình, vậy nên ngay từ đầunăm học giáo viên cần xây dựng chương trình, kế hoạch bồi dưỡng phù hợp
Trang 7UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
học Tháng 3
( Tiết 30)thông minh, Ếch ngồi đáy - Hệ thống lại nội dung nghệ giếng, treo
biển, Thầy bói thuật của văn bảnxem voi
2. Truyện kí hiện đại: Bài - Hệ thống lại nội dung nghệ
học đường đời đầu tiên, Bức thuật của văn bảntranh của em gái tôi, vượt
thác, sông nước cà mau, Cô
tô, Tre Việt Nam
3. Thơ hiện đại: Lượm, - Hệ thống lại nội dung nghệ
luyện đề Tháng 4
20 Tiết 3.1.5 Bước 5: Tổ chức thi loại lựa chọn đội tuyển.
Giáo viên trong quá trình ôn luyện đã đánh giá được mặt mạnh, mặt yếucủa từng học sinh Sau một quá trình ôn luyện cần cho học sinh thi loại chọn ranhững em có đủ khả năng ôn thi tiếp, việc thi loại giúp loại những em không đủnăng lực như vậy có thể tập trung thời gian ôn luyện cho những em có năng lực,đồng thời việc thi loại sẽ là động lực để các em phải cố gắng, phấn đấu nhiềuhơn nữa Việc ôn luyện nên tổ chức sau một quá trình ôn luyện, tuy nhiên không
để gần đến ngày thi mới chọn mà nên sàng lọc trước hai tháng khi kì thi họcsinh giỏi huyện bắt đầu
3.2 Giải pháp cụ thể
Trang 8UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 9Tuy có những biện pháp ôn luyện chung như trên, song trong quá trình vậndụng giảng dạy giáo viên cũng nên có những giải pháp thích hợp cho từng đơn
vị kiến thức và tùy vào khả năng tiếp thu của từng học sinh, mặt mạnh mặt yếucủa từng em để làm sao các em ôn luyện có kết quả tốt nhất Điều quan trọngngười giáo viên phải giúp học sinh nắm được cấu trúc, kĩ năng, kiến thức cầnthiết để làm bài tốt đáp ứng được yêu cầu của một bài thi học sinh giỏi Dướiđây là những giải pháp cụ thể của riêng tôi áp dụng trong thực tế ôn luyện
3.2.1Bước 1: Rèn kĩ năng làm làm tốt phần Đọc - Hiểu văn bản.
Đề văn theo hướng đổi mới có 2 phần: đọc hiểu và làm văn Đối với phầnđọc - hiểu để đạt được điểm cao các em cần nắm được những yêu cầu sau:
b.Về nội dung:
Trả lời đúng với yêu cầu của câu hỏi, sát nghĩa sâu và mang tính khoahọc, không được hỏi một đằng trả lời một nẻo, hỏi hai vấn đề nhưng chỉ trả lờimột vấn đề, cũng không trả lời câu này chưa xong lại sang câu khác
Để đáp ứng được các yêu cầu trên, giáo viên ôn luyện nên rèn học sinh một số kĩ năng cụ thể như sau:
b.1 Kĩ năng đọc, nhận xét, phân tích đề: Các đề thi học sinh giỏi cấp huyện
đều sử dụng văn bản ngoài chương trình sách giáo khoa nhưng lại đề cập đếnvấn đề vô cùng gần gũi, thiết thực và mang tính giáo dục cao – vấn đề nghị lưc,niềm tin, niềm đam mê, khám phá bản thân Câu hỏi thường theo mức độ nhậnbiết, thông hiểu và vận dụng
b.2 Kĩ năng, phương pháp làm bài:
Phần đọc- hiểu một đề học sinh giỏi thường có 4 câu hỏi với các mức độ nhận biết, thông hiểu và vận dụng
b.2.1 Câu hỏi mức độ nhận biết:
- Với dạng câu hỏi này giáo viên cần giúp học sinh ghi nhớ các từ khóa “ Chỉ
ra”, “Nêu” để trả lời câu hỏi này cần nắm vững hệ thống kiến thức phần cơ bản:
Từ loại; câu; các biện pháp tu từ; phương thức biểu đạt; thể thơ; thể loại cụ thểnhư sau:
+ Xác định thể thơ bằng cách đếm số chữ trong từng câu thơ Thông thường trong bài người ra đề sẽ cho vào các thể thơ bốn chữ/ năm chữ/ bảy chữ/ lục bát, tự do.
VD:? Xác định thể thơ của đoạn trích trên? Bông cúc là
Trang 10Trái thị, trái hồng là nắng của cây
( Lê Hồng Thiện)
Đáp án: Lục bát+ Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích Cần lưu ý một số dấu hiệu:
chính, chủ yếu, các, những, một, một số…
VD: Chỉ ra PTBĐ chính thì đáp án chỉ có một, và phải chính xác (? Xác định
phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ?)
Dù giáp mặt cùng biển rộngCửa sông chẳng dứt cội nguồn
Lá xanh mỗi lần trôi xuốngBỗng…nhớ một vùng núi non…
( Cửa sông- Quang Huy)
Đáp án: biểu cảm
VD: Chỉ ra các PTBĐ thì đáp án phải từ hai trở lên, chính xác (? Xác định các
phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trích trên?)
Mẹ ta không có yếm đào
……….
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru.
(Trích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy)
Đáp án: Tự sự, miêu tả, biểu cảm
+ Xác định từ loại, cụm từ cần nắm được kiến thức Tiếng Việt 6 ( Từ láy, từghép, danh từ, động từ, tính từ, số từ, phó từ, lượng từ, chỉ từ; cụm danh từ, cụmđộng từ, cụm tính từ)
VD: Xác định các danh từ có trong hai câu thơ:
Quê hương mỗi người đều
có Vừa khi mở mắt chào đời Đáp án:Quê hương, Người, mắt, đời
+ Xác định nghĩa của từ ( nghĩa gốc, nghĩa chuyển), các biện pháp tu từ ( so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ)
- Với các dạng câu hỏi có yêu cầu “căn cứ vào văn bản”, “theo tác giả”… ví dụnhư dựa vào văn bản xác định những hình ảnh chi tiết trong đoạn trích giáo viênhướng dẫn học sinh nắm bắt các từ ngữ, hình ảnh, câu chủ đề, ý chính trong vănbản để xác định câu trả lời
b.2.2Câu hỏi mức độ Thông hiểu:
- Xác định được nội dung chính của đoạn trích tức là dụng ý cuối cùng của tác
giả
- Xác định giá trị của biện pháp nghệ thuật trong đoạn trích Cần chỉ rõ tác dụng
về nội dung (biện pháp đó giúp làm rõ nội dung như thế nào), và về hình thức(làm cho câu văn, câu thơ thêm sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh, tạo sự cân đốinhịp nhàng…)
VD: Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ có trong hai câu thơ sau:
“ Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời”.
UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 11Đáp án: +Ẩn dụ: “giấc tròn”-> Cách nói ẩn dụ “giấc tròn” không phải chỉ là giấcngủ của con mà con mang ý nghĩa cuộc đời con luôn có mẹ theo sát bên nângbước con đi, che chở cho con, dành tất thảy yêu thương.
+ So sánh: “Mẹ là ngọn gió”-> đây là hình ảnh so sánh đặc sắc về mẹ: “mẹ làngọn gió”- ngọn gió mát lành làm dịu êm những vất vả trên đường, ngọn gió bền
bỉ theo con suốt cuộc đời Hình ảnh thơ giản dị nhưng giúp ta thấy được tình yêuthương lớn lao, sự hi sinh thầm lặng, bền bỉ suốt cuộc đời mẹ đối với con
- Câu hỏi yêu cầu hiểu nghĩa của từ, câu: Vận dụng thao tác giải thích để giải
quyết (là gì?), với một câu dài, cần xem xét có bao nhiêu vế, hiểu lần lượt từng
vế, sau đó mới khái quát nghĩa cả câu
VD: Em hiểu như thế nào về nghĩa của hai câu:
“Đất ấp ôm cho muôn hạt nảy mầm Những chồi non tự vươn lên mà sống”
+ Đất là điều kiện, là môi trường sống chung cho mọi hạt giống
+ Những chồi non phải tự mình vươn lên, sống khỏe mạnh hay yếu ớt đều là do
tự mình quyết định
→ Nghĩa của hai câu: Muốn nói tới con người chúng ta ai sinh ra cũng có điềukiện được sống, còn sống như thế nào thì tự mình phải quyét định, phải nỗ lựcvươn lên để khẳng định bản thân, sống có ích
- Nếu gặp câu hỏi “Theo tác giả….”: Câu trả lời sẽ dựa trên ba căn cứ cơ bản
sau:
+ Thứ nhất: Câu trả lời sẽ nằm ngay trên văn bản
+ Căn cứ vào nghĩa của câu mà tác giả cho rằng…
+ Thứ hai: Thứ ba: Căn cứ vào sự hiểu biết của chúng ta
VD: Cho đoạn trích “ Cô ơi! Cô không phải người nông dân một nắng hai
sương làm ra hạt thóc, nhưng cô dạy con phải biết quý bát cơm chan chứa mồ hôi Cô không phải người công nhân kĩ sư kiến thiết mọi nơi, nhưng cô xây cho đời một tương lai phía trước Cha mẹ là người cho con cuộc sống, bạn bè là những chỗ dựa niềm tin, thử thách rồi những thất bại đã cho con trưởng thành hơn thì chính cô là người dạy con vượt qua khó khăn vấp ngã trên đường đời Chính cô là người nâng niu, uốn nắn cho con từng lời ăn tiếng nói, từng cử chỉ dáng đi Con lớn dần trong vòng tay yêu thương của cô mà không hay rằng ba năm học đã sắp kết thúc.”
? Trong đoạn trích trên “ con” đã học được gì từ cô?
ĐA: biết quý bát cơm chan chứa mồ hôi; xây cho đời một tương lai phía trước;vượt qua khó khăn vấp ngã trên đường đời; từng lời ăn tiếng nói, từng cử chỉdáng đi
b.2.3 Câu hỏi mức độ vận dụng
- Nếu yêu cầu cảm nhận, rút ra thông điệp: Có hai cách, một là chọn ngay một
câu có ý nghĩa nhất làm thông điệp, hai là tự rút ra ý nghĩa của văn bản rồi chọn
đó làm thông điệp Sau đó đều phải lí giải vì sao em chọn thông điệp đó
(Lưu ý: Đây là câu hỏi vận dụng, có độ phân hóa cao, nên dù câu hỏi không yêu cầu giải thích vì sao, hs vẫn phải lí giải)
VD: Từ đoạn thơ Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi
Trang 12UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com