SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 4 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP CẬN, GIẢNG DẠY BÀI THƠ ĐỘC TIỂU THANH KÍ CỦA NGUYỄN DU THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP CẬN, GIẢNG DẠY BÀI
THƠ ĐỘC TIỂU THANH KÍ CỦA NGUYỄN DU THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Người thực hiện: Hoàng Thị Thắm Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HOÁ, NĂM 2021
Trang 21.3 Đối tượng nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến2.3 Những giải pháp thực hiện
2.3.1 Giải pháp 1: Chia nhóm – rèn luyện năng lực hợp tác
và tự học cho học sinh2.3.2 Giải pháp 2: Phân công nhiệm vụ chuẩn bị bài ở nhà2.3.3 Giải pháp 3: Tiến trình dạy học trên lớp
Trang 3UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 41 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài:
Uyliam Batơdit từng nói: “Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn” Và
“ngọn lửa tâm hồn” ấy đối với môn Ngữ văn chính là tình yêu, niềm đam
mê, hứng thú của người học đối với văn chương Văn học là nhân học MônNgữ văn với những đặc thù riêng có ưu thế đặc biệt to lớn trong việc bồidưỡng con người mới với những phẩm chất cao đẹp: yêu nước, yêu chủnghĩa xã hội, sống có bản lĩnh, trí tuệ và lòng vị tha Tuy nhiên trong thời đạicông nghệ 4.0 như hiện nay, khi mà văn hóa nghe nhìn đang dần lấn át vănhóa đọc thì việc dạy văn trong nhà trường phổ thông đang là một thử tháchlớn đối với đa số giáo viên Làm thế nào để đưa văn học về thật gần đời sốngtâm hồn học trò, để các em chủ động đến với thế giới văn chương như mộtnơi nuôi lớn trí tuệ, tinh thần ? Đó luôn là niềm trăn trở của tôi trong suốt
hơn 10 năm đứng trên bục giảng với vai trò người kĩ sư tâm hồn.
Trong những năm gần đây, nền giáo dục nước ta đang từng bước đổimới mà cốt lõi là lấy học sinh làm trung tâm Mục tiêu giáo dục chuyểnmạnh từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực vàphẩm chất người học Mục tiêu cụ thể đối với môn Ngữ văn là tạo cho họcsinh “cơ hội khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con
người, biết đồng cảm, sẻ chia, có cá tính và đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn”. Đổi mới phương pháp dạy học hướngtới những mục tiêu này về phương diện lí thuyết không cần phải bàn nhiều
Tuy nhiên về phương diện thực hành thì quả là một bài toán không hề đơngiản Việc xử lí các bài dạy cụ thể khó hơn rất nhiều so với việc thấm nhuầncác vấn đề lí thuyết
Đến với bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du được giảng dạy ở
chương trình Ngữ văn 10 tập 1 ban cơ bản, tôi cũng đã có nhiều băn khoăntrăn trở Nguyễn Du là một tác gia văn học lớn Nhắc đến Nguyễn Du người
ta thường nghĩ ngay đến thiên cổ tình thư: Truyện Kiều của ông Điều ấy có
lí do của nó Truyện Kiều là một thành công kiệt xuất của thơ ca tiếng Việt.
Nhưng bên cạnh Đoạn Trường Tân Thanh, Nguyễn Du còn làm rất nhiều thơ
chữ Hán có giá trị – cũng vò xé, cũng nhức nhối lòng người không khác gì
khúc nam âm tuyệt xướng ấy Độc Tiểu Thanh Kí là bài thơ chữ Hán trác tuyệt, sinh hoa diệu bút của đại thi hào Nguyễn Du, được xếp trong Thanh Hiên Thi Tập Bài thơ đã bộc lộ một cách sâu sắc cái nhìn cảm thông của tác
giả trước những thân phận tài hoa mà bạc mệnh trong xã hội cũ và dườngnhư đó còn là bức thông điệp tình thương, nỗi nhói buốt can tràng của muônđời Thế nhưng qua thực tế giảng dạy và dự giờ của đồng nghiệp tôi thấy một
sự thật rất đáng buồn là đa số học sinh không hứng thú, không thích học bàithơ này vì cho rằng nó quá khó hiểu, khó cảm Thậm chí có em học và quênngay sau khi học Thực trạng trên thiết nghĩ một phần nào đó cũng là do thầy
Trang 5cô chưa tìm được giải pháp tiếp cận, giảng dạy hợp lí để khơi gợi sự hứngthú của học trò.
Xuất phát từ những lí do trên, với niềm trăn trở đem đến cho học tròniềm cảm hứng, sự rung cảm trước một thi phẩm độc đáo, tôi đã cố gắng tìmtòi đổi mới, đặc biệt từ những kinh nghiệm thu nhận được qua đợt tập huấncác Module 2, 3 về dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, tôimạnh dạn thiết kế bài dạy theo hướng mới, chủ yếu hướng vào hoạt động củahọc sinh, tạo điều kiện cho các em phát huy được năng lực của mình trong
đó có năng lực giao tiếp và cảm thụ văn chương Qua tiết dạy thực nghiệm ởlớp 10B7 trường THPT Thạch Thành 4, tôi đã thu nhận được những kết quảkhá khả quan Trong phạm vi đề tài sáng kiến kinh nghiệm này, tôi xin chia
sẻ cùng bạn bè, đồng nghiệp “Một số giải pháp tiếp cận, giảng dạy bài thơ
“Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du theo định hướng phát triển năng lực học sinh”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Đề tài hướng đến mục đích đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn theo định hướngphát triển năng lực học sinh, tạo niềm say mê, hứng thú cho học sinh đối với môn ngữ văn nói chung, bài
thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du nói riêng.
- Giúp học sinh tiếp cận bài học một cách chủ động, sáng tạo, hình thành và phát triểncho học sinh những năng lực và phẩm chất cần thiết, là hành trang cho học sinh trong hiện tại và tươnglai
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Lí thuyết về năng lực, dạy học theo định hướng phát triển năng lực
- Học sinh lớp 10 trường THPT Thạch thành 4
- Bài thơ Độc Tiểu Thanh kí – Ngữ văn 10 cơ bản
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp thu thập thông tin, đúc rút kinh nghiệm từ thực tế giảng dạy
- Phương pháp phân tích- tổng hợp, thống kê toán học, so sánh
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề.
Khái niệm năng lực xuất hiện từ rất sớm, song trở nên phổ biến vàđược tập trung nghiên cứu bắt đầu từ những năm 70 của thế kỉ XX với nhiềuquan điểm tiếp cận và cách định nghĩa khác nhau Theo từ điển tiếng Việt,năng lực là khả năng điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiệnmột hoạt động nào đó , hoặc năng lực là khả năng huy động tổng hợp cáckiến thức, kĩ năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bốicảnh nhất định Năng lực trong dạy học gồm năng lực chung và năng lực đặc
Trang 6thù Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũngcần phải có để sống và học tập, làm việc Năng lực đặc thù là năng lực thểhiện trên từng lĩnh vực khác nhau, được hình thành và phát triển do đặc điểmcủa môn học đó tạo nên.
Mỗi học sinh đều có năng lực nhất định trong việc kiếm tìm và lĩnhhội tri thức Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là lấy học sinh làmtrung tâm Mục đích của giờ học không chỉ là cung cấp kiến thức mà còn làphát triển năng lực học sinh, giúp học sinh phát huy hết khả năng của mình,chủ động lĩnh hội kiến thức Các phương pháp dạy học theo định hướng pháttriển năng lực mang đặc trưng cơ bản là:
- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Như vậy, có thể thấy dạy học theo định hướng phát triển năng lực là yêu cầu tất yếu, cấp thiết của thời đại, xu hướng mang tính quốc tế, chiến lược giáo dục quốc gia của Việt Nam Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông môn ngữ văn được công bố thắng 1 năm 2018 có thể nói đã phản ánh định hướng đổi mới chương trình và sách giáo khoa theo hướng hình thành
và phát triển năng lực, phẩm chất người học Môn ngữ văn là một môn học đặc thù vừa mang tính công cụ vừa mang tính nghệ thuật Nó đòi hỏi ở ngườithầy một năng lực tổng hợp mà quan trọng hơn cả là năng lực của một nhà đạo diễn – người thiết kế kịch bản, người định hướng cho học trò đến với thếgiới văn chương để tự mình rung cảm, tiếp nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm Trong một giờ học, không nhất thiết và cũng không thể phát huy toàn
bộ các năng lực mà chỉ hướng tới phát huy tối đa những năng lực có thể của học sinh Trong giờ đọc văn, những năng lực có thể phát huy ở học sinh là năng lực đọc hiểu văn bản, năng lực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mỹ, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học, năng lực hợp tác làm việc theo nhóm, năng lực thuyết trình, năng lực mở rộng liên hệ, so sánh
Môn ngữ văn là môn học vừa mang tính công cụ, vừa mang tính nghệ
thuật Dạy văn theo kiểu truyền thống là truyền thụ, kiểu “rót” kiến thức của
thầy cho trò Thế nhưng bản chất của văn chương lại là hoạt động sáng tạo
của cả tác giả và độc giả Hành trình tiếp nhận đứa con tinh thần của mỗi nhà
văn là một hành trình khám phá thú vị nhưng nó đòi hỏi người đọc phải cónhững năng lực nhất định và được định hướng phù hợp Học sinh THPT là
độ tuổi đang diễn ra sự thay đổi rất lớn về sự phát triển trên tất cả các mặt:
thể chất, nhận thức, xúc cảm và xã hội để hướng tới sự trưởng thành Hơnthế nữa, học sinh THPT hiện nay còn tiêu biểu cho một thế hệ NET – thế hệđược làm quen với những thành tựu của thời đại kĩ thuật số từ khi còn nhỏ
Các em có điều kiện tiếp cận nguồn thông tin khổng lồ, có cơ hội phát triểnnăng lực bản thân Và có thể khẳng định, nếu có môi trường phù hợp, đượcđịnh hướng đúng đắn, các em có thể phát triển năng lực chung cũng như phát
Trang 7huy năng lực riêng của bản thân để chuẩn bị cho mình hành trang bước vàocuộc sống mới.
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Những năm gần đây, do xu thế học và thi, nhiều giáo viên và đa số họcsinh đang dần thờ ơ với các môn xã hội trong đó có môn Ngữ văn Tronghoàn cảnh đó tại trường THPT Thạch Thành 4 lại có truyền thống đa số các
em học sinh vẫn lựa chọn các môn xã hội trong đó có môn Ngữ văn để học,thi và định hướng cho tương lai Điều này có nghĩa là, vẫn còn rất nhiều học
sinh “quan tâm” đến môn Ngữ văn Nhưng từ “quan tâm” đến yêu thích, hứng thú, say mê môn học lại là cả một chặng đường dài Trên chặng đường
đó, việc đổi mới phương pháp dạy học của thầy cô là việc làm quan trọngnhất Bởi khi thầy có phương pháp dạy hay, dễ học, chắc chắn sẽ thu hút vàkhơi gợi được hứng thú của học sinh đối với môn học, từ đó nâng cao đượcchất lượng day học
Ở trường THPT Thạch Thành 4 trong những năm gần đây, tập thể cán bộ giáo viênnói chung, giáo viên Ngữ văn nói riêng đã và đang quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học Dạyhọc theo định hướng phát triển năng lực học sinh đã trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết được đa
số giáo viên chú trọng Tuy nhiên, tôi nhận thấy dạy học theo định hướng phát triển năng lực vẫn chưathưa thực sự trở thành nhu cầu thường xuyên liên tục của giáo viên Nó dường như cũng mới chỉ dừng lại
ở những dự án dự thi, những tiết thao giảng… Còn trong thực tế dạy học, do dạy học theo định hướngmới đòi hỏi giáo viên phải đầu tư thời gian, công sức trong việc thiết kế bài học, chuẩn bị đồ dùng dạyhọc, đặc biệt giáo viên phải có kiến thức, hiểu biết sâu rộng ở nhiều lĩnh vực, phải có năng lực tổng hợp
vững vàng, vì còn sợ “khó”, sợ “khổ” nên các phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực chưa được vận dụng nhiều và cũng chưa đạt kết quả cao Nhiều thầy cô giáo dạy văn vẫn “rung cảm hộ” học trò Việc
tiếp thu kiến thức của trò vì thế còn lệ thuộc vào thầy cô, chưa có sự chủ động trong việc tiếp nhận, đọchiểu tác phẩm văn học Qua khảo sát và dự giờ thăm lớp , tôi vẫn thấy một thực trạng chung là học sinh
vẫn ngại học văn và đa số các em vẫn có suy nghĩ “văn là môn phải học thuộc lòng” Bên cạnh đó, đa số học sinh vẫn còn lạ lẫm với các phương pháp kĩ thuật dạy học mới, các em còn chưa thực sự phát huy
được năng lực bản thân qua các giờ học
Văn học trung đại là một thời kì rực rỡ, vàng son của lịch sử văn họcViệt Nam Những thành tựu ưu tú của thời kì văn học này kết tinh sâu sắc ởnhiều tác phẩm viết bằng chữ Hán Tuy nhiên, với thâm niên hơn 10 năm trựctiếp giảng dạy môn văn ở trường phổ thông, tôi nhận thấy việc giảng dạy vănhọc chữ Hán nói chung, thơ chữ Hán nói riêng cho đến nay vẫn là một việc khókhăn với cả người dạy và người học Nguyên nhân là do khoảng cách thời gian,
sự cách biệt về ngôn ngữ, tư duy thẩm mĩ, đặc trưng thi pháp trung đại…Xuhướng chung của giới trẻ hiện nay là thích những gì mới mẻ, hiện đại Đến vớinhững giá trị tinh thần của quá khứ đã khá xa thời hiện tại,
6UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 8đó là rào cản đối với học sinh trong việc tiếp nhận, đồng cảm với những tưtưởng, cảm xúc của thế hệ cha ông.
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi mong muốn rằng đề tài nghiên cứu
này sẽ chỉ ra được một số giải pháp tiếp cận, giảng dạy bài thơ Độc Tiểu Thanh kí nhằm nâng cao chất lượng, tạo hứng thú và hướng tới phát triển
năng lực giao tiếp và cảm thụ văn chương cho học sinh Việc học và hiểu sâu
sắc bài thơ Độc tiểu Thanh kí sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn tài năng và tấm
lòng nhân đạo cao cả của nhà thơ, hiểu rõ hơn triết lí mà Nguyễn Du đã từngđúc kết:
“Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Có thể đây chưa hẳn là những “sáng kiến” mới mẻ nhưng chắc chắn nó là
những kinh nghiệm thực tế tôi đã áp dụng trong dạy học theo định hướngphát triển năng lực và đã thu được những kết quả khá khả quan
2.3 Những giải pháp tiếp cận, giảng dạy bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của
Nguyễn Du theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
2.3.1 Giải pháp 1: Chia nhóm – rèn luyện năng lực hợp tác và tự học cho học sinh
Hoạt động hợp tác theo nhóm là hình thức dạy học không còn xa lạ gìvới giáo viên và học sinh Tuy nhiên qua thực tế dạy học và dự giờ đồng
nghiệp, tôi thấy đa số giáo viên thường “tùy cơ ứng biến” khi chia nhóm.
Nghĩa là chia theo tổ, theo chỗ ngồi của học sinh, làm thế nào cho “tiện” làđược Làm như vậy chưa phát huy được hết hiệu quả của sự hợp tác của cácthành viên trong nhóm, đặc biệt là trong các giờ đọc hiểu Vậy nên để hoạtđộng nhóm của học sinh diễn ra thường xuyên, đạt đến mức độ hợp tác thực
sự, giáo viên cần có sự định hướng, chia nhóm, phân công nhiệm vụ ngay từđầu năm học
Khi nhận lớp vào đầu năm học, tôi thường chia lớp thành các nhómvăn chương (chuyên thực hiện các nhiệm vụ trong các giờ đọc văn bản) Đó
là những nhóm nhỏ trong đó có sự phân vai với những nhiệm vụ cụ thể nhưngười liên hệ, kết nối, người tìm hiểu thông tin nền về tác giả, tác phẩm;
người tóm tắt; người tìm chi tiết, nội dung quan trọng; người vẽ minh họa;
người phê bình Có thể phân nhóm dựa trên nguyện vọng của các em làmsao tạo điều kiện tốt nhất để các em có thể hợp tác làm việc Trước mỗi bàihọc, học sinh được giao nhiệm vụ đọc văn bản và ghi chép phản hồi theo vai
Sau đó trong tiết học trên lớp, giáo viên sẽ tổ chức cho học sinh trình bày ýkiến trong nhóm và trước lớp
Với hình thức này, khi tham gia vào các nhóm văn chương, học sinhđược phát huy sở trường của mình, được trải nghiệm nội dung học tập mìnhyêu thích, rèn luyện được kĩ năng hợp tác để thực hiện các nhiệm vụ học tập
Từ đó tạo được sự chủ động, tích cực, khơi gợi được hứng thú học tập cũngnhư rèn luyện cho học sinh năng lực hợp tác và tự học
Trang 92.3.2 Giải pháp 2: Phân công nhiệm vụ chuẩn bị bài ở nhà
Trong việc thiết kế bài học của giáo viên, có một hoạt động rất quantrọng đó là giao nhiệm vụ về nhà Trên thực tế đây là hoạt động dặn dò ởcuối tiết học nên khi soạn bài giáo viên thường không chú trọng Theo thóiquen, giáo viên thường ghi trong phần dặn dò là : học bài cũ và soạn bài mớitheo phần hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa Tôi nghĩ giao nhiệm vụnhư vậy là quá chung chung với học sinh Bởi vậy để học sinh học bài vàchuẩn bị bài có chất lượng, giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ thể cho các emtrước mỗi bài học và đó sẽ là cơ sở để giáo viên kiểm tra ý thức tự học củacác em ở nhà
Cụ thể, một tuần trước khi dạy thử nghiệm bài thơ Độc Tiểu Thanh kí
ở lớp 10B7, tôi phân công nhiệm vụ chuẩn bị bài cho học sinh qua việc yêu cầu học sinhlập bảng KWL (học sinh làm việc cá nhân) và trả lời các phiếuhọc tập (học sinh làm việc theo nhóm)
a Lập bảng KWL (học sinh làm việc cá nhân)
Kĩ thuật KWL (Know – Want - Lean) là cách tổ chức hoạt động họctập trong đó bắt đầu bằng việc học sinh sử dụng bảng KWL để viết tất cảnhững điều đã biết, muốn biết liên quan đến vấn đề, chủ đề học tập Trước,trong và sau quá trình học tập, học sinh sẽ tự trả lời những câu hỏi và ghi lạivào bảng theo mẫu Trong giờ đọc văn bản tôi thường giao nhiệm vụ cho họcsinh chuẩn bị cột K và W ở nhà Cách làm này có ưu điểm là tạo điều kiệnthuận lợi cho học sinh phát triển năng lực tự chủ và tự học, giúp học sinhkích hoạt kiến thức nền có liên quan đến nội dung sẽ học Đồng thời, vớiviệc ghi vào cột W những điều muốn biết, học sinh cũng bước đầu xác địnhđược mục tiêu học tập, từ đó tạo hứng thú học tập cho các em khi những điềucần học liên quan đến nhu cầu nhận thức của các em Ngoài ra các em cũng
có thể tự đánh giá kết quả học tập của mình sau khi hoàn thành bảng KWLbằng việc đối sánh nội dung cột L với cột K và W
Cụ thể tôi phát phiếu cho học sinh trước 1 tuần và hướng dẫn các emthực hiện cột K và W tại nhà với 1 số câu hỏi gợi ý mang tính định hướngnhư sau:
- Em biết gì về đại thi hào Nguyễn Du ? Gợi ý học sinh:
Em có biết bài thơ, bài hát, bộ phim nào Em muốn biết
- Em biết bài thơ chữ Hán nào của Nguyễn Du không?
- Đề tài con người tài hoa bạc mệnh trong sáng tác của Nguyễn Du;
- Em có biết tác phẩm nào của Nguyễn Du cũng thể hiện sự thương cảm của
8UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com
Trang 10nhà thơ đối với thân phận những conngười tài hoa bạc mệnh không ?
- Em biết gì về nhân vật Tiểu Thanh?
- Hoàn cảnh sáng tác, cảm hứng, đề tài, chủ đề, thể loại, bố cục bài thơ…
- Cảm xúc của em khi đọc bài thơ?
Trong quá trình giao nhiệm vụ, giáo viên nên khuyến khích học sinhsuy nghĩ và viết vào cột W những điều các em muốn tìm hiểu thêm về bàihọc Trong và sau quá trình học tập, học sinh sẽ điền vào cột L những điềuvừa học được Để học sinh tiện lưu giữ bài ghi, giáo viên có thể thay việc kẻbảng KWL trên giấy bằng việc cho học sinh ghi vào vở theo hàng ngang
(Minh chứng một số sản phẩm bảng KWL của học sinh lớp 10B7 đính kèm ởphần phụ lục)
b Phiếu học tập (học sinh làm việc theo nhóm).
- Giáo viên:
+ Phát các phiếu học tập cho học sinh với các yêu cầu cụ thể
+ Các phiếu học tập có đủ nội dung yêu cầu làm việc của 4 nhóm (để học sinh có thểhoàn thành nhiệm vụ của nhóm mình đồng thời có sự chuẩn bị để phản hồi nội dung của nhóm bạn.)
– Học sinh:
+ Làm việc ở nhà theo sự phân công của nhóm trưởng
+ Cử đại diện ghi biên bản thảo luận của nhóm theo mẫu
+ Cử đại diện lên trình bày trước lớp trong tiết học
Cụ thể nội dung câu hỏi gợi mở cho 4 nhóm như sau:
động
Hai câu đề Hai câu thực Hai câu luận Hai câu kết
- Câu thơ đầu - Nhận xét về - Theo em “những - Từ sự thươnggợi lên nghịch nghệ thuật đối mối hận cổ kim” là gì người, ý
Hoạt cảnhnghĩa gì? của -Ý trong 2 câu thơBiện pháp cho là “không thể hỏi- Tại sao tác giả lại trongkết cóhai
Khám đó ? đã được sử dụng - So sánh chữ “ngã” thế nào về cảm
phá kiến - So sánh bản trong 2 câu thực (tôi, ta) với chữ xúc?
thức phiên âm và này ? “khách” của bản dịch - Niềm
dịch thơ ở câu 2 - Hai câu thơ - Sau khi suy nghĩ về thương cho bản
? Bản dịch đã giúp em hình cuộc đời, số phận của thân mình có chuyển tải hết ýdung gì về cuộc Tiểu Thanh, vì sao phải là biểu hiện
Trang 11của các từ “độc đời của nàng Nguyễn Du lại tự coi của giá trị nhân
điếu”, “nhất chỉ Tiểu Thanh? mình là người cùng đạo không ?
thư” chưa ? - Em hãy xác hội với nàng? - Em hiểu gì về
- Hình ảnh thơ định giọng điệu - Qua hai câu thơ con số “hơn ba
ở hai câu đề gợi của hai câu 3,4 ? trên Nguyễn Du đã trăm năm”
cho chúng ta Từ đó cho biết suy ngẫm gì về số đây ?biết gì về cảm thái độ của tác phận của những kiếp - Em đọc đượcxúc của tác giả ? người tài hoa? gì trong tâm sự
trong hai câukết ?
Hình dung, Hình dung, Hình dung, tưởng Hình dung,tưởng tượng ra tưởng tượng ra 1 tượng ra 1 cuộc gặp tưởng tượng
1 cuộc gặp gỡ cuộc gặp gỡ gỡ giữa Nguyễn Du 1 cuộc gặp gỡgiữa Nguyễn giữa Nguyễn Du và nàng Tiểu Thanh giữa Nguyễn Du
Hoạt DuTiểu và Thanh Thanh dướinàng và nàng Tiểu dưới âm cung Họ tròâm chuyện, trao đổi với Thanh dướivà nàng Tiểuâm
động 4 dưới âm cung cung Họ trò nhau, chia sẻ nỗi lòng cung Họ trò
Vận Họ trò chuyện, chuyện, trao đổi và khát vọng của chuyện, trao đổi
dụng trao đổi với với nhau, chia sẻ mình với nhau, chia
- Hôm nay, sau - Hôm nay, sau - Hôm nay, sau khi - Hôm nay, saukhi học xong khi học xong bài học xong bài thơ này, khi học xongbài thơ này, nếu thơ này, nếu nếu được trả lời cho bài thơ này, nếuđược trả lời cho được trả lời cho câu hỏi cuối bài thơ, được trả lời chocâu hỏi cuối bài câu hỏi cuối bài em sẽ nói gì với câu hỏi cuối bàithơ, em sẽ nói thơ, em sẽ nói gì Nguyễn Du ? thơ, em sẽ nói
Phiếu học tập được giáo viên chuẩn bị và phát cho học sinh trước mộtthời gian để các em tìm hiểu, chuẩn bị bài ở nhà Các nhóm làm việc ở nhà
theo sự phân công và điều hành của nhóm trưởng Riêng phần vận dụng,
thực hành, học sinh các nhóm sẽ thực hiện sau tiết học Kết quả làm việc của
nhóm sẽ được ghi lại vào văn bản theo mẫu sau: