Trong các công trình kể trên, các nhà nghiên cứu đã cho chúng ta thấy ở Việt Nam bên cạnh những lớp địa danh thuần Việt, là một số lượng phổ biến các lớp địa danh Hán - Việt hay các đị
Trang 1—— HỒ CHÀO AIỪNG NGÀY NHÀ GIAO VIET NAM 20 THANG LÍ
50 NAM NGANH NGON NGU HOC VIET NAM (1956 - 2006) CHÚC MỪNG GIÁO SƯ NGUYÊN TÀI CÂN 80 TUÔI
VIEN NGOR NGU HOC
Trang 2
NGÔN NGỮ
Năm thứ 36
RA HANG THANG
Téng bién tap:
PGS.TS NGUYÊN ĐỨC TỒN
11 - 9005
11 ais
MUC LUC
HO! BONG BIEN TAP
CHU TICH:
PGS.TS NGUYEN DUC TON
CAC UY VIEN:
PGS.TSKH LY TOAN THANG
GS.TSKH TRAN NGOC THEM
GS.TS NGUYEN VAN KHANG
GS.TS BÙI MINH TOÁN
PGS.TS TRẤN TRÍ DÕI
PGS.TS HÀ QUANG NANG
PGS ĐÀO THÂN
TS VG KIM BANG
T§ HOÀNG CAO CƯƠNG
TS PHAM VAN HAO
Quyén trudng phong
Phòng biên tập - trị sự:
TS NGUYEN TH] TAN
Te’ sean:
20 Lý Thái Tổ, Hà Nội
Phòng trị sự: (84-49)9,944.989
Tổng biên tập: 8.347.840
Pax: (84-4) 6.341.689
#-mail: toan®fpt.vn
Lời phát biểu chúc mừng của Tổng biên tập Tạp
ĐỖ LAI THUÝ: Nguyễn Tài Can - Con n đường từ
ngôn ngữ đến vấn hoá
LÊ QUANG THIEM: Những bước tiến về kiến
giải nghĩa của tin hiệu ngôn ngữ
TRAN TRI DOL Tiếp tục tim hidu về xuất xứ và
ý nghĩa địa danh Cổ Loa (Qua cách giải thích địa danh này của Giáo sư Đào Duy Anh)
ĐÀO THANH LAN: Cách biểu hiện hành động
cầu khiến gián tiếp bằng câu hỏi - cầu khiến
HỮU 54T: Nhận xét về sự phân bố tử vụng và
phong cách trong truyện ngắn của một vải nhà văn
Việt Nam nửa sau thế kỉ XX
NGUYỄN VĂN HIỆU: Những địa danh gốc
Hán ở một số vùng dân tộc Mông - Dao ở Việt Nam (Trân cứ liệu địa danh hành chính tỉnh Lào Cai)
NGUYEN THỊ PHƯƠNG THUỲ: Một vải nét ve"
sự chuyển biến và cách tân của cấu trúc thơ từ 1945
đến 1975 (Trên tư liệu thơ của một số nhà thơ - nhà giáo) NGUYÊN THỊ KIM THOA: Bước đầu mô tả hệ
thống ngữ âm tiếng Sán Dìu ở Việt Nam
21
28
33
68
Số giấy phép xuất bản: 28AJGP-BVHTT Ngảy 23/5/2001 Nơi in: Xưởng in Tổng cục công nghiệp quốc phòng
34.
Trang 3
NGÔN NGỮ
DAN TOC MÔNG - DAO Ở VIỆT NAM
(Trên cứ liệu địa danh hành chính tỉnh Lào Cai);
TS NGUYEN VAN HIEU
1 Dẫn nhập
Vấn để địa danh ở Việt Nam từ lâu đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Chúng ta có thể tìm hiểu về nó qua một loạt các công trình nghiên cứu tiêu biểu của Hoàng Thị Châu (1964), Lê Trung Hoa (1991), Nguyễn Kiên
Trường (1996), Trần Trí Dõi (2000, 2001), Từ Thu Mai (2004) Trong các công
trình này, các tắc giả cũng đã xem xét địa danh ở nhiều khía cạnh khác nhau như đặc điểm cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa, sự biển đổi của địa danh qua từng thời kì
lịch sử và mối liên hệ giữa các địa danh Trong các công trình kể trên, các nhà
nghiên cứu đã cho chúng ta thấy ở Việt Nam bên cạnh những lớp địa danh thuần
Việt, là một số lượng phổ biến các lớp địa danh Hán - Việt hay các địa danh có
nguôn gốc tử các ngôn ngữ dan tộc thiểu số ở nước ta Nhưng trên thực tế, ở các
vùng dân tộc Mông - Dao thuộc các tỉnh miễn núi phía Bắc nằm dọc theo biên giới
Việt - Trung như Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang lại xuất hiện khá phổ biến kiểu địa danh gốc Hán (người địa phương gọi là tiếng Quan Hoa)
Thi dy:
Tiếng Việt Tiếng Hán(QH) Hán - Việt Nghĩa
Lao Chai law caj/, -5E3X flautsai/ — lão trại làng cũ
Qua những thí dụ trên chúng ta thay ban đầu đây là những địa danh hoàn toàn
theo âm đọc Hán và đề có những địa danh ghỉ bằng chữ quốc ngữ như hiện nay thi
những địa danh này đã phải trải qua một quá trình quốc ngữ hoá (dùng chữ quốc
ngữ để ghi lại các địa danh theo âm đọc Hán) Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát lớp địa danh gốc Hán ở Việt Nam mà chủ yếu trên các đơn vị địa
đanh hành chính ở vùng Mông - Dao tỉnh Lào Cai Với các đơn vị địa danh này,
chứng tôi hi vọng lần đầu tiên sẽ xem xét có hệ thống các địa danh gốc Hán ở Việt
Nam trên 3 phương điện: 1) Xem xét các địa danh về mặt ngữ âm (bước đầu đưa ra
một vài quy luật phiên chuyển các địa danh theo â am đọc Hán ra chữ quốc ngữ trên
cơ sở so sánh đồng đại), 2) Xem xét về mặt cấu tạo các đơn vị địa danh, 3) Xem
xét về mặt ngữ nghĩa của các đơn vị địa danh,
Trang 444 Ngôn ngữ số 11 năm 2005
2 Nội dung
2.1 Xem xét về mặt ngữ âm
Khí những địa danh gốc Hán xuất hiện và nó đã được quắc ngữ hoá thành
những địa danh như ngày nay, quá trình quốc ngữ hoá đã diễn ra trong một thời
gian khá đài Chính vì vậy việc xem xét những địa danh gốc Hán nhưng được ghi
lại bằng chữ quốc ngữ trước hết trên phương diện đồng đại là một việc làm cần thiết Qua đó chúng ta sẽ thấy những khác biệt về hệ thống các âm tiếng Hán (Quan Hoda) và hệ thống tương ứng trong tiếng Việt và phần nảo cho chúng ta hình dung
bước đầu về một quá trình quốc ngữ hoá các địa danh gốc Hán ở Việt Nam
Trước hết, chúng ta đễ nhận thấy hệ thống ngữ âm của tiếng Hán (Quan Hoả)
không phải là tương đông với tiếng Việt Chính vì vậy quá trình đùng chữ quốc ngữ để ghi lại những địa danh với âm đọc Hán này sẽ gặp nhiều khó khăn Đối với
những phụ âm và phần vần tương đồng với tiếng Việt thì hầu hết cách ghi để biểu
hiện cách đọc không thay đổi với âm đọc Hán
Đối với hệ thống phụ âm đầu, các diy phy 4m tắc và các phụ âm xát hay phụ
âm mũi khi chuyển sang tiếng Việt vẫn được giữ lại bởi những phụ âm tương ứng
có trong tiếng Việt như /, /k/, /p/, /U, /§/, HỊ, H/, THÍ `
Thí dụ: Một số tương ứng phụ âm đầu ˆ
Ngữ âm Thi du
ff ‘ki Ki Quan San /ki kwan @ar/ X8 LL{ /tẹi kuan san/
/p/ /pf Po Phit Chai /py fu caj/ BIFE%E /py fu tgai/
i It Té Déng Hé /ta don ho/ AIRF /ta tun ho/
Sự khác biệt giữa tiếng Hán và tiếng Việt về phụ âm đầu lại chính là những
_ đãy phụ âm tắc - xát trong tiếng Hán Khi chuyển sang tiếng Việt, vì tiếng Việt
không có những phụ âm này, nên chúng sẽ chuyển sang một phụ âm gần tương ứng
theo một quy luật nhất định như: /ts/, /te/ (tiếng Hán) - /c/ (tiếng ViệU, /ts”/, /6/ -
/s/ Như vậy sẽ chấp nhận với nhiều trường hợp một âm trong tiếng Việt lại biểu thị nhiều âm trong tiếng Hán hoặc một âm của tiếng Hán lại được chuyển thành
nhiều âm khác nhau trong tiếng Việt như /tọ/ (tiếng Hán) - /c/, /U, /k/ (tiếng Việp), /ts! -fc/, /I/ hay một âm của tiếng Việt lại biểu thị nhiều âm trong tiếng Hán như
/Ð, fp’/ (tiéng Han) - /E (tiếng ViệU
Trang 5
Thí dụ về một số khác biệt phụ âm đầu
Việt Hán Việt Hán /cj fts/ Phin Chi /fin cw/ LE + /p’in tst/
tự | Atel Ngài Trồ na] toi SEM “nai tco/
Ngoài ra, cùng một âm trong tiếng Hán nhưng khi phiên chuyển sang tiếng
Việt lại có những biến thể khác nhau như: /t/ (tiếng Hán) - /U, /đ/ (tiếng Việt), /p/ (tiếng Hán) - /p/, /b/ (tiếng Viét), thi du:
Ngữ âm Thi dụ
id i Tả Đông Hỗ Ha don hoi | AAR /ta tuy hos
tự
Đối với phan vần, tiếng Hán được chia lam 3 loại chính 1) các vẫn đơn, 2) các
vẫn kép, 3) các vần mũi [6, 353] Đối với phần van loại 1 thì hầu hết khi chuyển sang tiếng Việt vẫn giữ được những âm tương ứng như: /a/, /o/, /a/, /x/ Còn hai
loại vần còn lại cũng có những vẫn có tương ứng với tiếng Việt, khi đó sự phiên
chuyên được giữ nguyên như: /un/, /an/, /in/
Thi dụ về một số tương ứng phần vẫn
34
| /an/ fan/ Nhiéu Sang/piew san/ “F# /niu ts’an/
taf /a/ Ta Pa Cheo/ta pa cew/ KE Bita pa giaw/ /aU fail Xa Khái Tủng/sa xaj tun/ TF7THIR/eia k?ai tun/ fof fof Tả Cán Hỗ /ta kan ho/ KF ita kan ho/
Trang 646 Ngôn ngữ số LÍ năm 2005 Bên cạnh đó, cũng có nhiều vẫn trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt không có, vi
vậy khi phiên chuyển, tiếng Việt đã dùng những vần mà có trong hệ thống để ghỉ lại
những phần vần khác loại nhưng hơi gần nhau với tiếng Hán Chủ yếu ở đây là những
vần kép là nguyên âm hay những vằn có giới âm, âm mũi như: /iag/, /iau/, /iu/
Thí dụ về một số khác biệt phan vin
Ngữ âm Thí dụ
fiew/ fiu/ Nhiéu Lan /niew lan/ “3 /muu lan/
fey/ fiay/ Sa Séng /ga se\/ TF#Ế /cia cian/
Trong các địa danh gốc Hán còn có hiện tượng từ một phần vẫn có nguyên âm
? yí trong âm đọc Hán sẽ được phiên chuyển sang thành phụ âm /Z/ trong tiếng Việt
và được biểu thị bằng con chữ “gi” hay “d”, thi du: 4% 3% / yay teia/ - Giảng Cha
‘ayy cal; 66 $8 /yi t’an/ - Di Thang /zi t’ an/; #8 # /yin toin/ - Din Chin /zin cin/
Trong tiếng Hán (phương ngôn Tây Nam) có 4 thanh điệu bao gồm các thanh”
(thanh l: 44, thanh 2: 31, thanh 3: 53, thanh 4: 13) Đối với địa danh gốc Hán ở
những địa bàn này thì thông thường tiếng Việt chỉ dùng 4 đấu thanh để dùng phiên
chuyển 4 thanh điệu tiếng Hán Mặc dù số lượng thanh điệu sau khi phiên chuyển
vẫn không thay đổi, nhưng sự phiền chuyển có phần phức tạp vả không thống nhất
trong từng thanh điệu Khi chuyển sang tiếng Việt thì sự tương ứng thường thấy lần
lượt là (thanh không đấu (1), thanh sắc (4), thanh hỏi (5), thanh huyén (2))°
Qua những tương ứng ngữ âm, chúng ta có thể thấy những địa danh gốc Hán
ở đây đã được quốc ngữ hoá theo những quy luật phiên chuyến nhất định Khi so
sánh trên phương diện đồng đại chúng ta vẫn có thể nhận điện được những địa
danh với những cách đọc Hán tương ứng
2.2 Xem xét về mặt cấu tạo các địa danh gốc Hán
Khi xem xét vấn đề cầu tạo địa danh, các tác giả đi trước đều cho rằng cần
phân biệt một phức thé dja danh gồm có hai bộ phận bao gồm bộ phận đứng trước
“có chức năng chỉ loại hình của đối tượng được đặt tên ở bộ phận thứ hai đi sau
nó” [9, 57] Tùy theo từng tác giả mà có những tên gọi khác nhau cho hai bộ phận
này ở mỗi một phức thể địa danh bao gồm bộ phận thứ nhất là zên chung, thành tổ
chung, danh từ chung và bộ phân thứ hai là địa danh Trong bài viết này chúng
tôi khảo sát tư liệu là các địa danh hành chính từ cấp thôn bản đến cấp huyện nên
chúng tôi chỉ xét đến phần địa danh mà không xét phân thành tố chung của một
phức thể địa danh
Trước hết, ta nhận thấy tất cả các địa danh gốc Hán ở địa bàn này đều có cấu
tạo phức hợp từ hai yếu tố cấu tạo trở lên, mà trong đó hầu hết là những địa đanh
có 2 và 3 yếu tế cầu thành Địa danh có 4 yếu tế chỉ xuất hiện có l trường hợp duy
Trang 7
nhất Trên khối tư liệu có được, chúng tôi xác định địa danh gốc Hán ở đây có 2
loại quan hệ chủ yếu: quan hệ chính phụ, quan hệ đẳng lập và không xuất hiện kiểu
quan hệ chủ vị như đối với các loại địa danh ở các địa bàn khác
2.2.1 Nhìn chung các địa danh ở đây là các địa danh gốc Hán Chính vì vậy,
một đặc điểm dễ nhận thấy nhất là chúng được cấu tạo theo câu trúc Hán Trong
mối quan hệ chính phụ trong mỗi địa danh, yếu tố chính thường đứng sau yếu tố
phụ Như trong trường hợp các địa danh: Nan Hé (lã Fl- Nam Ha “Séng nam”), Si
Ma Cai (Ñï ĐH - Tân Mã Nhai “Phê ngựa mới”), Lùng Phinh (È YB - Long Bình
“bãi rồng”), Cu Ty Chai (3 Rb 3 - Cốc Địa Trại “Làng lúa nương”) thì các yếu
16 chinh Hd (7), Cai (fE), Phình (BE), Chai (IE) đứng trước, còn các yếu tố phụ Nan (PA), Si Ma (8F ©), Ling (2), Cu Ty (4 #H) đứng sau bạn định cho yếu tế chính, Đối với các địa danh gằm ba yếu tố cấu thành sẽ có yếu tố thứ hai là yếu tổ hạn định cho yếu tổ thứ nhất, còn yếu tố thứ ba thì hạn định cho yếu tế thứ hai và
ba, thi du: Sin Ling Chai GHIESE - Tân Long Trại “làng rồng mới”), Cu Seo Ting
(B/N - Cé Tiéu Dong - “động nhỏ cũ”), Ta Di Thang (KARE - Dai Ngư Đường
“vũng cá lớn”) thì các yếu tố thứ nhất Sïn Cỹf), Cu (7), Tá (K) sẽ hạn định cho
các yếu tố đứng sau nó
Sin Ling Chai GF) Ta Di Thang (KEY)
Trong một số địa danh khác, các yếu tô hạn định có thể lại làm thành một câu
trúc chính phụ rà ở đó các yếu tố 1 và 2 kết hợp để hạn định cho yếu tố đứng sau
chúng, thí dụ: Pủa Chu Ván (ETTTE - Back Tric Loan “Him trúc trang”), Ma Sa
Phin (GSR - Ma Thao Binh "Bui cé ngua) G day ching ta thấy các yếu tố Pa 9 kết hợp với Chu (7) để hạn định cho yếu tổ chính Loan (ï§), yếu tố Mà (E3) kết
hợp với Sø (##) để hạn định cho yếu tố chính Pñìn (EE)
Cũng có một số địa danh có các yếu tố hạn định có thể lại làm thành một cầu
trúc đẳng lập mà ở đó các yếu tố 1 và 2 kết hợp để hạn định cho yếu tố đứng sau chúng, thí du: Cé Di Chai (RINSE - Qua điệp trại “Làng lá quả”), Hồ Mà Chải (7 2X - Hóa mộc trại "Làng hỏa mộc"), Thải Giàng Phé (BA HE - Thai đương pha “Núi mặt trời”) Các yêu tố Cô (SE), Hỗ (1k), Thải (2K) kết hợp với các yếu tế
Di (itt), Ma (7K), Gidng (BA) theo quan hé ding lập để hạn định cho yếu tố chính Chải (8E), Phó ()
Hồ Mù Chải (k7Kš) Thai Giang Phé CRRA HR)
Trang 848 Ngôn ngữ số 11 năm 2005 Ngoài ra, chúng ta có thể tìm thấy kết cấu chủ vị trong các kết cấu giữa các
yếu tố phụ nhằm hạn định cho yếu tô chính như: Sẩu Giáo Ngai (SIRE - Thú
Giáo Nhai “vách thú về"), HỖ Sao Chai (X38 - Hod Thiéu Trại “làng lửa thiêu”)
Sdu Gido Ngai (REE) Hồ Sao Chải (k‡#35E)
Riêng đối với một số yếu tế chính lại có kết hợp khá đặc trưng của cấu trúc
Hán Những yếu tố chính này có thể kết hợp và đứng ở vị trí trước yếu tổ “Chử"
hay Chư“ (7ˆ - Tử), thí dụ trong các địa danh như: Cản Sư Chứ (PB - Can thụ
tử “Cây khô”), Phin Chu (OE-F - Binh nr “Bai bing”), Ta Van Chu (KEF - Dei
loan tự “Cua lớn”) Trong những trường hợp này yếu tổ “Chữ” hay “Chư” (# -
Tử) có chức năng đi sau đanh từ nhằm chỉ người hay vật [5, 889], mà hiện nay kiểu cấu trúc này vẫn dùng khá phổ biến trong tiếng Hán phổ thông hiện đại, thí dụ: s#
F (cdi ban), HEF (cdi mit) Nhu vay chúng ta có thé đễ nhận thấy các địa đanh gốc Hán ở vừng này vẫn mang những đặc trưng cấu trúc Hán rất rõ nét
Cũng có một số trường hợp ngoại lệ, các địa danh đã có cầu trúc theo kiểu các
yếu tố phụ đứng sau yếu tổ chính như: Phìn Páo (ŒE% - Bình Bảo “bãi ngọc”), Ti
Hit (HERR - Địa hắc “đất đen”) Điều này cũng có thể giải thích là do một số địa
danh đã có sự chuyên hoá theo cầu trúc Mông - Dao Nhưng các trường hợp này
xuất hiện rất ít chỉ xắp xi (1%) trên tổng số tư liệu thu được, còn lại cấu trúc Hán vẫn là cơ bản
Trong các kết cấu chính phụ của địa danh gốc Hán, các yếu tố phụ và những
yếu tố chính kết hợp với nhau thành các chuỗi địa danh Nếu một địa danh bắt đầu bằng một yếu tổ phụ là “Tả” ( - Đại “Lớn”) thì sẽ tổn tại một loạt các địa danh
theo cầu trúc kiểu Ta + Xn (trong đó Xn là các yếu tổ chính khác nhau), thí dụ: 7ẻ
Van Chu (K #§ ), Tả Chỗ ( BH), Tủ Cán Hệ (4 FY) Con néu mot địa
danh có yếu tố chính là “Chải” ( - Trại “Làng”) thì cũng sẽ tồn tại một loạt các
cấu trúc theo kiểu Yn + Chải (trong đó Yn là những yếu tố phụ hạn định cho thành
tố chính), thí dụ: Cắn Chải (-F-3), Sin Chải (fi3E), Chúng Chải (3E)
2.2.2 Số lượng các đơn vị địa danh gốc Hán cấu tạo theo quan hệ đẳng lập không nhiều (10/320 trường hợp), trong đó chủ yếu là những địa danh song tiết bao
gồm 2 yếu tố, thí dụ: Lù khẩu (E&L1 - Lộ khẩu “ngã ba"), Phìn Ngan (73t - Bình
an) Trong những trường hợp này các yếu tố “Lù” (E#), Phin (Z) kết hợp với các
yếu tố Khẩu (1), Ngan (52) để tạo thành các địa danh mà vai trò các yếu tố ngang
nhau trong cấu trúc của địa danh
Trang 9
Những địa danh
49
2.3 Về ngữ nghĩa của các địa danh gốc Hán
Đối với các địa danh nói chung thi nghĩa của địa danh chính là nghĩa của từng
yếu tố cấu tạo địa danh đó Do vậy, nghĩa của các địa danh thường được xác định
bằng công thức: nghĩa (yếu tố chính) + nghĩa (yếu tố phụ) = nghĩa địa danh Trong
đó yếu tố chính được xem mang nghĩa cơ bản và yếu tố phụ mang nét nghĩa hạn
định Các yếu tố chính của các địa danh gốc Hán ở đây được phân chủ yếu thành
mấy nhóm nghĩa sau:
- Nhóm 1 Yếu tỗ chính gọi theo sự bằng phẳng của địa hình như: Phủn (EẸ -
Binh “bai"), Sáng (1%) - Trưởng “sân, bãi”), ấn (H- - Phiẩn “phiến”
~ Nhém 2 Yéu td chinh goi theo sz không bằng phẳng của địa hình như; Thàng
(48 - Đường "Vũng”), T¡ ng Gl - Đồng “động”), Ván (- Loan “cua vòng”)
- Nhóm 3 Yêu tố chính liên quan đến sông, nước như: #ổ (7 - Hà “sông”,
Cháng (TT - Giang “sông”), Sư (2K - Thu) “nước”) ;
- Nhóm 4 Yếu tố chính chi khu dân cư như: Chải (3š - T: rai “lang”), Cai, Cai
(I - Nhai “cho, phd”), Chấn Cl - Trấn “ấp"), Sáng (2 - Hương “thôn”
- Nhám 5 Yếu tô chính liên quan đến núi như: Ngài (KE - Miai “vách núi”), Sdn (LL) Sơn “nủi”), Phá (È -Pha “núi”)
~ Nhóm 6 Yêu tô chính chỉ những vật cụ thể như: Sử (l{ - Thụ “cây"), Mẫn ([ 1 - Môn “cửa”, Lủ (BR - Lộ “đường”
Ở bảng dưới đây chúng tôi liệt kê những yếu tố chính điển hình có tần số xuất
hiện cao trong các địa đanh gốc Hán ở vùng nay ,
Bảng thống kê về ngữ nghĩa một số nhóm “yếu tố chính” trong kết cấu địa
danh gốc Hán
Thí dụ
trong địa danh xuất hiện Yếu tổ chính
Địa danh
1 | Yếu tổ chính gọi theo sự bằng | 46 (47%) | Phin ( EỆ- Bình | Giảng Phim phẳng của địa hình
2_| Yếu tố chính gọi theo sông | 40 (12,8%) | Hổ ('j-Hà “sing”? Suối hỗ Gk †)
Yếu tô chính là làng 28 (185%) | Chai (BE - Trai “lang”)| Te Giả (K9
4 | Yếu tổ chính liên quan đến núi | 64 (20,5 %) | Mgài (l§ - Nhai "vách| Chín Chư Ngài
ni”) (& + RE)
3 | Yếu tổ chính gọi theo sự không | 44 (14,1%) | Thằng (l8 - Đường Ì Lùng Thằng - | bằng phẳng của địa hình
6 | Yếu tố chính chỉ những vật 60 (12,4%) | Lẻ (8 - Lộ “đường”) Ì Me Lủ (18g) cụ thể khác
Chúng ta đễ nhận thấy ở vùng này có rất nhiều địa danh được hình thành lúc
đầu từ các thành tổ chung chỉ các loại đối tượng địa lí khác như các yếu tố chỉ sơn
văn, thuỷ văn như #ồ (†J- Hà “sông”), Cháng (†T- Giang “sông”), Ngài (EÉ - Nhai
“vách núi”), Sản, San (iL) - Son “nui”), Phá (GR - Pha “núi”) Sau đó các yếu tế
này đã chuyển hoá thành các yếu tố chính chỉ địa danh hành chính ở đây Pở: Hồ (E3
FR), Tu San (#81), Tung Chung Phố (2EZERIB) Hay cũng có thể nói cách khác là
Trang 1030 ; Ngôn ngữ số 11 nam 2005 các địa danh ở đây có sự chuyển hoá từ một loại địa danh khác nhưng đã được
chuyển thành các địa danh hành chính Cũng có trường hợp bản thân các yếu tổ là
thành tố chưng chỉ địa danh dân cư và sau đó chuyén hod thành yếu tố chính của
địa danh như: Cải (BE - Trại “làng"), Cài, Cai (fl - Nhai “chợ, phố”), Chan (‡Ñ- Trdn “ip”) > Ching Chai (P38), Sang Chiu Cai (EIB#D), Sa Seng (FY)
Đối với các yếu tế phụ mang nghĩa hạn định cho thành tế chính có thể chia
thành những nhóm phổ biến sau:
- Nhóm 1 Hạn định về tính chất cho yếu tố chính: Lao (# - 1ão “cũ, già”), Sin (Bf - Tan “méi”), Hod GF - Hoat “nhin”)
- Nhóm 2 Hạn định về kích thước: Tả (X - Đại “to”), Séo (/)\ - Tiểu “nhỏ”)
- Nhóm 3 Hạn định về vị trí: Sảng ( L- - Thượng “trên”), Chúng (th - Trung
“giữa”), Xà CF - Ha “duéi”)
~ Nhóm 4 Hạn định về hình đáng địa danh: Chin Chur (3 - Kim Ty “chit
kim", Ma Py (Gh - Ma Ty “mii ngua”), Ky Quan (W85E - Ké Quan “mao ga”)
~ Nhóm 3 Hạn định bằng vật cụ thể: Khu Chu (Et - Khé Tic “yầu”), Chín
Chu (45 - Kim Trúc “Trúc vàng”)
- Nhóm ó Hạn định bằng tên riêng: Giảng (I§- Dương “họ Dương”), Lô ( -
1a “họ La”), Má (2 - Mã “họ mã")
¬ Mhóm 7: Hạn định về phương hướng: Nàn (Rf - Nam “hướng nam”), Tùng
TK - Đông “hướng đông”)
.„ „" Nhóm 8: Hạn định về số lượng: Sử Pà (-†-/\ - Thập Bái “mười tám”), Sdn Khổ C2 - Tam Cá “ba cái”), Bá Tả (JV{X - Bát Đại “tám đời”)
Ở bảng dưới đây chúng tôi liệt kê những yếu tổ phụ điển hình có tần số xuất
hiện cao trong các địa danh gốc Hán ở vùng này
Bảng thống kê về ngữ nghĩa một số nhóm “thành tố phụ” điển hình trong kết cầu địa danh gốc Hản
trong địa danh xuất hiện Yếu tố chính Địa danh
1 | Han djnh vétinh chdt | 33 (10,6) | Lao (- Lão "cũ") Lao Chải (3/38)
2 | Handinh vékich thage | 33 (10,6%)| Tả (X - Đại "to”) Té Phin (ER)
3 | Han định về vị trí 30 (2,6%) | Săng(E- Thượng “tên”) Sting Chai LEE)
4 | Hạn định về hình đáng| 19(6⁄) | Ky Quan (1058 - Kê Ky Quan San (00% {1)
Š | Hạn định bằng những| 172(55%)| Khu Chu (2544 - Khé Kins Chas Lin
6 | Hạđnhbằg tmuiêng | 9(2/9%) | Giảng (I - Duong | Giang Chai (438)
“ho Dương”)
8 |HạnđinhvÈsốlượng | 6(19%) | Si Pa (+/\ - Thap Sir Pa Phin CE/\ER)
Bat “mudi tam”)