Tâm điểm của việc dạy - học ngoại ngữ Dinh Thanh Hué: Method và Methodology trong giáo học pháp ngoại ngữ và trong dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ Nguyễn Văn Huệ: 8o sánh từ chỉ loại
Trang 2MUC LUC
Nguyễn Minh Chính:
Về một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học tiếng
Việt của người nước ngoài
Trần Nhật Chính:
Từ Hán-Việt trong "Đăng cổ tùng báo"
Nguyễn Văn Chính - Vũ Thu Hường:
Bước đầu tìm hiểu về ngữ pháp - ngữ nghĩa của hư từ
phủ định "không" trong Tiếng Việt hiện đại
Bai Duy Dén:
Một vài nhận xét về chữ Hán và phương pháp dạy từ
Hán Việt cho người nước ngoài
Trần Thị Minh Giới:
Cách vận dụng các mẫu câu vào việc thực hành tiếng Việt
cho người nước ngoài ở giai đoạn đầu
So sánh cách diễn đạt cấu trúc vị từ tác động - kết quả
trong tiếng Việt và tiếng Anh
Trang 3Huỳnh Công Hiển:
Phân tích và dạy cho học viên người nước ngoài về hệ thống các câu hỏi về thời gian trong tiếng Việt
Trịnh Đức Hiển:
Đổi mới hình thức và ý nghĩa của thành ngữ tiếng Việt
Nguyễn Chí Hoà:
Từ quan hệ móc xích giữa các câu đến hướng dẫn viết
bài tự luận cho sinh viên
Dinh Thanh Hué:
Phát triển kỹ năng nói Tâm điểm của việc dạy - học
ngoại ngữ
Dinh Thanh Hué:
Method và Methodology trong giáo học pháp ngoại ngữ
và trong dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ
Nguyễn Văn Huệ:
8o sánh từ chỉ loại trong tiếng Việt với từ chỉ loại trong
tiếng Ragla
Đào Văn Hùng:
Vai trò của các trợ từ cuối câu trong việc hình thành các
hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Hà Thu Hương:
Một vài suy nghĩ về cách dạy đọc theo sự phản hồi
Nguyên Việt Hương-Nguyễn Thanh Huyền:
Một số vấn đề về việc biên soạn bài đọc tiếng Việt cho sinh
viên nước ngoài
Phạm Tuấn Khoa:
Một vài ý kiến về kỹ năng nghe hiểu và việc phát triển
văn hoá giao tiếp
Trang 419 Nguyén Thién Nam:
Một vài suy nghĩ về việc ứng dụng phương pháp giao
tiếp vào giảng dạy tiếng Việt
Cách dạy từ vựng và luyện từ cho sinh viên nước ngoài
Thẩm Đức Phong - Nguyễn Chí Hoà:
Đúng phong cách lời nói một tiêu chuẩn của văn hoá
giao tiếp trong giảng dạy ngoại ngữ
Nguyễn Văn Phổ:
Ngữ cảnh và lời dẫn trong hội thoại
Mai Minh Tân:
Vấn để phân loại văn hoá ẩm thực của người Việt châu
thổ sông Hồng
Nguyễn Văn Thông:
Tìm hiểu một số kiểu hiệp vần trong tục ngữ Việt và Lào
Đỗ Thị Thu:
Về việc sử dụng nhóm quan hệ từ “cho, dé, ma, vi” trong tiếng Việt
Phạm Thu:
“Đông Duong tap chi” & “Nam Phong tạp chữ với vấn để
chữ Quốc ngữ và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
Trang 5Suy nghĩ về việc chú giải ngữ pháp trong các sách dạy
tiếng Việt như một ngoại ngữ
Vấn đề về lựa chọn “ngôn ngữ tối thiểu” theo quan điểm phát
triển văn hoá giao tiếp
Các cách diễn đạt thể hoàn thành trong tiếng Việt và
việc ứng dụng trong việc dạy tiếng Việt
Suy nghĩ bước đầu về phương pháp dạy viết cho học
viên nước ngoài hệ chính quy
Chủ để tương phan trong cấu trúc thông điệp của câu
tiếng Hàn và tiếng Việt
4ÿ
Trang 6BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ NGỮ PHÁP- NGỮ NGHĨA
CỦA HƯ TỪ PHỦ ĐỊNH "KHÔNG" TRONG
TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
Nguyễn Văn Chính - Vũ Thu Hường"
1 Khi nghiên cứu tiếng Việt, tất cả các nhà ngữ pháp
đều có sự thống nhất cơi đây là một phụ từ có ý nghĩa phủ
định So với các từ có cùng chức năng thì không thường được cơi là từ phủ định có tần số xuất hiện nhiều nhất Theo thống
kê của chúng tôi qua một số truyện ngắn rút trong tập "700
truyện ngắn hay Việt Nam" thì từ "không" chiếm số lượng khoảng 50% trong tổng số các từ và các cấu trúc phủ định
xuất hiện trong văn bản Chúng tôi cũng đã thử khảo sát một
đoạn văn tình cờ lấy trong truyện ngắn "Em khờ lắm" của Khuê Việt Trường in trên Tiển phong số 149 năm 1999, kết
quả cho thấy trong chưa đầy 10 dòng mà tác giả đã 4 lần sử
dụng các phát ngôn phủ định có sự hiện diện của từ phủ định
"không", cụ thể:
"Tại vì em không thích trốn anh thôi, mà khi em đã trốn
rồi thì đố anh tìm ra được em" Nàng bhông nói với tôi điều
đó, nhưng khi nàng đã &bông muốn tôi tìm nàng trên phố,
thì dù thành phố này chỉ có dăm con đường tro dưới nắng, dễ
chừng mọi người đều đã quen nhau, tôi vẫn không thé tim
gặp được nàng ”
` Khoa Tiếng Việt & Văn hoá Việt Nam cho người nước ngoài, ĐHQG Hà Nội
26
33
Trang 7Việc các kết cấu phủ định có chứa "ghông” xuất hiện
nhiều như vậy khiến chúng ta có thể coi nó như là một trong những hiện tượng cần được đề cập đến đầu tiên khi nói đến
phạm trù phủ định trong tiếng Việt Các nhà ngữ pháp khi
nghiên cứu tiếng Việt đều thống nhất xem đây là một từ có ý
nghĩa phủ định chân chính
Sở dĩ không nói riêng, các từ phủ định trong tiếng Việt
nói chung, xuất hiện nhiều như vậy bởi lẽ: hai hình thức
khẳng định và phủ định vốn là hai hình thức cơ bản trong
thao tác tư duy của loài người, và như vậy, đương nhiên
chúng phải được thể hiện trong ngôn ngữ trên cơ sở sử dụng các yếu tố và kết cấu ngôn ngữ để tạo lập các phát ngôn phủ
định và khẳng định Tình hình này không chỉ xảy ra cho
riêng tiếng Việt mà đây là một hiện tượng ngôn ngữ mang
Với một ý nghĩa chuyên biệt như vậy, thoạt nhìn người ta
dễ có cảm giác là diện hoạt động của không không được rộng
cho lắm nhưng đi vào thực tế thì bức tranh hoạt động của từ phủ định này lại hết sức phong phú
2 Chúng tôi sẽ tìm hiểu từ phủ định "không” ở các
vị trí và ý nghĩa như sau
9.1 "Không" ở vi trí phủ định uị từ P theo mô hình
S+ không +P
Đây là một cấu trúc điển hình có chứa "không ” Tôn tại ở
vị trí trước P, "không” tham gia vào việc phủ định vị từ P
Trang 8Tức là người nói dùng "kbóng” để phủ nhận một hiện tượng,
một tính chất, một hành động, v.v Hay nói cách khác, phần
bị phủ định là phần phía sau từ phủ định "không" bất luận
đó là thành phần loại gì (trừ trong loại câu hỏi nghỉ vấn đi với từ "mở" để biểu thị ý nghĩa khẳng định, ví dụ như: "Tôi
mà không biết nó sao?”) Ví dụ:
[1] " dĩ nhiên bần nông là gì, nó khác địa chủ, phú nông
ở chỗ nào thì tôi không biết" (Bước qua lời nguyên, Tạ Duy
Ảnh, tr.76)
[2] "Nhưng tất cả những cuốn sách ấy đều không dạy con cái lần đầu tiên ấy Không, con hoàn toàn không ấu trĩ" (Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Y Ban, tr.122)
[5| ° Vậy, khi tôi thấy tôi còn một mình bơ vơ giữa làng không cha không mẹ bhông bù con cô bác, không ai đoái thương thì tôi quyết lên núi liều mình, cho thú dữ ăn đi cho
rồi" (Thầy LaZaRô Phiên, Nguyễn Trọng Quan, tr.35)
Qua các ví dụ [1], [2], [3] vừa dẫn, chúng ta thấy khả năng hoạt động của không là tương đối rộng Trong kết hợp với
khi đề cập đến cấu trúc "§ không P" thì các nhà nghiên cứu
thường né tránh, không nói đến cái năng lực có thể kết hợp
với từ loại danh từ của "không" Nếu tác giả nào có đề cập tới
các hiện tượng này thì cũng cho đây là trường hợp ngoại lệ, không điển hình vì rằng sẽ là mâu thuẫn một khi các nhà ngữ pháp đã khẳng định "*hông" là yếu tố hư từ chuyên phụ
nghĩa cho động từ
Trang 9Theo chúng tôi, khi nhìn nhận các sự kiện ngôn ngữ theo một cách nhìn động, tức là xem xét các sự kiện ngôn ngữ trên
cơ sở gắn chặt chúng với các chức năng mà chúng đảm nhiệm
thì kết cấu "&bông + danh từ" là một cấu trúc khá điển hình
trong tiếng Việt Đối với những trường hợp như vậy, vai trò
của từ phủ định là rất quan trọng Sự hiện diện của từ phủ
định "không" trong các kết cấu kiểu này là bắt buộc, tức
không thể loại bỏ khỏi phát ngôn mà không làm thay đổi ý
nghĩa Nói cách khác, sự hiện diện của "không" trong cấu trúc phải được coi như là điều kiện cần và đủ để cho phát
ngôn được hiện thực hóa So sánh:
- " Tôi thấy tôi còn một mình bơ vợ giữa làng không cha
bhông mẹ và không bà con cô bác, không a1 đoái thương thì
tôi quyết lên trên núi liểu mình cho tht di ăn" (+) Với:
Tôi thấy tôi cồn một mình bởơ vơ giữa làng ( ) cha ( )
mẹ ( ) bà con cô bac "
Rõ ràng khi chúng ta thử lược bố "không" phát ngôn đã
thay đổi hoàn toàn ý nghĩa, các mối liên hệ nội tại của nó đã
bị pha va
Trường hợp "không + danh từ" xuất hiện khá nhiều
trong tiếng Việt Người ta thường bắt gặp kiểu nói: Không
mua không phải không tiên không mua; hoặc: Hắn là một kẻ không nghệ không nghiệp Hay như lời bài hát "Đêm đông"
nổi tiếng do nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sáng tác từ thời
tiền chiến " có ai thấu tình cô nữ đêm đông không nhà" Điều thú vị là hiện tượng từ phủ định kết hợp trực tiếp
với danh từ không chỉ là hiện tượng của riêng tiếng Việt mà
khi tìm hiểu so sánh với tiếng Anh chúng tôi cũng thấy tình hình tương tự Người Anh cũng sử dụng lối nói "không + danh từ" khá phổ biến, chẳng hạn một câu như: " No sensible
Trang 10man would say that" thi No sensible man tương ứng với
không người hiểu biết (nào); hay trong câu "No cigarette is
completely harmless” thi két hgp No cigarette hoàn toàn ứng
với không thuốc lá (nào)
Rõ ràng một kiểu kết hợp khi đã có mặt trong ít nhất là
hai ngôn ngữ (ỏ đây là tiếng Việt và tiếng Anh, hai thứ tiếng
thuộc hai họ ngôn ngữ khác nhau) thì chúng ta không nên coi
đó là kết hợp dặc biệt mang tính ngoại lệ nữa Mặt khác,
khẳng định kết hợp phủ định "không + danh từ" chúng tôi
cũng muốn chỉ ra rằng: Cái hiệu lực giao tiếp đích thực của
một yếu tố ngôn ngữ chỉ thực sự được bộc lộ khi nó nằm trong những kết hợp ngôn ngữ cụ thể mà tại đó các yếu tố ngôn ngữ phối hợp với nhau, nương tựa vào nhau theo quy luật
ngôn ngữ Các kiểu kết hợp khác nhau của cùng một yếu tố ngôn ngữ là nhằm chuyển tải những nội dung ý nghĩa khác
nhau nhưng chúng phải được coi là có giá trị như nhau nếu xem xét về mặt cấu trúc Các dạng cụ thể của kết hợp "không
P" là đẳng trị chứ không thể coi kết hợp này là đương nhiên
còn kết hợp kia là ngoại lệ, là đặc biệt và trái qui luật
Trở lại với các ví dụ [1], [2], [3] mà chúng ta đã dẫn, nếu
lược hết các yếu tố ngôn ngữ nằm ngoài tổ hợp "khéng P"
chúng ta còn:
không biết (ở [1])
không ấu trĩ (ở [2})
không cha không mẹ không bà con cô bác (ở [3])
Mối quan hệ của từ phủ định "không" với "biết", với "ấu trĩ" và
với "cha, mẹ, bà con, cô bác" là như nhau và đó là mối quan hệ gắn
bó giữa từ phủ định với một sự tình bị phủ định bất luận cái sự tình ấy có thể được xem xét và sắp xếp vào từ loại nào (động từ, tính từ hay danh từ) theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học
Trang 119.9 Mức dộ gắn kết giữa từ phủ định uới thành phần mà nó phủ định
Chúng ta có thể thấy đây là một mối gắn kết hữu cơ Xét
trên bình diện câu, không còn nghỉ ngờ gì khi nói rằng Pla một trong hai thành phan can yéu, lam tién dé cho su tổn tại
của câu Nhưng khi chúng ta xét P trong quan hệ với tổ hợp
"không P" thì P chỉ còn được hiểu là cái phần được đem ra phủ định Một kết cấu được coi là kết cấu phủ định không thể chỉ là cái phần được đem ra phủ định mà nó phải là sự tổ hợp
biện chứng giữa một bên là từ phủ định và bên kia là phần bị
phủ định, vắng một trong hai bộ phận trên có nghĩa là không
có kết cấu phủ định Trở lại với các ví dụ [1], [2] [3] đã nêu giả sử chúng ta tạm lược bổ bộ phận từ phủ định "không" ngay lập tức kết cấu phủ định bị vi phạm, kết cấu phủ định
không còn tổn tại nữa và thay vào đó là các kết cấu khẳng
định tương ứng So sánh:
" dĩ nhiên bần nông là gì, nó khác địa chủ, phú nông ở
chỗ nào thì tôi không biết" (kết cấu phủ định)
đi nhiên bần nông là gì, nó khác địa chủ, phú nông ở
chỗ nào thì tôi öi¿ế? (kết cấu khẳng định)
3.3 Chúc năng phú định cụ thể của "không"
Chúng ta thấy, "không" có thể được sử dụng với chức
năng là yếu tố chuyên dụng để phủ định một thành phần câu nói Đó có thể là một thành phần chính của câu mà cũng có thể là một thành phần phụ nào đó Thành phần chính của
t1
Trang 12{4]- Tao không dién, cing khéng gan => Phủ định tính chat 2.3.2 Trong mô hình -
Ngoài chức năng kết hợp với các sự tình chỉ hành động
chân chính, từ phủ định "không"” còn có thể đứng trước để
phủ định một sự tình mà diện thể hiện cụ thể là một kết hợp
giữa một động từ khuyết thiếu với các động từ đi kèm kiểu
như "không được ", "không phải ', "không nên `,
'òÒhêông cần " Ví dụ:
[7] Nhà Điền kiết xác xơ Các em Điền không được đi học
Mà cũng không được ăn no nữa
{8] - Mây với ông ta, a1 hơn ai?
- Khó nói Cũng không nên so sánh Rất khác nhau
2.3.3 "Không" dùng để phủ định sự uật, đối tượng
Với chức năng này, "không" thường đứng ngay trước
danh từ hay danh ngữ mà nó phủ định như đã trình bày ở
2.2 Mô hình kết cấu là: S + không + P (danh từ) Ví dụ:
- hông cha, không mẹ, không bà con cô bác
Cần lưu ý rằng kết cấu " không + danh từ" vừa nêu hoàn toàn không đồng nhất với cấu trúc "không + có + danh từ" hoặc "không + là + danh từ" Các cấu trúc "không có "
hay "không là " phải được hiểu là những cấu trúc tương
ứng với kiểu kết cấu "không + động từ" đã nêu ở 2.5.2 (tuy