Chính vì vậy, công tác định giá doanh nghiệp đòi hỏi phải xem xét tất cả các mối quan hệ nói trên không chỉ đơn thuần bao gồm nội dung đánh giá về những tài sản trong doanh nghiệp, mà đi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-VŨ THỊ MINH THỤC
ĐỊNH GIÁ GIÁ TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA VIỆT NAM
Chuyên ngành
Mã số
: Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỖ KIM SƠN
HÀ NỘI – NĂM 2011
Trang 2Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt Danh mục các bảng biểu
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ Lời mở đầu
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP
Trang 31.3.6 Phương pháp hiện tại hoá lợi nhuận thuần (PV)
CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ CÔNG TY CP NHỰA VIỆT NAM
Trang 42.2.3.2 Theo phương pháp giá trị kinh tế gia tăng (EVA)
Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục
Trang 7Số STT hiệu bảng
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
STT
12
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT
123
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chuyển đổi hình thức sở hữu được coi là nhiệm vụ chiến lược trongcông cuộc đổi mới của đất nước ta, là động lực thúc đẩy sản xuất kinhdoanh và là kênh huy động vốn rất hiệu quả đối với các doanh nghiệp Mộttrong những khâu quan trọng của quá trình này là xác định giá trị doanhnghiệp, nó là cơ sở có sức chi phối rất lớn đến các quyết định và hành độngcủa chính phủ, nhà đầu tư, nhà quản lý và các bên liên quan
Tất cả đều thừa nhận, giá trị doanh nghiệp được xác định hợp lý sẽđảm bảo lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích của Nhà nước Quá trình xác địnhgiá trị doanh nghiệp nhằm mục đích tính toán chính xác sự thay đổi về mặtgiá trị của doanh nghiệp tại thời điểm nhất định Các chuyên gia kinh tế chorằng: việc xác định giá trị doanh nghiệp là hoạt động khoa học có tính tổnghợp và dự toán cao, vì quá trình xác định giá trị doanh nghiệp không chỉdựa vào những thông tin hiện có về doanh nghiệp mà còn dựa vào thông tin
về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp dự tính trong tương lai
và các thông tin kinh tế khác có liên quan
Mỗi doanh nghiệp có đặc điểm riêng về tài sản đầu tư, lao động,ngành nghề kinh doanh nên việc xác định giá trị doanh nghiệp ở những thờiđiểm nhất định là một việc rất phức tạp Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam
là một doanh nghiệp có cổ phần Nhà nước chi phối và đang tiến hành xácđịnh giá trị doanh nghiệp lần thứ hai
Nghiên cứu, tìm hiểu và xác định giá trị doanh nghiệp ngoài phươngpháp mà Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam đã áp dụng trong việc xác địnhgiá trị doanh nghiệp lần thứ nhất là rất cần thiết
Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Định giá giá trị Công ty Cổ phần
1
Trang 10Nhựa Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ.
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Đã có một số tài liệu, đề tài ở Việt Nam hiện nay có một số công trình, bài viết đề cập đến vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp như:
- PGS PTS Nguyễn Đình Kiệm, PTS Nguyễn Đăng Nam
(1999),
Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản Tài chính.
- Nguyễn Hải Sản (1999), Định giá và xếp hạng tín nhiệm doanh
nghiệp, Nhà xuất bản trẻ.
- Nguyễn Minh Hoàng (2005), Nguyên lý chung định giá tài sản và
giá trị doanh nghiệp, Nhà xuất bản Tài chính.
- PGS TS Trần Thị Thái Hà (2005), Đầu tư tài chính, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội
- TS Phan Đức Dũng (2009), Phân tích báo cáo tài chính và định
giá trị doanh nghiệp, Nhà xuất bản thống kê.
Và một số Luận văn thạc sĩ, tiến sĩ:
- Trần Ngọc Thơ (1996), Những phương pháp định giá các doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ Khoa
học Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
- Nghiêm Sỹ Thương (2000), Xác định mô hình định giá doanh
nghiệp Nhà nước trong quá trình cổ phần hóa tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ
kinh tế, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
- Nguyễn Minh Hoàng (2001), Phương pháp xác định giá trị doanhnghiệp ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Tài chính HàNội
- Lê Trần Phương Linh (2005), Định giá doanh nghiệp nhà nước cổ
phần hoá, thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 112
Trang 12- Trần Văn Dũng (2007), Hoàn thiện công tác định giá doanh nghiệp
ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí
Minh
Có thể thấy phạm vi của các nghiên cứu và các bài viết này chỉ đềcập đến hệ thống lý luận cơ bản về một số phương pháp phổ biến trong sốrất nhiều phương pháp định giá doanh nghiệp hoặc một số khía cạnh củaphương pháp định giá doanh nghiệp mà thôi
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản của việc xác định giá trịdoanh nghiệp, công tác định giá doanh nghiệp và nghiên cứu một sốphương pháp xác định giá trị doanh nghiệp đang được sử dụng phổ biếntrên thế giới
- Định giá giá trị Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam qua một sốphương pháp khác nhau, đánh giá sơ bộ ưu điểm và hạn chế của cácphương pháp đó Từ đó đưa ra kết quả xác định giá trị Công ty Cổ phầnNhựa Việt Nam
4 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Một số phương pháp xác định giá trị doanhnghiệp trên thế giới và các phương pháp đang được áp dụng phổ biến ởViệt Nam hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu một số phươngpháp xác định giá trị doanh nghiệp như phương pháp chiết khấu dòng tiền(DCF) (cụ thể là phương pháp chiết khấu dòng tiền tự do của doanh nghiệp(FCFF) và phương pháp chiết khấu luồng cổ tức (DDM)), phương pháp giátrị kinh tế gia tăng (EVA), phương pháp so sánh và phương pháp thu nhậptrên cổ phiếu (P/E) áp dụng vào Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam
Trang 133
Trang 145 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bảnnhư phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cụ thể; kết hợp giữa lý luận
và thực tiễn Ngoài ra tác giả còn dùng phương pháp phân tích thống kê;toán tài chính; tổng hợp; so sánh; dự đoán xu hướng và phân tích số liệu…nhằm làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu đã đặt ra
- Khảo sát thực tế Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam giai đoạn
2006
-2010: nghiên cứu văn bản pháp lý và hồ sơ liên quan đến định giá, phỏngvấn trực tiếp, tóm tắt thông tin thu thập được, phân tích, đánh giá và nhậnđịnh
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Hệ thống hoá những lý luận cơ bản của việc xác định giá trị doanh nghiệp, công tác định giá doanh nghiệp
- Định giá giá trị Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam qua một sốphương pháp khác nhau, đánh giá sơ bộ ưu điểm và hạn chế của cácphương pháp đó Từ đó đưa ra kết quả xác định giá trị Công ty Cổ phầnNhựa Việt Nam
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày theo 2 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về định giá doanh nghiệp
Chương 2 : Xác định giá trị Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam.
4
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP
1.1 GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.1 Giá trị doanh nghiệp
Khái niệm về giá trị doanh nghiệp cần được xem xét trên các góc độ
về đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp
- Thứ nhất : Là một tổ chức, một đơn vị kinh doanh Nhưng đồng thời cũng là một hàng hoá đặc biệt Theo đó, doanh nghiệp cũng có thể trao đổi,
mua bán như những hàng hoá thông thường khác Khái niệm “doanh
nghiệp” cũng như khái niệm về “giá trị doanh nghiệp” là những khái niệmthuộc phạm trù của kinh tế thị trường Quan niệm về giá trị, cũng như tiêuchuẩn để nhận biết giá trị như đã nêu ở phần trên được sử dụng để định giádoanh nghiệp
- Thứ hai : Là một tổ chức, một đơn vị kinh tế, không giống như những tài sản thông thường Doanh nghiệp là một thực thể kinh tế luôn vận động Thông qua sự vận động để nhận ra doanh nghiệp Doanh nghiệp
không phải là một tập hợp các loại tài sản với nhau Khi phá sản, doanhnghiệp không còn tồn tại với tư cách của một tổ chức kinh doanh nữa và chỉ
là một sự hỗn hợp các loại tài sản đơn lẻ, rời rạc để thanh lý, phát mãi nhưnhững hàng hoá thông thường Nó không còn đầy đủ ý nghĩa của mộtdoanh nghiệp Chính vì vậy, giá trị doanh nghiệp là một khái niệm chỉ dùngcho những doanh nghiệp đang trong quá trình liên tục hoạt động
- Thứ ba : Là một tổ chức, một đơn vị, một hệ thống và đồng thời cũng là một phần tử trong hệ thống lớn - nền kinh tế Do đó, sự tồn tại của
doanh nghiệp là ở mối quan hệ của nó với các phần tử khác của hệ thống, tức là mối quan hệ với các cơ quan, các thể nhân và pháp nhân kinh tế
5
Trang 16khác Sự tồn tại của doanh nghiệp không chỉ được quyết định bởi các mốiquan hệ bên trong doanh nghiệp mà còn bởi mối quan hệ với các yếu tố bênngoài, như: môi trường kinh doanh, nguồn lực, nhà cung cấp ….
Sự phát triển của doanh nghiệp ở mức độ nào là tuỳ thuộc vào mức
đô bền chặt của các mối quan hệ đó với môi trường xung quanh Doanhnghiệp có đạt được mục tiêu lợi nhuận của mình hay không sẽ phụ thuộc cótính quyết định ở các mối quan hệ đó Chính vì vậy, công tác định giá
doanh nghiệp đòi hỏi phải xem xét tất cả các mối quan hệ nói trên không
chỉ đơn thuần bao gồm nội dung đánh giá về những tài sản trong doanh nghiệp, mà điều quan trọng hơn là phải đánh giá nó về mặt tổ chức, nguồn nhân lực, danh tiếng, những triển vọng …
- Thứ tư : Các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp không nhằm vào
việc sở hữu các tài sản cố định, tài sản lưu động hay sở hữu một bộ máykinh doanh năng động mà nhằm vào mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm lợi
nhuận Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả hoạt động - lợi ích doanh nghiệp
đối với các nhà đầu tư là ở các khoản thu nhập từ hoạt động SXKD Vì vậy,
tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, giá trị doanh nghiệp đượcxác định căn cứ vào các khoản thu nhập trong quá trình SXKD
Nói tóm lại, giá trị doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền về cáckhoản thu nhập mà doanh nghiệp mang lại cho các nhà đầu tư trong quátrình SXKD Để định giá doanh nghiệp, xét về mặt nguyên lý, chỉ có thểtồn tại hai cách tiếp cận, đó là:
(2)Trực tiếp đánh giá giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp và đánh giágiá trị của yếu tố tổ chức
(3) Bằng một phương pháp nào đó để lượng hoá các khoản thu nhập màdoanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư một cách đáng tin cậy Do đó,trong công tác định giá doanh nghiệp, một phương pháp định giá doanh
6
Trang 17nghiệp, được gọi là cơ bản và khoa học, trước hết, phải thuộc vào một tronghai cách tiếp cận nói trên Đồng thời, kết quả định giá doanh nghiệp khôngphải là giá cả của doanh nghiệp vì cũng giống như các loại hàng hoá khác,giá trị thị trường của doanh nghiệp chịu sự chi phối của các quy luật kinh tếkhách quan như quy luật giá trị, quy luật cung cầu … nên kết quả định giádoanh nghiệp chỉ là một căn cứ, một cơ sở tin cậy để các bên xem xétthương lượng và thống nhất còn giá cả là giá được thỏa thuận và chấp nhậngiữa các bên.
1.1.2 Các căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp
Xác định giá trị doanh nghiệp là sự ước tính với độ tin cậy cao nhấtcác khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể tạo ra trong quá trình sản xuấtkinh doanh, làm cơ sở cho các hoạt động giao dịch thông thường của thịtrường
1.1.2.1 Giá trị thị trường
Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được muabán trên thị trường vào thời điểm thẩm định giá, giữa một bên là người muasẵn sàng mua và một bên là người bán sẵn sàng bán, trong một giao dịchmua bán khách quan và độc lập, trong điều kiện thương mại bình thường:+ “Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ đượcmua bán trên thị trường ” là số tiền ước tính để tài sản có thể được mua,bán trên thị trường trong điều kiện thương mại bình thường mà sự mua bán
đó thoả mãn những điều kiện của thị trường tại thời điểm thẩm định giá.+ “Vào thời điểm thẩm định giá ” là ngày, tháng, năm cụ thể khitiến hành thẩm định giá, được gắn với những yếu tố về cung, cầu, thị hiếu
và sức mua trên thị trường khi thực hiện thẩm định giá trị tài sản
+ “Giữa một bên là người mua sẵn sàng mua ” là người đang có khảnăng thanh toán và có nhu cầu mua tài sản được xác định giá trị thị trường
7
Trang 18+ “Và một bên là người bán sẵn sàng bán ” là người bán đang cóquyền sở hữu tài sản (trừ đất), có quyền sử dụng đất có nhu cầu muốn bántài sản với mức giá tốt nhất có thể được trên thị trường.
+ “Điều kiện thương mại bình thường” là việc mua bán được tiếnhành khi các yếu tố cung, cầu, giá cả, sức mua không xảy ra những đột biến
do chịu tác động của thiên tai, địch họa; nền kinh tế không bị suy thoáihoặc phát triển quá nóng…; thông tin về cung, cầu, giá cả tài sản được thểhiện công khai trên thị trường
Giá trị thị trường thể hiện mức giá hình thành trên thị trường côngkhai và cạnh tranh Thị trường này có thể là thị trường trong nước hoặc thịtrường quốc tế, có thể bao gồm nhiều người mua, người bán hoặc bao gồmmột số lượng hạn chế người mua, người bán
Giá trị thị trường thể hiện mức giá ước tính mà trên cơ sở đó, bênbán và bên mua thoả thuận tại một thời điểm sau khi cả hai bên đã khảo sát,cân nhắc đầy đủ các cơ hội và lựa chọn tốt nhất cho mình từ các thông tintrên thị trường trước khi đưa ra quyết định mua hoặc quyết định bán mộtcách hoàn toàn tự nguyện, không nhiệt tình mua hoặc nhiệt tình bán quámức
1.1.2.2 Giá trị phi thị trường
Giá trị phi thị trường là số tiền ước tính của một tài sản dựa trên việcđánh giá yếu tố chủ quan của giá trị nhiều hơn là dựa vào khả năng có thểmua bán tài sản trên thị trường
Cơ sở của việc đưa ra khái niệm giá trị phi thị trường cũng xuất phát trựctiếp từ khái niệm giá trị tài sản: là biểu hiện bằng tiền về những lợi ích màtài sản mang lại cho chủ thể nào đó tại một thời điểm nhất định Sau đây
một số khái niệm giá trị phi thị trường thường dùng:
8
Trang 19- Giá trị còn lại (salvage value): là giá trị của tài sản (bao gồm cả đấtđai) không còn được tiếp tục sửa chữa hay sử dụng nữa Giá trị này có thểcoi như giá trị ròng của chi phí dỡ bỏ Trong mọi trường hợp, khi định giátài sản cần xác định rõ những bộ phận dỡ bỏ và những bộ phận còn lại củatài sản.
- Giá trị tài sản bắt buộc phải bán (forcedsale value): là tổng số tiềnhợp lý có thể thu về từ bán tài sản trong phạm vị thời gian quá ngắn so vớithời gian trung bình cần có để giao dịch mua bán theo giá trị thị trường Tạimột số nước, giá trị tài sản bắt buộc phải bán có thể liên quan đến tìnhhuống người bán tài sản chưa sẵn sàng bán và người mua tài sản biết rõviệc chưa sẵn sàng bán đó
- Giá trị đặc biệt (special value): là khái niệm có liên quan đến nhữngyếu tố đặc biệt có thể làm tăng giá trị tài sản lên vượt quá giá trị thị trường.Giá trị đặc biệt có thể nảy sinh khi một tài sản này có thể gắn liền với mộttài sản khác về mặt kỹ thuật hoặc kinh tế mà sự liên kết đó chỉ thu hút mốiquan tâm đặc biệt của một số ít khách hàng mà không thu hút sự quan tâmcủa nhiều người Các yếu tố của giá trị đặc biệt có thể nảy sinh khi xem xétyếu tố của giá trị tài sản đang quan tâm hoặc giá trị đầu tư Vì vậy cần thiếtphải phân biệt rõ ràng những thông số và nguyên nhân để vận dụng cáckhái niệm giá trị thị trường nói trên thay vì sử dụng khái niệm giá trị thịtrường
- Giá trị có thể bảo hiểm (insurable value): là giá trị của tài sản quy định trong hợp đồng bảo hiểm
- Giá trị có thể tính thuế (taxable value): là giá trị trong phạm vi luật pháp liên quan đến việc thuê mướn hoặc thu thuế tài sản
- Giá trị đầu tư (investment value): là giá trị của một tài sản đối với một
số nhà đầu tư áp dụng cho một dự án đầu tư nhất định Khái niệm này liên
9
Trang 20quan đến những tài sản riêng biệt với những nhà đầu tư riêng biệt Khôngnên nhầm lẫn giữa giá trị đầu tư và giá trị thị trường Giá trị đầu tư của mộttài sản có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thị trường của tài sản đó Tuynhiên giá trị thị trường có thể phản ánh một số đánh giá cá nhân về giá trịđầu tư Giá trị đầu tư có liên quan đến giá trị đặc biệt.
- Giá trị đang sử dụng (Value in use): là giá trị các tài sản khi nóiđang được một người cụ thể sử dụng cho một mục đích nhất định Vì vậy,tài sản đó không liên quan đến thị trường Loại giá trị này đóng góp vàomột doanh nghiệp với tư cách là một bộ phận của tài sản doanh nghiệp,không tính đến giá trị sử dụng tối ưu và tốt nhất của tài sản cũng như sốtiền mà tài sản đó mang lại khi nó được mang ra bán Xét trên giác độ kếtoán, giá trị đang sử dụng là giá trị hiện tại của luồng tiền mặt ước tính cóthể mang lại trong tương lai kể từ khi bắt đầu sử dụng tài sản đến khi thanh
lý tài sản
- Giá trị doanh nghiệp đang hoạt động (going concern): là giá trị toàn
bộ của một doanh nghiệp Khái niệm này liên quan đến định giá tài sản mộtdoanh nghiệp đang hoạt động mà mỗi bộ phận tài sản cấu thành nên doanhnghiệp đó không thể tách rời và cũng không thể thẩm định trên cơ sở giá trịthị trường
1.2 ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KTTT
1.2.1 Khái niệm về định giá doanh nghiệp và công tác định giá doanh nghiệp
Định giá doanh nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình đổimới doanh nghiệp, cấu trúc lại nền kinh tế và cũng thường được áp dụngkhi các doanh nghiệp tổ chức sắp xếp, cơ cấu lại dây chuyền sản xuất hoặccác bộ phận sản xuất kinh doanh Quá trình định giá nhằm mục tiêu tínhtoán, xác định giá trị của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Thông
10
Trang 21thường, đây là quá trình ước tính khoản tiền mà người mua có thể trả để cóđược doanh nghiệp Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế đều cho rằng: Địnhgiá doanh nghiệp là quá trình mang nhiều tính nghệ thuật hơn là tính chínhxác, vì quá trình định giá doanh nghiệp chủ yếu dựa vào các hoạt động sảnxuất kinh doanh dự tính trong tương lai chứ không chỉ đơn thuần dựa trêncác hoạt động quá khứ Điều này đòi hỏi các chuyên gia không những chỉnắm vững kỹ thuật định giá mà còn phải có khả năng phán đoán nghiệp vụtốt.
Hoạt động của doanh nghiệp là liên tục và biến đổi không ngừng nênkhi lập báo cáo tài chính người ta không quan tâm đến giá trị thực tế của
các loại tài sản mà chỉ phản ánh tài sản của doanh nghiệp theo “Nguyên tắc
giá gốc”, trên “cơ sở dồn tích” và tính “liên tục hoạt động” Theo đó, giá
trị thực tế của doanh nghiệp sau một thời gian hoạt động sẽ không còn phùhợp với giá trị sổ sách kế toán
Do vậy, có thể đưa ra khái niệm định giá doanh nghiệp như sau:
“Định giá doanh nghiệp là xác định giá trị ước tính của doanh nghiệp theo giá cả thị trường” và “Công tác định giá doanh nghiệp là trình tự, cách thức và phương pháp định giá được áp dụng để tiến hành định giá doanh nghiệp”.
“Giá trị ước tính” của doanh nghiệp gồm hai bộ phận: "Giá trị thực” của doanh nghiệp chính là giá trị còn lại của doanh nghiệp theo sổ
sách kế toán được tính theo giá thị trường vào thời điểm định giá và “Giá
trị kỳ vọng” chính là thu nhập kỳ vọng mà doanh nghiệp có thể mang lại
cho chủ sở hữu trong tương lai
1.2.2 Sự cần thiết phải định giá doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được coi như là một loạihàng hoá để được mua bán, được trao đổi Vì vậy, nhu cầu định giá hay xác
11
Trang 22định giá trị đối với loại hàng hoá này là một đòi hỏi khách quan Trong việcđiều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước cũng như trong hoạt động quản trịkinh doanh của các doanh nghiệp luôn cần thiết các thông tin về giá trịdoanh nghiệp Giá trị doanh nghiệp là bao nhiêu, cao hay thấp luôn là mốiquan tâm của các pháp nhân và thể nhân kinh tế có lợi ích liên quan, gắn bótrực tiếp đến các doanh nghiệp được đánh giá, cụ thể:
- Thứ nhất : Đối với các giao dịch hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất hoặc chia nhỏ doanh nghiệp Đây là loại giao dịch diễn ra có tính chất
thường xuyên và phổ biển trong cơ chế thị trường Nó phản ánh các nhucầu về đầu tư trực tiếp vào SXKD, phản ánh nhu cầu đi tìm nguồn tài trợcho sự tăng trưởng và phát triển bằng các yếu tố từ bên ngoài, làm gia tăngmột cách nhanh chóng tiềm lực tài chính, nhằm tăng cường giao dịch đó,đòi hỏi phải có sự đánh giá các yếu tố tác động tới doanh nghiệp; trong đó,giá trị doanh nghiệp là một yếu tố có tính chất quyết định, là căn cứ trựctiếp để quyết định mức giá trong các giao dịch
- Thứ hai : Giá trị doanh nghiệp thực chất là sự phản ánh năng lực
tổng hợp của một doanh nghiệp, phản ánh khả năng tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp Vì vậy, căn cứ vào đó, các nhà quản trị kinh doanh có thểthấy được khả năng cạnh tranh không chỉ của doanh nghiệp mình mà còn
cả khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp khác trong ngành và trong
nền kinh tế Vì vậy, giá trị doanh nghiệp là một căn cứ thích hợp, là cơ sở
để đưa ra các quyết định về kinh doanh, về tài chính … một cách đúng đắn Ngoài ra, khi phát hành chứng khoán nhằm thu hút vốn trên thị trường
cũng cần định giá doanh nghiệp làm cơ sở để tính toán được số lượng cầnthiết cho mỗi đợt phát hành chứng khoán
- Thứ ba : Dưới giác độ của các nhà đầu tư, của người cung cấp thì
thông tin về giá trị doanh nghiệp cho thấy một sự đánh giá tổng quát về uy
12
Trang 23tín kinh doanh, về khả năng tài chính, về vị thế tín dụng để từ đó có cơ sởđưa ra các quyết định về đầu tư, tài trợ hoặc có tiếp tục cấp tín dụng chodoanh nghiệp nữa hay không.
- Thứ tư : Giá cả của các loại chứng khoán trong điều kiện bình
thường (cung cầu về chứng khoán tương đối cân bằng) được quyết định bởigiá trị thực của doanh nghiệp có chứng khoán được trao đổi, mua bán trê n
thị trường Vì vậy, trên phương diện quản lý kinh tế vĩ mô, thông tin về giá
trị doanh nghiệp được coi là một căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức, các hiệp hội kinh doanh chứng khoán kịp thời nhận ra sự biến động không bình thường của giá cả chứng khoán, nhận ra
dấu hiệu của hiện tượng đầu cơ, thao túng thị trường, đầu cơ thâu tómquyền kiểm soát doanh nghiệp …để từ đó sớm có biện pháp cần thiết ngănchặn mối nguy cơ xẩy ra khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ hiện tượng củamột nền “kinh tế ảo”
- Thứ năm : Nội dung cốt lõi của quản trị tài chính doanh nghiệp, xét
cho đến cùng là phải tăng được giá trị doanh nghiệp Vì vậy, việc định giádoanh nghiệp định kỳ sẽ là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả của hoạtđộng tài chính trong các doanh nghiệp
- Thứ sáu : Việc xác định và thực hiện tốt các trình tự, cách thức và
phương pháp định giá áp dụng trong quá trình định giá doanh nghiệp sẽ làyêu cầu căn bản để công tác định giá doanh nghiệp được hiệu quả và đemlại giá trị phù hợp để các bên có liên quan dễ dàng chấp thuận
Trên đây là những lý do cơ bản đòi hỏi phải tiến hành công tác địnhgiá doanh nghiệp Đó vừa là những yêu cầu đời sống kinh tế nói chung,cũng vừa là đòi hỏi có tính chất thường nhật trong hoạt động sản xuất kinh
doanh đối với các doanh nghiệp nói riêng Đó cũng là những đòi hỏi, là mối quan tâm của 3 loại chủ thể khác nhau: Nhà nước, Nhà đầu tư và Nhà quản
13
Trang 24trị doanh nghiệp Tuy nhiên, việc định giá doanh nghiệp là một vấn đềkhông đơn giản, xét cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn của Việt Namcũng như trên thế giới.
1.2.3 Mục tiêu của định giá doanh nghiệp
Việc định giá doanh nghiệp là rất cần thiết do có nhiều đối tượngquan tâm đến giá trị của doanh nghiệp nhằm những mục đích khác nhau tạicác thời điểm nhất định Việc xác định giá trị của doanh nghiệp có thể phục
vụ một số mục đích như:
- Định giá doanh nghiệp để bảo hiểm
Các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp hoạt động trongcác lĩnh vực có nhiều yếu tố rủi ro, cần phải mua bảo hiểm cho quá trìnhhoạt động sản xuất cũng như mua bảo hiểm cho các loại tài sản cấu thànhnên doanh nghiệp Để các công ty bảo hiểm có thể thực hiện tham gia bảohiểm tại doanh nghiệp, thì giá trị của doanh nghiệp phải được xác định bởi
cả hai phía - công ty bảo hiểm và doanh nghiệp Trên cơ sở đó, hai bên tiếnhành đàm phán để kí hợp đồng bảo hiểm - cơ sở cho việc bảo hiểm tài sảnsau này khi xảy ra các vấn đề cần được bảo hiểm
- Định giá doanh nghiệp để vay vốn
Doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh luôncần vốn cho sự tồn tại và phát triển Tuy nhiên, nguồn vốn của doanhnghiệp là hữu hạn, do vậy, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp phải huyđộng vốn từ bên ngoài Đi vay từ các tổ chức tín dụng là một trong nhữngnguồn huy động quan trọng nhất của doanh nghiệp Để có thể vay vốn từNgân hàng cũng như các tổ chức tín dụng khác, ngoài hình thức tín chấpbằng uy tín của người bảo lãnh hay bằng chính uy tín của doanh nghiệp, thìdoanh nghiệp phải có tài sản thế chấp và tài sản đó có thể là chính giá trịcủa doanh nghiệp Vì thế, cả bên cho vay và bên đi vay phải cùng xác định
14
Trang 25giá trị của doanh nghiệp làm cơ sở cho quan hệ tín dụng giữa hai bên.
- Định giá để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động, người chủ, người quản lý doanh nghiệptiến hành định giá doanh nghiệp tại thời điểm bất kì, mà người đó muốn vàthấy rằng cần thiết để xem xét tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhưthế nào Trên cơ sở so sánh với giá trị của doanh nghiệp tại thời điểm địnhgiá so với giá trị của doanh nghiệp tại thời điểm trước, người chủ, ngườiquản lý doanh nghiệp có thể biết được doanh nghiệp có hoạt động hiệu quảkhông Nếu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, giá trị doanh nghiệp sẽ lớnhơn so với thời điểm định giá trước và ngược lại
- Định giá để tiến hành mua bán doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là một loại hàng hóa và
có thể được mua bán trên thị trường Việc mua, bán một doanh nghiệp làviệc chuyển đổi quyền sở hữu toàn bộ tài sản của doanh nghiệp Để quátrình mua bán có thể diễn ra, doanh nghiệp phải được xác định giá trị thực
tế - giá trị tại thời điểm mua bán Trên cơ sở giá trị của doanh nghiệp, haibên tiến hành đàm phán, thương lượng, thực hiện mua bán
- Định giá doanh nghiệp để cổ phần hóa
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển đổi từ sởhữu Nhà nước sang sở hữu tập thể hoặc cá nhân Quá trình chuyển đổi sởhữu có thể là chuyển đổi một phần doanh nghiệp hay toàn bộ doanh nghiệp
Để có thể tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp, trước tiên phải xác định giátrị của toàn bộ doanh nghiệp, làm cơ sở xác định giá trị mỗi cổ phần, giábán mỗi cổ phiếu
- Định giá trong các trường hợp khác
Việc định giá doanh nghiệp còn rất cần thiết trong những trường hợp khác như khi doanh nghiệp được chia tách, khi doanh nghiệp góp vốn liên
15
Trang 26doanh liên kết, thậm chí khi doanh nghiệp bị phá sản
Như chúng ta đã biết, mọi sự vật hiện tượng đều không ngừng biếnđổi, giá trị của doanh nghiệp cũng như vậy, giá trị của doanh nghiệp khôngphải là vĩnh cửu Do vậy, kết quả của một lần định giá doanh nghiệp chỉ cógiá trị tại một thời điểm nhất định Để có thể đáp ứng nhu cầu của các đốitượng khác nhau, việc định giá doanh nghiệp lại được tiến hành lại khi cầnthiết và ngày càng thường xuyên hơn Vì thế, sự cần thiết của công tác địnhgiá doanh nghiệp là không thể phủ nhận
1.3 PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều phương pháp định giá doanhnghiệp và được chia làm 6 nhóm phương pháp xác định giá trị doanhnghiệp
Bảng 1.1 Các phương pháp định giá doanh nghiệp trên thế giới
(Nguồn: Company valuation methods, the common errors in valuations – Pablo Fernández, IESE Bussiness School – Universidad de Navarra)
Trong thực tế, tuy có nhiều phương pháp định giá khác nhau nhưngcác chuyên gia tài chính đều có cùng một nhận định, sự khác nhau giữa cácphương pháp định giá chỉ mang tính tương đối Trong phạm vi bài viết này,tác giả xin đưa ra một số phương pháp được sử dụng phổ biến nhất đó là:
16
Trang 271.3.1 Phương pháp xác định giá trị nội tại (giá trị tài sản thuần)
Phương pháp này cho rằng giá trị của một doanh nghiệp bằng tổngcác giá trị của từng loại tài sản riêng biệt trừ đi các khoản nợ của doanhnghiệp đó
Căn cứ định giá doanh nghiệp là: các chứng từ; sổ sách kế toán; báocáo tài chính của doanh nghiệp những năm gần nhất; báo cáo kiểm kê tàisản; vật tư hàng hoá, tiền vốn; biên bản đối chiếu công nợ…; Một số loạihình định giá của phương pháp này như dựa trên việc bán tài sản của doanhnghiệp; dựa trên việc thanh lý tài sản; dựa trên giá trị tài sản ròng Tuynhiên với giả định là doanh nghiệp “hoạt động liên tục” nên trong luận văn
sẽ chỉ đề cập đến phương pháp định giá doanh nghiệp theo giá trị tài sảnròng Khi đó:
Giá trị doanh nghiệp = Giá trị tài sản ròng + Giá trị lợi thế
Trang 28Cách 2: Căn cứ vào giá trị sổ sách
Giá tài sản ròng = Tổng giá trị tài sản – Các khoản nợ
Tổng giá trị tài sản được xác định dựa vào số liệu trên bảng cân đối
kế toán, loại trừ các khoản không còn giá trị như nợ khó đòi
Xác định giá trị lợi thế
Với giá trị lợi thế, doanh nghiệp có thể thu được mức lợi nhuận caohơn so với các doanh nghiệp khác hoạt động trong cùng ngành Giá trị lợithế được đánh giá tuỳ thuộc vào thành tựu trong quá khứ cũng như tiềmnăng phát triển của doanh nghiệp
- Nếu giá trị lợi thế đã được đánh giá vào sổ sách kế toán thì lấy theo
số dư thực tế trên sổ sách kế toán để tính vào giá trị doanh nghiệp
- Nếu chưa xác định được giá trị lợi thế thì căn cứ vào tỷ suất lợinhuận siêu ngạch bình quân của n năm (thường là 5 năm) liền kề với thờiđiểm định giá
Trong đó:
Tỷ suất lợi nhuận
bình quân
Tỷ suấtlợi nhuậnsiêu ngạchGiá trịlợi thế
- Đơn giản, dễ tính toán vì nó phản ánh tương đối đầy đủ và trực quan giá trị các tài sản hiện có của doanh nghiệp theo mức giá thị trường
18
Trang 29- Với doanh nghiệp độc lập, qui mô nhỏ sẽ hiệu quả tốn ít thời gian
và chi phí
Nhược điểm:
- Phương pháp này đã bỏ qua phần lớn các yếu tố phi vật chất nhưnglại có giá trị thực sự và nhiều khi lại chiếm tỷ trọng rất lớn trong giá trịdoanh nghiệp, như: thương hiệu, bằng sáng chế, công nghệ độc quyền, trình
độ quản lý, trình độ công nhân, uy tín, thị phần…của doanh nghiệp
- Phương pháp này không cung cấp và xây dựng được những cơ sởthông tin cần thiết để các bên có liên quan đánh giá về triển vọng sinh lờicủa doanh nghiệp
- Đánh giá doanh nghiệp trong trạng thái tĩnh
- Trong nhiều trường hợp, kỹ thuật đánh giá quá phức tạp, chi phí tốn kém, thời gian kéo dài
Đối tượng áp dụng:
- Thường áp dụng trong trường hợp thị trường chứng khoán chưaphát triển hoặc đang trong giai đoạn đầu phát triển; hoặc thiếu thông tinlịch sử về tình hình hoạt động của doanh nghiệp; hoặc việc thu thập thôngtin để sử dụng các phương pháp định giá khác gặp khó khăn và không đủtin cậy
- Những doanh nghiệp độc lập hoặc có thu nhập và dòng tiền dựđoán là âm Khi đó, giá trị doanh nghiệp chỉ đơn thuần là giá trị thanh lýcủa tài sản
- Những doanh nghiệp khó dự đoán tình hình SXKD trong tương lai
1.3.2 Phương pháp chiết khấu dòng tiền (Discounted Cash Flow - DCF)
DCF là phương pháp mà giá trị doanh nghiệp được xác định bằng cách hiện tại hoá các luồng tiền thuần doanh nghiệp dự kiến thu được trong
Trang 3019
Trang 31tương lai theo một tỷ lệ chiết khấu tương ứng với mức độ rủi ro của doanh
nghiệp
Dòng tiền thuần của dự án đầu tư = Dòng tiền vào - Dòng tiền ra
Trong đó:
- “Dòng tiền vào” là các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể
mang lại dưới hình thức như: khấu hao TSCĐ, lợi nhuận thuần hàng năm
và các khoản vốn doanh nghiệp thu được khi dự án đầu tư kết thúc
- “Dòng tiền ra” là các khoản chi đầu tư vào doanh nghiệp, bao gồm
các khoản vốn đầu tư vào TSCĐ và TSLĐ thường xuyên cho doanh nghiệp
Phương pháp này được thực hiện thông qua công thức tổng quát sau:
V0=
t1
Trong đó:
Việc xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp này thường
được chia ra thành các bước cơ bản sau:
Quy trình thực hiện:
Bước 1: Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong
quá khứ, đánh giá, dự đoán chiến lược kinh doanh và kết quả kinh doanh
trong tương lai
Thực hiện dự báo dài hạn về các dòng tiền vào và dòng tiền ra trong
quá khứ để đánh giá ảnh hưởng đến dòng tiền phát sinh trong tương lai, bao
gồm: ước tính, dự đoán các chỉ tiêu như tỷ lệ tăng trưởng, tỷ suất hoàn vốn
20
Trang 32đầu tư Thường được thực hiện thông qua việc áp dụng phân tích SWOT(điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) hoặc phân tích Five Forces (Khảnăng thâm nhập thị trường, sản phẩm/dịch vụ thay thế, nhà cung cấp, đốithủ cạnh tranh, người mua/khách hàng) hoặc thông qua các bước:
- Đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp (phân tích đăcjtrưng của ngành, những lợi thế và bất lợi của doanh nghiệp qua đó đánh giáđược khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như tiềm năng phát triểncủa doanh nghiệp
- Dự tính tiềm năng của doanh nghiệp trong tương lai (khả năng xâydựng được hình ảnh của doanh nghiệp, các yếu tố có thể tác động mạnh tớihoạt động SXKD như lạm phát, cầu của thị trường đối với sản phẩm củadoanh nghiệp)
- Dự báo về doanh thu, chi phí vận hành, các khoản vốn đầu tư bổ sung và các khoản vốn rút ra khỏi quá trình luân chuyển trong từng năm
- Dự báo chu kỳ đầu tư (n) và giá trị doanh nghiệp ở thời điểm cuốicủa chu kỳ đó (V n ) Thông thường thời điểm cuối của chu kỳ đầu tư đượcxác định khi mà các số liệu dự báo trong tương lai xa không còn đủ độ tin cậy ở mức độ cần thiết
Bước 2: Xác định tỷ lệ chiết khấu dòng tiền i, nhưng phải đảm bảo các nguyên tắc
- Tỷ suất chiết khấu được lựa chọn trên nguyên tắc vừa thể hiện đượcyếu tố thời giá của tiền tệ vừa tính đến yếu tố rủi ro Tỷ suất này thường dựtính chi phí sử dụng vốn bình quân (phản ánh chi phí cơ hội đầu tư vốn vàodoanh nghiệp)
- Bao gồm i của tất cả các nguồn vốn vì CF phản ánh luồng tiềnthuộc sở hữu của tất cả các những người đầu tư vào doanh nghiệp Lãi suấtchiết khấu phải được xác định cộng thêm với rủi ro hệ thống mà các nhà
21
Trang 33đầu tư phải gánh chịu.
- Giá trị nợ và cổ phiếu ưu tiên tính theo luồng tiền trái chủ nhậnđược Giá trị vốn chủ sở hữu: lấy theo giá cổ phiếu của doanh nghiệp đangđược giao dịch trên thị trường Nếu không có thì có thể sử dụng giá trị sổsách và chính sách cơ cấu vốn
- Khi có những thay đổi bất thường trong tương lai như lạm phát, rủi
ro hệ thống thì phải điều chỉnh lại các yếu tố tính CF
Bước 3: Xác định giá trị hiện tại của dòng tiền thuần theo tỷ suất chiết khấu (i) nói trên để tìm ra giá trị doanh nghiệp.
Giá trị của toàn doanh nghiệp là tổng giá trị hoạt động SXKD trongcác năm của doanh nghiệp cộng với giá trị của tài sản khi kết thúc hoạtđộng SXKD
Giá trị vốn chủ sở hữu bằng giá trị toàn doanh nghiệp trừ đi giá thịtrường của tất cả các khoản nợ
Ƣu điểm:
- Định giá sát thực hơn giá trị của các doanh nghiệp đang hoạt động
có hiệu quả, có kế hoạch và chiến lược kinh doanh tốt, thể hiện khả năngphát triển trong tương lai
- Quan niệm về dòng tiền còn cho phép các chuyên gia định giádoanh nghiệp tránh được vấn đề phức tạp khi phải điều chỉnh số liệu kếtoán sao cho có thể phản ánh đúng thời điểm phát sinh các khoản tiền, nhưđiều chỉnh doanh thu, khấu hao, cách hạch toán hàng tồn kho …
Nhƣợc điểm:
- Áp dụng DCF sẽ gặp phải những khó khăn khi ước lượng tỷ suấthiện tại hoá (i) và chu kỳ đầu tư (n) Mặt khác, việc dự báo các “dòng tiềnvào” và “dòng tiền ra” nhiều khi phức tạp và mang tính suy đoán
- Đối với các doanh nghiệp không có chiến lược kinh doanh hoặc có
22
Trang 34chiến lược kinh doanh không rõ ràng thì phương pháp này trong chừng mực nào đó, có thể nói còn mang nhiều tính lý thuyết.
- Đòi hỏi một lượng thông tin lớn, mang tính tin cậy để đánh giá sựảnh hưởng của các yếu tố về môi trường vĩ mô, vi mô, các yếu tố bên trong
và bên ngoài tác động đến doanh nghiệp
Đối tượng áp dụng:
Đối với những doanh nghiệp có căn cứ để ước tính được tình hìnhhoạt động trong tương lai, những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vựcdịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn thiết kế xây dựng, tin học vàchuyển giao công nghệ … mà tài sản của doanh nghiệp chủ yếu là tài sản
vô hình
Một số biến thể của phương pháp DCF:
1.3.2.1 Phương pháp chiết khấu dòng cổ tức (DDM)
Định giá trên cơ sở chiết khấu dòng cổ tức thu được trong tương lai
về hiện tại với một tỷ lệ thích hợp tương ứng với mức rủi ro của chứngkhoán Dòng cổ tức là một phần của dòng tiền thuộc vốn chủ sở hữu, đượcphân phối cho cổ đông
Phương pháp này được xây dựng trên cơ sở nhà đầu tư bỏ tiền ramua chứng khoán (tức là mua doanh nghiệp) không phải là để lấy những tàisản hiện hành trong doanh nghiệp, mà là để đổi lấy các khoản thu nhập
trong tương lai Giá trị thực của một chứng khoán phải được đánh giá
bằng độ lớn của khoản thu nhập mà nhà đầu tư chắc chắn sẽ nhận được từ chính doanh nghiệp đó, chứ không phải thu nhập có được do yếu tố đầu cơ chứng khoán Theo đó, giá trị doanh nghiệp sẽ bằng tổng giá trị các loại
chứng khoán mà doanh nghiệp đã phát hành
Công thức tổng quát xác định giá trị thực của các loại chứng khoán
đã được xây dựng như sau:
23
Trang 35Công thức chỉ ra rằng giá trị thực của một chứng khoán được xác
định bằng tổng giá trị hiện tại của các khoản thu nhập trong tương lai mà
chứng khoán có thể đem lại cho người sở hữu nó Dựa vào công thức tổng
quát này người ta thực hiện xác định giá trị cho từng loại chứng khoán cụ
g)
Mô hình 2 giai đoạn:
P =
Tính tốc độ tăng trưởng g có thể được áp dụng theo 1 trong 2 cách:
* Dựa trên mức tăng trưởng cổ tức trung bình của quá khứ:
g = n D
n 1 D0
Trang 3624
Trang 37* Dựa vào phương pháp phân tích cơ bản:
g = ROE x (1 - D
)EPS
- Không cần quá nhiều giả thiết, dễ sử dụng
- Dễ dàng trong việc xác định Dt và tốc độ tăng trưởng của Dt
- Với một số doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng không ổn địnhthông qua việc sử dụng mô hình Gordon nhiều giai đoạn xác định từng giaiđoạn phát triển của doanh nghiệp: giai đoạn tăng trưởng cao, giai đoạn tăngtrưởng ổn định
Nhƣợc điểm:
- Mô hình rất nhạy cảm với hệ số đầu vào: tốc độ tăng trưởng của Dt,
phụ thuộc vào chính sách phân chia lợi tức cổ phần trong tương lai
- Mô hình sẽ không sử dụng được nếu g> i
- Mô hình sẽ khó áp dụng hoặc có thể không áp dụng được với cácdoanh nghiệp chưa thực hiện chi trả cổ tức trong quá khứ và sẽ đánh giáthấp giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp có xu hướng chi trả cổ tức thấp, sửdụng lợi nhuận để lại tái đầu tư
- Giả định mà mô hình đưa ra không phải lúc nào cũng đúng vì trongthực tế ít có doanh nghiệp nào cổ tức tăng trưởng với một tỷ lệ nhất định vàtồn tại mãi mãi
- Độ chính xác không cao
Đối tƣợng áp dụng:
Phương pháp này thường được sử dụng để định giá các doanh nghiệpdựa trên dòng lợi tức cổ phần, khá thích hợp với các doanh nghiệp cóchứng khoán được giao dịch trên thị trường, xác định giá trị tài sản thuầngặp nhiều khó khăn và những doanh nghiệp có tài sản hữu hình không đáng
25
Trang 38kể nhưng được đánh giá rất cao ở những giá trị vô hình, chẳng hạn như cácdoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, dịch vụ tài chính, ngânhàng, bảo hiểm, …
1.3.2.2 Phương pháp chiết khấu ngân lưu tự do của doanh nghiệp (FCFF)
Giá trị doanh nghiệp được tính bằng cách chiết khấu dòng tiền dựkiến của doanh nghiệp (dòng tiền còn lại sau khi trừ thuế và chi phí hoạtđộng nhưng trước khi thanh toán nợ vay) theo chi phí sử dụng vốn bìnhquân (chi phí sử dụng các nguồn tài trợ của doanh nghiệp được tính bìnhquân gia quyền theo tỷ trọng giá trị thị trường của từng yếu tố)
+ Trong đa số các trường hợp, giá trị của công ty có thể được tính bằng hiện giá FCFF dự kiến:
Trang 3926
Trang 40* Mô hình 3 giai đoạn:
n1 FCFF
V =
1t1
Trong đó:
gS : Tỷ lệ tăng trưởng giai đoạn ổn định
Để xác định được giá trị doanh nghiệp cần phải xác định được:
Dòng tiền thuần của công ty:
Dòng tiền thuần của công ty là tổng dòng tiền của tất cả những người
có quyền đối với tài sản của công ty, bao gồm các cổ đông, các trái chủ, và
các cổ đông cổ phiếu ưu đãi Có ba cách tính dòng tiền thuần của công ty
(FCFF):
- Cách 1: Cộng các dòng tiền của những người có quyền đối với tài
sản của công ty:
FCFF = FCFE + Int (1 - tC) + Các khoản trả nợ gốc - Các chứng
khoán nợ mới + Cổ tức cổ phiếu ưu đãi
Trong đó:
FCFE : Dòng tiền thuần của vốn chủ sở hữu
Int : Chi phí lãi vay
tC : thuế suất hiệu dụng
- Cách 2: Sử dụng thu nhập trước thuế và lãi vay (EBIT) làm cơ sở