1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN HAY NHẤT) rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện trong dạy học làm văn viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT ở trường THCSTHPT như thanh

19 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn luyện kỹ năng tư duy phản biện trong dạy học làm văn viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT ở trường THCS&THPT Như Thanh
Trường học Trường Thpt Như Thanh
Chuyên ngành Giáo dục Ngữ văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thanh Hoá
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 320,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, nghị luận xã hội là một đơn vị kiến thức không thể thiếu trong phần Làm văn của chương trình Ngữ văn THPT, có mặt trong tất cả các đề thi học kì, đề thi THPT quốc gia và đề thi

Trang 1

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển không ngừng của các ngành khoa học, nhiệm vụ của ngành giáo dục trở nên nặng nề và cần có sự đổi mới Yêu cầu đổi mới PPDH Ngữ văn ngay từ lí luận đến thực tiễn đang đặt ra nhiều thách thức và ngày càng đòi hỏi những thành tựu mới nhằm từng bước khắc phục tình trạng thụ động trong lĩnh hội kiến thức, khẳng định vai trò chủ động, sáng tạo của người học

Văn nghị luận là một loại văn phổ biến sử dụng trong nhà trường hiện nay Trong đó, nghị luận xã hội là một đơn vị kiến thức không thể thiếu trong phần Làm văn của chương trình Ngữ văn THPT, có mặt trong tất cả các đề thi học

kì, đề thi THPT quốc gia và đề thi học sinh giỏi

Bắt đầu từ chương trình Ngữ văn THCS, HS đã có cơ hội tiếp xúc với văn nghị luận xã hội Tuy nhiên, sự tiếp xúc ấy mới chỉ là bước đầu và còn mang tính khái quát, chưa có cơ hội đi sâu tìm hiểu những tình huống chứa đựng nhiều vấn đề Vì vậy, HS chưa phát huy được khả năng sáng tạo và TDPB với những yêu cầu được đưa ra Bước vào chương trình Ngữ văn bậc THPT, các em tiếp tục được đến với các kiểu bài nghị luận xã hội mới mẻ và phức tạp, đòi hỏi tư duy cao và sâu hơn.Trong đó tư duy phản biện là tiêu chí hữu hiệu để đánh giá năng lực nhìn nhận, sáng tạo và giải quyết vấn đề của HS trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học Tuy nhiên trong các giờ học Làm văn nghị luận xã hội HS ngày càng nhàm chán, đa số HS rất thụ động, chỉ ghi chép dập khuôn, máy móc theo sự hướng dẫn của GV, làm bài theo kiểu học thuộc lòng mà chưa

có sự suy nghĩ, ý kiến riêng của cá nhân

Chính vì những lí do trên yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Làm văn nghị luận xã hội cho HS THPT ngày càng trở nên cần thiết và là vấn đề cấp bách đang được các nhà giáo dục tìm cách khắc phục Đó là cơ sở để tôi mạnh dạn

ứng dụng đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện trong dạy học Làm văn viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT ở trường THCS&THPT Như Thanh”.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Từ những lí do đã nêu ở trên, nhất là những hạn chế khi dạy học văn nghị luận nói chung và nghị luận xã hội nói riêng, tôi muốn đề xuất đưa ra một số phương pháp rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện trong dạy học Làm văn nghị luận

xã hội cho học sinh THPT giúp các em nhìn nhận vấn đề nghị luận một cách sâu sắc, đa diện nhiều chiều khi bình luận, đánh giá Không chỉ vậy còn giúp HS có khả năng bảo vệ ý kiến, quan điểm của mình dựa trên các luận điểm, luận cứ, luận chứng để thuyết phục người đọc, người nghe Điều này là yếu tố quan trọng giúp cho bài văn nghị luận xã hội của các em thêm sinh động, độc đáo và sáng tạo mang văn phong riêng của cá nhân

Đề tài nhằm góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy, giúp học sinh tiếp cận bài học một cách chủ động và hiệu quả Từ đó, rút ra được những kĩ năng bổ ích cho bản thân, trở thành con người năng động, nhạy bén và sáng tạo trong nhà trường cũng như trong cuộc sống

Trang 2

Đề tài của tôi cũng góp phần giúp giáo viên thiết kế bài học khoa học, hiệu quả và hợp lí, phát huy được tính chủ động sáng tạo, khơi nguồn cảm hứng cho HS trong quá trình lĩnh hội tri thức

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Thực trạng dạy và học phần Làm văn viết đoạn văn nghị luận xã hội

- Các giải pháp Rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện trong dạy học Làm văn viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp:

- Phương pháp tích hợp:

- Ngoài ra tôi còn sử dụng những phương pháp hỗ trợ khác như: đọc tài liệu, thống kê, thăm dò ý kiến của học sinh, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận

2.1.1 Văn nghị luận xã hội

Văn nghị luận nói chung và NLXH nói riêng đã và đang khẳng định tầm quan trọng không thể thiếu của mình trong quá trình đổi mới phương pháp và tư duy người học Đến nay khái niệm văn NLXH đã trở nên rất quen thuộc với chúng ta NLXH là loại văn bản trong đó người viết, người nói sử dụng lí luận với các luận điểm, luận chứng…để trình bày những quan điểm, nhận xét đánh giá của mình về vấn đề xã hội nhằm thuyết phục người đọc, người nghe hiểu và tin vào những ý kiến đó

Hiện nay tiêu chí phân loại dạng bài NLXH dựa vào nội dung đang được

sử dụng nhiều nhất Theo tiêu chí này, có thể chia NLXH thành 3 dạng chính:

Nghị luận về một tư tưởng đạo lí; Nghị luận về một hiện tượng đời sống; Nghị luận về một vấn đề xã hội rút ra từ một tác phẩm văn học

Ngoài ra còn có nghị luận về hai mặt đối lập, dạng đề mở…Dù thuộc dạng nào, bài văn NLXH cũng cần người viết có tư duy phản biện để tăng chất văn và chiều sâu cho bài viết

2.1.2 Đoạn văn

Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành

Đoạn văn có thể không hoặc có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề Từ ngữ chủ

đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc được lặp lại nhiều lần ( thường là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng biểu đạt Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đúng ở đầu hoặc cuối đoạn văn Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai

và làm sáng tỏ chủ đề của đoạn

2.1.3 Tư duy phản biện

Trong bài báo của Th.S Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang (Trung tâm nghiên cứu Giáo dục Đại học- Viện Nghiên cứu Giáo dục) tác giả đưa ra kết luận

Trang 3

thuật ngữ “critical thinking” không được dùng với ý nghĩa phê phán mà mang ý nghĩa đưa ra một phán đoán dựa trên cái nhìn đa chiều với sự vật, hiện tượng

được đưa ra xem xét

Như vậy, cách dịch như trước đây đã khiến người tiếp nhận hiểu và có cái nhìn không đúng với nghĩa thực sự của nó Từ đó sẽ dẫn đến việc vận dụng vào thực tế không đạt hiệu quả như mong muốn Xuất phát từ thực tiễn đó, hiện nay, với sự ra đời của nhiều tài liệu khác nhau, các dịch giả đã thống nhất dịch thuật

ngữ “Critical thinking” là “Tư duy phản biện” Trên thế giới, có rất nhiều quan điểm và cách định nghĩa khác nhau về “Tư duy phản biện”.

Theo tác giả Angela Jones, trong cuốn Critical Thinking in Sociology: An Introductory Reader, định nghĩa như sau: “Tư duy phản biện là một phạm trù chỉ sự suy luận theo lối mở, không bị hạn chế, số lượng các giải pháp là không giới hạn, bao hàm cả việc xây dựng các điều kiện, các quan điểm và ý tưởng đúng đắn để đi đến kết luận vấn đề” Cách định nghĩa này được nhiều nhà giáo

dục và nhà hoạch định chính sách tán đồng hơn cả

TS Nguyễn Trọng Hoàn (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chỉ ra rằng: “Tư duy phản biện được hiểu đơn giản nhằm giúp bạn thay đổi cách bạn tư duy về cái đang tư duy Một người có lối tư duy phản biện tiếp cận vấn đề và các tình huống phức tạp dựa trên nhận thức và suy nghĩ thấu đáo Nếu nhận thức và suy nghĩ của họ chưa chuẩn, họ có thể nắm những suy nghĩ, niềm tin và quan điểm

đó theo cách hợp lí hơn và chính xác hơn”

Thông qua một số khái niệm mà chúng tôi đã tìm hiểu có thể khái quát lại

một vài ý khi nói đến TDPB như sau: Tư duy phản biện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề Lập luận phản biện phải rõ ràng, lôgíc, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ

và công tâm.

2.2 Thực trạng vấn đề 2.2.1 Thực trạng về chương trình

Trong đề thi môn văn kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia và xét tuyển vào các trường Cao đẳng, Đại học câu NLXH chiếm 20% tổng số đề ra

Những vấn đề nghị luận xã hội được đưa ra cho học sinh bàn bạc từ đó đến nay đều rất phong phú, đa dạng; đề cập đến tất cả các phương diện của đời sống vừa

có dạng đề về tư tưởng đạo lí lại vừa có dạng đề về các hiện tượng đời sống Thế nhưng thời lượng chương trình dành cho việc giảng dạy và rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận xã hội trong phân phối chương trình THPT theo qui định của

Bộ Giáo Dục là quá ít ỏi Ở lớp 12 chỉ có 2 tiết lí thuyết về cách làm bài NLXH:

một cho dạng bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí và một cho dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống Thực tế đó khiến HS không có điều kiện để rèn luyện NLXH thường xuyên dẫn đến kết quả không cao

2.2.2 Thực trạng dạy của giáo viên

Bên cạnh những thuận lợi, GV cũng gặp không ít những khó khăn trong quá trình rèn luyện TDPB cho học sinh vì những vấn đề sau:

Lối học thụ động truyền thống đã ăn sâu vào cách dạy học ở các trường THPT vì môi trường ở Việt Nam còn nặng về áp đặt kiến thức Biểu hiện là GV

Trang 4

truyền thụ kiến thức một chiều, phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là thuyết giảng, các phương pháp kĩ thuật dạy học khác như: nêu vấn đề, khăn trải bàn, thảo luận nhóm mới chỉ mang tính hình thức Tương tác giữa GV và HS trong các giờ học còn ít, chủ yếu là thầy tác động đến trò một chiều

Phương thức kiểm tra đánh giá của Việt Nam vẫn nặng về tái hiện kiến thức khía cạnh năng lực tư duy đã được chú ý nhưng chưa cao

2.2.3 Thực trạng học của học sinh

Lối học thụ động, tiếp nhận kiến thức một chiều từ các cấp học dưới đã ăn sâu, thành thói quen trong học tập khiến HS lười, ngại tư duy, động não thực sự

Chính vì thế trước nhiều vấn đề mới hay phức tạp, các em chưa chủ động và tự giải quyết vấn đề

Nhiều học sinh TDPB khá tốt nhưng còn e dè, chưa mạnh dạn đưa ra ý kiến và quan điểm của bản thân, có khi không đồng tình với quan điểm của người dạy nhưng không dám phản biện lại vì nhiều lí do khác nhau Cũng có

HS, TDPB trươc các vấn đề xã hội rất tốt nhưng lại thể hiện trong bài làm thiếu thuyết phục

Chính vì những lí do trên, yêu cầu đổi mới PPDH Làm văn THPT ngày càng trở nên cần thiết và là vấn đề cấp bách đang được các nhà giáo dục tìm

cách khắc phục Đó là cơ sở để tôi đề xuất biện pháp Rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện trong dạy học Làm văn viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT.

2.3 Đề xuất một số giải pháp rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện trong dạy học Làm văn viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT

2.3.1 Rèn kĩ năng tư duy phản biện thông qua việc ra đề thi, kiểm tra.

- Lí do đề xuất:

Trong cuốn “Văn nghị luận ở THCS và THPT” tác giả Hoàng Dân cho rằng: “Đề văn thực chất là một “đơn đặt hàng” của người ra đề đối với người viết bài Viết bài văn theo “đơn đặt hàng” là trình bày các suy nghĩ của cá nhân người viết theo một định hướng nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ thể, qua đó mà hình thành kĩ năng viết, rèn luyện cách suy nghĩ, cách lập luận và cách trình bày một vấn đề” [9,174] Như vậy đã đủ chứng minh việc ra đề văn nghị luận đóng

vai trò vô cùng quan trọng đối với sự nhận thức và phát triển kĩ năng của người học.Thực tế cho thấy, HS vẫn chưa thật hứng thú khi tiếp xúc với những dạng đề NLXH Nguyên nhân là do các em cảm thấy quá nhàm chán với những câu hỏi

đơn giản, khô khan, thiếu tính phản biện “Ra đề phải khơi dậy những suy nghĩ riêng, đồng thời phải rèn cho học sinh óc phê phán, nhìn vấn đề trên nhiều mặt.

Cần tránh kiểu ra đề “suôn sẻ”, dạng “thỏa hiệp” một chiều” [9,191].

Để khắc phụ tình trạng này, GV cần phải linh hoạt trong việc ra các đề và đáp án cho bài Làm văn NLXH Đặc biệt, các đề văn ấy phải có định hướng TDPB để HS thỏa sức đưa ra những cách đánh giá nhiều chiều với vấn đề được bàn luận

- Biện pháp thực hiện:

Ngoài những yêu cầu cơ bản của một đề văn nghị luận nói chung thì đề NLXH có định hướng TDPB phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chí sau:

*Thứ nhất, đề văn cần phải đưa ra những tình huống có vấn đề

Trang 5

Tình huống có vấn đề là tình huống chứa đựng những mâu thuẫn giữa những tri thức đã có với những tri thức cần có để nhận thức về thế giới khách quan, mâu thuẫn tạo ra trạng thái tâm lí bất thường ở chủ thể nhận thức Đứng trước tình huống có vấn đề, con người có nhu cầu nhận thức hiểu biết Bằng cách này hay cách khác, con người cần đạt được mục đích, tức là có thêm tri thức về thế giới khách quan Tạo tình huống có vấn đề trong dạy học văn có cơ

sở khoa học đúng đắn, Về mặt triết học, mâu thuẫn luôn là động lực cho sự phát triển Tạo tình huống có vấn đề thực chất là tạo mâu thuẫn, gây áp lực tri thức để thúc đẩy quá trình nhận thức của người học Về mặt tâm lí học, con người ta chỉ

tư duy khi đứng trước những tình huống có vấn đề, tình huống có vấn đề mở ra

và kích thích quá trình tư duy của người học

Dạy học nêu vấn đề là dạy học sáng tạo, kiến thức ở lối dạy này vừa là sản phẩm, vừa là phương pháp định hướng cho HS tiếp thu, tái hiện, đòi hỏi các em phải lĩnh hội kiến thức thông qua sự vận động độc lập từ bên trong Như vậy việc áp dụng cách ra đề này đưa HS vào một môi trường học tập mới, khiến các

em phải suy nghĩ theo nhiều chiều hướng khác nhau, đồng thời rèn luyện tư duy sáng tạo, TDPB để giải quyết tốt yêu cầu đề bài đưa ra

Ví dụ: Đề bài Đọc văn bản sau:

Trong một buổi diễn thuyết đầu năm học, Brian Dison – Tổng giám đốc tập đoàn Coca Cola đã nói chuyện với sinh viên về mối tương quan giữa nghề nghiệp với những trách nhiệm khác của con người Trong bài diễn thuyết có đoạn:

“Bạn chớ đặt mục tiêu của bạn vào những gì mà người khác cho là quan trọng Chỉ có bạn mới biết rõ điều gì tốt nhất cho chính mình.

Bạn chớ nên thờ ơ với những gì gần gũi với trái tim bạn Bạn hãy nắm chắc lấy như thể chúng là những phần trong cuộc sống của bạn Bởi vì nếu không có chúng, cuộc sống của bạn phần nào sẽ mất đi ý nghĩa.

Bạn chớ để cuộc sống trôi qua kẽ tay vì bạn cứ đắm mình trong quá khứ hoặc ảo tưởng về tương lai Chỉ bằng cách sống cuộc đời mình trong từng khoảnh khắc của nó, bạn sẽ sống trọn vẹn từng ngày của đời mình.

Bạn chớ bỏ cuộc khi bạn vẫn còn điều gì đó để cho đi Không có gì là hoàn toàn bế tắc, mà nó chỉ thật sự trở nên bế tắc khi ta thôi không cố gắng nữa.

Bạn chớ ngại nhận rằng mình chưa hoàn thiện Đó chính là sợi chỉ mỏng manh ràng buộc mỗi người chúng ta lại với nhau.

Bạn chớ ngại mạo hiểm Nhờ mạo hiểm với những vận hội của đời mình

mà bạn biết cách sống dũng cảm…”.

(Theo, Quà tặng cuộc sống)

Anh/chị hãy viết một đoạn văn NLXH (khoảng 200 chữ) trình bày quan

điểm của mình về vấn đề được gợi ra từ văn bản Đọc hiểu: Không có gì là hoàn

toàn bế tắc, mà nó chỉ thật sự trở nên bế tắc khi ta thôi không cố gắng nữa.

Tình huống có vấn đề được đặt ra trong đề văn trên: Không có gì hoàn toàn bế tắc, mà nó chỉ thật sự bế tắc khi ta thôi không cố gắng nữa.

Tình huống yêu cầu người học phải nhận thấy vai trò của ý chí, bản lĩnh, nghị lực niềm tin và sự lạc quan của con người trước nghịch cảnh HS cần đưa ra

Trang 6

những lập luận, lí lẽ, chứng cứ thuyết phục mới có thể đưa ra những phản biện phù hợp để bảo vệ quan điểm của mình

*Thứ hai, đề văn phải có hướng mở

Đề mở là cách ra đề mà độ hạn định giảm thiểu để tạo khả năng cho học sinh được tự do lựa chọn vấn đề và cách giải quyết vấn đề của mình Đề mở có tác dụng gây hứng thú, phát huy sở trường, cá tính của học sinh và giúp các em rèn luyện TDPB Loại đề này giúp cho các kì thi cuối năm, thi chuyển cấp, thi tốt nghiệp, thi đại học vì phát huy tư duy sáng tạo, phân hóa học lực của học sinh

Ví dụ: Đề bài

Lời ru ẩn nơi nào Và khi con đến lớp Giữa mênh mang đất trời Lời ru ở cổng trường Khi con vừa ra đời Lời ru thành ngọn cỏ Lời ru về mẹ hát Đón bước bàn chân con

Lúc con nằm ấm áp Mai rồi con lớn khôn Lời ru là tấm chăn Trên đường xa nắng gắt Trong giấc ngủ êm đềm Lời ru là bóng mát Lời ru thành giấc mộng Lúc con lên núi thẳm Lời ru cũng gập ghềnh Khi con vừa tỉnh giấc Khi con ra biển rộng

Thì lời ru đi chơi Lời ru thành mênh mông Lời ru xuống ruộng khoai

Ra bờ ao rau muống

Từ văn bản phần đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vai trò của lời ru đối với sự hình thành nhân cách của con người trong xã hội hiện đại

- Tác dụng của giải pháp: Với cách ra đề định hướng TDPB giúp HS thoát khỏi cách học “vẹt”, yêu cầu các em không chỉ thuộc bài mà còn phải hiểu bài Đồng thời với những đề nghị luận xã hội này sẽ tạo cho học sinh cơ hội được bày tỏ nhận thức, suy nghĩ của mình, tạo ra sự hứng thú cho các tiết học Ngữ văn Từ đó, góp phần phát huy được sự sáng tạo, rèn luyện TDPB và hình thành kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử cho các em

2.3.2 Rèn kĩ năng tư duy phản biện thông qua việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, lập ý

- Lí do đề xuất: Đối với bài văn nghị luận nói chung và NLXH nói riêng,

khâu tìm hiểu đề và lập ý bao giờ cũng giữ vai trò rất quan trọng Tìm hiểu đề để xác định đúng vần đề cần nghị luận từ đó có hướng đi chuẩn xác để làm sáng rõ yêu cầu của đề Tìm ý là bước huy động kiến thức để xác lập các luận điểm lớn nhỏ và các luận cứ để làm rõ vấn đề nghị luận Tuy nhiên trong quá trình làm bài HS thường bỏ qua bước này dẫn đến bài làm bị lạc đề, thiếu ý, lan man

- Biện pháp thực hiện:

*Rèn kĩ năng tư duy phản biện thông qua việc tìm hiểu đề

Người viết muốn tìm hiểu đề cần phải xác định được yêu cầu của mỗi dạng đề, nội dung, ý nghĩa của vấn đề, đưa ra được các câu hỏi gợi mở để làm rõ

Trang 7

vấn đề được bàn luận Từ đó mới có thể định hướng đúng và đủ những yêu cầu

mà đề đưa ra, tránh hiện tượng viết lan man, lạc đề, lệch đề hay bỏ sót ý Mặt khác, người viết cần tìm hiểu đề để xác định và đưa ra những kĩ năng tư duy phù hợp đáp ứng yêu cầu đề bài và đảm bảo sự thống nhất, hài hòa giữa các phần của bài viết

Quá trình tìm hiểu đề để giúp HS định hướng TDPB trong việc tìm ý sẽ phải thực hiện các bước sau:

Bước 1: Đọc kĩ đề

Trong quá trình tạo lập văn bản, đọc kĩ đề là công việc đầu tiên và bắt buộc đối với tất cả HS trước khi viết bài Thực tế cho thấy, nhiều HS chỉ đọc đề một cách vội vã rồi làm bài cho nên bài viết sẽ lộn xộn, không tập trung vào trọng tâm Để tránh những lỗi trên, HS cần phải hiểu được ưu thế của việc đọc

kĩ đề bài trước khi làm bài:

+ Đọc kĩ đề để có thể phản biện vấn đề mà đề bài đặt ra (Quan điểm, ý kiến, đánh giá, nhận định…)

+ Đọc kĩ đề để bản thân người học tìm ra những yếu tố then chốt liên quan trực tiếp đến việc giải quyết nội dung đề bài

Bước 2: Nhận diện cấu tạo đề

Đối với dạng đề NLXH thì có 3 kiểu bài chính là:

+ Nghị luận về một tư tưởng đạo lí

Ví dụ: Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến sau: “Mỗi người đều có quyền lựa

chọn cách sống của mình miễn là hạnh phúc”.

+ Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Ví dụ: Suy nghĩ của anh (chị) về hiện tượng “câu like” trên Facebook của

giới trẻ hiện nay

+ Nghị luận về một vấn đề xã hội rút ra từ một tác phẩm văn học

Ví dụ: Từ câu chuyện về người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền

ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu hãy viết đoạn văn NLXH (Khoảng 200 chữ)

về tình trạng bạo hành gia đình trong xã hội hiện nay

Bước 3: Phân tích, xác định yêu cầu về nội dung và hình thức nghị luận của đề.

- Xác định yêu cầu về nội dung (Luận đề) Xác định yêu cầu nội dung nghị luận là ta hướng tới trả lời câu hỏi: Đề yêu cầu viết về cái gì?Nội dung luận đề là vấn đề chính, vấn đề bao quát mà

người soạn đề đưa ra yêu cầu người làm bài phải giải quyết Muốn giải quyết câu hỏi đó, chúng ta cần phải tìm hiểu ý nghĩa những từ quan trọng được đưa ra trong bài Như vậy, để xác định được đúng luận đề ở những dạng bài tập đó thì

ta phải chỉ ra được những từ then chốt trong đề bài

- Xác định yêu cầu về hình thức nghị luận.

Việc xác định yêu cầu về kiểu bài có vai trò hết sức quan trọng trong bài Làm văn nói chung và văn nghị luận nói riêng Mỗi bài văn nghị luận được đưa vào giảng dạy trong nhà trường đều có những quy định riêng về kiểu bài Nếu như xác định không đúng kiểu bài thì dù nội dung có phong phú bao nhiêu, lời

lẽ đa dạng đến đâu cũng không thể đi đúng hướng

Trang 8

Bước làm này, GV thường sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi 5W1H (Phương pháp phổ biến và hữu hiệu trong dạy học tích cực) để giúp HS đưa ra những câu

hỏi gợi dẫn trong phần tìm hiểu đề Sử dụng kĩ thuật 5W1H, chúng ta có thể đưa

ra một hệ thống các câu hỏi thống nhất cho mọi đề bài Như vậy, GV đưa ra các câu hỏi gợi dẫn trong phần tìm hiểu đề sẽ giúp HS có cách tiếp cận vấn đề cụ thể, toàn diện hơn và rèn luyện KNTDPB

Sơ đồ đặt câu hỏi theo kĩ thuật 5W1H Chú thích: 5W1H là cách viết tắt của các câu hỏi:

What? (Là gì), When? (Khi nào), Who? (Ai?), Where? (Ở đâu), Why? (Vì sao?), How? (Như thế nào)

Ví dụ: Đề bài: Không đề

Con thuyền đi qua

để lại song Đoàn tàu đi qua

để lại tiếng Đoàn người đi qua

để lại bóng Tôi không đi qua tôi

để lại gì?

Anh(chị) hãy viết một đoạn văn NLXH khoảng (200 chữ) trình bày suy nghĩ về triết lí sống được gợi ra từ văn bản phần Đọc hiểu

Đối với cách tìm hiểu đề thông thường: GV chỉ yêu cầu học sinh xác

định những vấn đề chính sau: Thể loại, nội dung, phạm vi nghị luận

- Yêu cầu về hình thức, thể loại: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí

- Yêu cầu về nội dung (Luận đề): Suy nghĩ về triết lí sống được gợi ra từ bài thơ trên

Đối với cách tìm hiểu đề có sử dụng kĩ năng tư duy phản biện:

Đối với cách tìm hiểu đề này, ngoài việc xác định kiểu bài, nội dung thì

GV còn cần đặt ra những câu hỏi gợi dẫn để đưa HS tiếp cận vấn đề một cách dễ dàng hơn

Một số câu hỏi đưa ra để rút ra triết lí sống từ bài thơ:

+ Con thuyền, đoàn tàu, đoàn người đi qua để lại gì? Sóng, tiếng, bóng mang ý nghĩa gì? Nếu con thuyền không để lại sóng, đoàn tàu không để lại

Where

Who How

MAIN IDEAS

What Why

When

Trang 9

tiếng và đoàn người không để lại bóng thì mọi người có biết đến ý nghĩa tồn tại của con thuyền, đoàn tàu, đoàn người không?

+Tôi không đi qua tôi có nghĩa là gì? Và nếu tôi đi qua tôi để lại gì?

Ở khâu tìm hiểu đề, muốn rèn luyện KNTDPB cho HS trong dạy học văn NLXH một cách tốt nhất, hiệu quả nhất thì GV có thể sử dụng sơ đồ (Bản đồ) tư duy

Hình ảnh mô tả sơ đồ tư duy:

Cấu trúc sơ đồ tư duy điển hình

Lưu ý: Để giúp HS lập được sơ đồ tư duy cho khâu tìm hiểu đề văn

NLXH, GV cần chú ý 3 bước cơ bản sau:

Bước 1: GV cung cấp ngữ liệu đã chuẩn bị cho học sinh quan sát

GV đưa đề văn cụ thể để HS tìm hiểu đề

Ví dụ: Suy nghĩ của anh(chị) về tính hai mặt của facebook trong cuộc sống của con người hiện nay.

Bước 2: HS phân tích ngữ liệu theo định hướng của GV, tránh hiện tượng

đi chệch hướng nghiên cứu.

Dưới sự hướng dẫn và quản lí của GV, HS sẽ chia thành các nhóm nhỏ để chỉ ra các bước cần thiết trong khâu tìm hiểu đề

Tiếp đó, GV yêu cầu đại diện các nhóm trình bày, các nhóm khác theo dõi

và cho ý kiến Cuối cùng GV tổng hợp và chốt lại kiến thức chuẩn

Yêu cầu:

- Xác định dạng đề: Nghị luận về một hiện tượng đời sống

- Xác định nội dung, hình thức đề:

+ Nội dung: tính hai mặt của facebook

+ Hình thức: Giải thích, phân tích, bình luận

- Phạm vi nghị luận: Trong cuộc sống của con người hiện nay

- Các câu hỏi gợi dẫn:

+ Facebook là gì?

+ Tình trạng sử dụng facebook hiện nay ra sao?

+ Tác dụng của facebook? Tại sao lại có tác dụng đó?

+ Tác hại của facebbook? Tại sao lại gây ra tác hại?

Trang 10

+ Vậy mỗi cá nhân cần sử dụng facebook như thế nào để khai thác triệt để tác dụng của facebook và hạn chế những tác hại của nó

+ Bài học mà em rút ra được là g

Bước 3: Từ việc tìm hiểu trên, GV hướng dẫn, tổ chức HS hình thành khái niệm khoa học chuẩn.

Qua việc tìm hiểu, GV sẽ yêu cầu HS xây dựng sơ đồ tư duy để chỉ ra các bước cơ bản trong khâu tìm hiểu đề văn NLXH có định hướng TDPB một cách khái quát

*Rèn kĩ năng tư duy phản biện thông qua việc lập ý

Dostoievski – nhà văn Nga nổi tiếng của thế kỉ XX cũng đã từng ước ao:

“Nếu tìm được một bản bố cục đạt thì công việc sẽ nhanh như trượt trên băng”.

Như vậy, có thể thấy tầm quan trọng và vị trí đặc biệt của việc lập ý trong bài văn nghị luận nói chung và NLXH nói riêng Vì vậy, lập ý chính là quá trình suy nghĩ có ý thức nhằm định ra các nội dung cơ bản của bài viết trước khi được diễn đạt thành văn Trong giờ dạy học kĩ năng Làm văn NLXH, để rèn luyện hiệu quả KNTDPB thì những giờ dạy Đọc văn những văn bản NLXH, GV bên cạnh việc truyền đạt kiến thức cơ bản một cách chắc chắn, logic thì còn phải bồi dưỡng khả năng tư duy, biết lật xới vấn đề GV chấp nhận và nâng niu tất cả những quan điểm, ý kiến khác nhau, thậm chí là trái chiều của HS để các em có

cơ hội bộc lộ suy nghĩ của bản thân, từ đó mà việc lĩnh hội kiến thức sẽ trở nên sâu sắc và thú vị hơn Thông qua những câu hỏi gợi dẫn nhằm định hướng TDPB của GV ở phần tìm hiểu đề, HS sẽ thực hiện 3 bước của quá trình lập ý:

Bước 1: Tìm ý:

- Xác định các luận điểm lớn dựa vào yêu cầu, hình thức nghị luận và các

câu hỏi gợi dẫn

- Triển khai các luận điểm lớn thành các luận điểm nhỏ (Ở nhiều mặt, nhiều phương diện, khía cạnh cụ thể có ở dạng tương đồng hoặc đối lập) dựa vào những kiến thức cần thiết cho vấn đề được bàn luận

Bước 2: Chọn ý:

- Ở khâu này, HS không chỉ biết lựa chọn ý mà còn hình thành TDPB

trước mỗi ý kiến được đưa ra Với những thao tác lập ý có sử dụng KNTDPB

GV cần phải chú trọng tới yếu tố chủ quan của mình Nói như vậy có nghĩa là

GV chỉ là người giúp HS tự cảm nhận, suy xét một vấn đề nhưng lại được soi chiếu từ nhiều góc nhìn khác nhau mà HS sẽ được tiếp xúc thông qua hệ thống câu hỏi gợi dẫn của GV, từ đó HS sẽ tự tìm ra con đường và cách giải quyết vấn

đề của riêng mình Mỗi ý kiến và cách giải quyết vấn đề HS đưa ra đều được

GV chấp nhận nếu như có lập luận chặt chẽ và xác đáng

Bước 3: Sắp xếp ý

- Ở khâu sắp xếp ý, người viết sau khi đã tìm và lựa chọn được những ý tiêu biểu, sẽ sắp xếp theo trình tự một cách logic và khoa học

- Để sắp xếp ý có vận dụng thành thục KNTDPB thì yêu cầu đối với người viết bao giờ cũng đòi hỏi chặt chẽ và công phu hơn Việc sắp xếp ý không đơn thuần là theo trình tự thông thường mà còn phải kích thích tư duy sáng tạo và tư duy phê phán của HS khi đứng trước những tình huống có vấn đề

Ngày đăng: 28/11/2022, 14:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh mơ tả sơ đồ tư duy: - (SKKN HAY NHẤT) rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện trong dạy học làm văn viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT ở trường THCSTHPT như thanh
nh ảnh mơ tả sơ đồ tư duy: (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w