SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG II SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỌC-HIỂU CỦA HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC ĐỔI MỚI KĨ THUẬT ĐẶT CÂU HỎI TRONG CÁC GIỜ DẠY HỌC
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG II
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỌC-HIỂU CỦA HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC ĐỔI MỚI KĨ THUẬT ĐẶT CÂU HỎI TRONG CÁC GIỜ DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
Họ và tên: Nguyễn Thị Ngân Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC Nội dung Trang
1 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 1
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm………… 2
2.2.1 Thực trạng của việc áp dụng hệ thống câu hỏi chuẩn bị bài trong sách giáo khoa 2
2.2.2 Thực trạng việc phát vấn trên lớp trong các giờ dạy học tác phẩm văn chương 4
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 2.3.1 Giải pháp 1: Đổi mới cách vận dụng hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa vào các giờ dạy học tác phẩm văn chương…… 4
2.3.2 Giải pháp 2: Đổi mới cách đặt câu hỏi trên lớp 6
2.3.3 Giải pháp 3: Tổ chức cho học sinh tự đặt câu hỏi trong thảo luận nhóm và đặt câu hỏi đối với giáo viên 6
2.3.3 Thực hành ứng dụng trong một bài dạy thực nghiệm cụ thể……… 7
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, đối với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường……… 18
3 Kết luận, kiến nghị 3.1 Kết luận……… 19
3.2 Kiến nghị……… 20
Tài liệu tham khảo……… 21 Phụ lục 1
Phụ lục 2
Trang 31 Mở đầu 1.1 Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, kĩ thuật đặt câu hỏi trong giờ dạy học được giáo viên
sử dụng khi dạy học phải luôn đảm bảo được yêu cầu “tích cực”, tức là chúngphải thực hiện được mục đích: giúp học sinh cảm nhận và hiểu đúng, đủ về tácphẩm,giúp học sinh thực hành và rèn luyện được phương pháp tự tìm hiểu, tựkhám phá những tác phẩm mới; giúp giáo viên xây dựng được một giáo án tối
ưu, thích hợp… Đặc biệt, hệ thống câu hỏi phải tạo ra được sự “đối thoại” giữangười học với người học, người học với giáo viên trong khi lên lớp Đồng thờiđặt người học vào trung tâm của sự học; làm tăng tính chủ động, tích cực củahọc sinh trong việc cùng nhau chiếm lĩnh tri thức
"Theo quan điểm dạy học phát triển phẩm chất, năng lực, kĩ thuật nàykhông chỉ nhằm hướng tới việc giúp học sinh tiếp nhận các tri thức mà chủ yếuhướng tới rèn luyện kĩ năng, thái độ, sự vận dụng tổng hợp các tri thức, kĩ năng,thái độ vào giải quyết nhiệm vụ trong thực tiễn cuộc sống và học tập để khuyếnkhích sự tìm tòi, khám phá của học sinh." Điều đó có nghĩa là trong quá trìnhdạy học phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh khi sử dụng kĩ thuật nàykhông chỉ giáo viên nêu câu hỏi để học sinh giải quyết mà học sinh cũng đượckhuyến khích đặt câu hỏi cho giáo viên, cho chính mình và các học sinh khác
Trong xu hướng dạy học hiện đại, nhiệm vụ nghiên cứu về lý thuyết cũngnhư ứng dụng kĩ thuật đặt câu hỏi ngày càng cần được bổ sung, hoàn thiện bởitính cấp thiết và nhu cầu thực tiễn của nó Bởi vậy, người viết mạnh dạn đưa ra
đề tài “Nâng cao năng lực đọc-hiểu của học sinh thông qua việc đổi mới kĩ
thuật đặt câu hỏi trong các giờ dạy học tác phẩm văn chương”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Qua nội dung của đề tài, người viết mong muốn hướng tới việc phát triểnnăng lực đọc-hiểu văn bản văn chương cho học sinh Từ đó góp phần phát triểnnăng lực đặc thù của môn Ngữ văn là năng lực giao tiếp Tiếng Việt và năng lựcthưởng thức văn học Đồng thời làm tăng khả năng độc lập suy nghĩ, năng lựchợp tác, làm việc nhóm; tính chủ động tích cực của học sinh Qua đó hình thànhđược cho các em sự hứng thú trong mỗi giờ học Cũng từ đề tài này, giáo viên sẽ
có thêm một tài liệu tham khảo hữu ích, nhằm mục đích nâng cao chất lượngdạy học Ngữ văn ở trường phổ thông
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Kĩ thuật đặt câu hỏi trong các giờ dạy học tác phẩm văn chương
- Trong năm học 2020 – 2021, đề tài được nghiên cứu tại trường THPT QuảngXương 2 Áp dụng thực nghiệm ở học sinh các lớp 11
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết có hiệu quả yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong đề tài, người viết đã sửdụng một số phương pháp sau: Thống kê - phân loại, phân tích – tổng hợp –đánh giá, so sánh , phương pháp vấn đáp – gợi mở, nêu ví dụ… Các phươngpháp nghiên cứu thực tiễn như: Quan sát, điều tra, kết hợp với thực tế giảngdạy ở các lớp, rút kinh nghiệm, hệ thống thành phương pháp
Trang 42 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
- "Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao", ( theo
Từ điển Tiếng Việt )
- Đọc-hiểu là một năng lực tiếp nhận văn bản, thông qua hoạt động của conngười đọc chữ, xem các kí hiệu bảng biểu, hình ảnh trong nhiều loại văn bảnkhác nhau, nhằm xử lí thông tin trong văn bản để phục vụ những mục đích cụthể trong học tập hoặc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của cuộc sống Đọchiểu luôn là một nội dung trọng tâm trong chương trình môn Ngữ văn ở trườngphổ thông của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong thời kì từ đầu thế kỉ XXđến nay Năng lực đọc hiểu được hình thành và phát triển ở môn Ngữ văn, vìvậy đọc hiểu là một năng lực đặc thù của môn học này
Căn cứ vào định hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn:
Trong dạy học theo phương pháp cùng tham gia, giáo viên thường sửdụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá thông tin, kiếnthức, kĩ năng mới Mục đích của việc dạy học không đặt nặng trọng tâm vàokiến thức mà chú ý phát triển phẩm chất, năng lực; rèn luyện tu duy, rèn luyện kĩnăng cho người học Theo đó, đọc văn không phải là hoạt động đọc thôngthường mà đọc văn là để hiểu văn, tức đây là hoạt động đòi hỏi người đọc phảicảm thụ, nhận thức suy ngẫm để ngộ ra những điều sâu sắc và lí thú về cuộc đời,
về con người được gửi gắm qua tác phẩm Cũng từ đó sẽ bồi đắp những tìnhcảm tốt đẹp trong tâm hồn con người và sống tốt hơn Và muốn vậy, đổi mới kĩ
thuật đặt câu hỏi là hết sức quan trọng thức Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì
mức độ tham gia của học sinh càng nhiều, học sinh sẽ học tập tích cực hơn
Căn cứ vào tâm lí lứa tuổi và quy luật tư duy
Học sinh lứa tuổi trung học phổ thông là lứa tuổi ham thích tìm hiểunhững vấn đề mới lạ Thế hệ các em hiện này là thế hệ học sinh thời đại côngnghệ 4.0 Các em luôn có nhu cầu thể hiện cái tôi, cá tính và suy nghĩ riêng củamình Các em thường rất hứng thú với những câu hỏi lạ, đòi hỏi suy nghĩ vànhững câu hỏi mà các em có thể thể hiện được ý kiến riêng của bản thân
Quá trình đọc-hiểu văn bản thực ra là quá trình giáo viên và học sinh cùngchiếm lĩnh tác phẩm, ở đó học sinh đóng vai trò trung tâm, chủ động, tích cựctrong tiếp nhận, lí giải tác phẩm, giáo viên chỉ đóng vai trò định hướng, tức làhọc sinh trực tiếp làm việc, nghiên cứu về văn bản chứ không gián tiếp lĩnh hộithông qua lời giảng (cách lí giải, tiếp cận) của giáo viên Để làm được điều này,giáo viên phải tác động đến học sinh trước hết thông qua kĩ thuật đặt câu hỏi khilên lớp
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1 Thực trạng của việc áp dụng hệ thống câu hỏi chuẩn bị bài trong sách giáo khoa Thực tế là giờ dạy nào cũng cần phải có sự phát vấn, trao đổi, tìm
hiểu kiến thức thông qua các câu hỏi nhưng hiện nay đa phần giáo viên và họcsinh đều dựa vào hệ thống câu hỏi trong mục hướng dẫn học bài của sách giáo
Trang 5khoa Phần hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa thường có khoảng 4, 5 câuhỏi, các câu hỏi ấy có thể xếp thành 5 loại sau:
- Câu hỏi thuần túy tìm hiểu nội dung (loại 1)
VD1: Cảnh vật trong truyện được miêu tả trong thời gian và không gian như thếnào? (Ở bài: “Hai đứa trẻ”)
VD2: Ở khổ thơ thứ ba, nhà thơ bộc lộ tâm sự của mình như thế nào? Chút hoàinghi trong câu thơ “Ai biết tình ai có đậm đà?” có biểu hiện niềm tha thiết vớicuộc đời không? Vì sao? (Ở bài “Đây thôn Vĩ Dạ”)
- Câu hỏi thuần túy tìm hiểu nghệ thuật (loại 2)
VD1: Theo anh (chị), bút pháp kí sự của tác giả có đặc sắc? Phân tích những nétđặc sắc đó (Ở bài “Vào phủ chúa Trịnh”)
VD2: Anh (chị) có nhận xét gì về nghệ thuật miêu tả và giọng văn của ThạchLam? (Ở bài: “Hai đứa trẻ”)
- Câu hỏi tìm hiểu nội dung thông qua hình thức nghệ thuật (loại 3)
VD1: Hình ảnh gió, mây, sông trăng trong khổ thơ thứ hai gợi cảm xúc gì? (Ởbài “Đây thôn Vĩ Dạ”)
VD2: Những từ ngữ, hình ảnh nào gợi lên được nét riêng của cảnh sắc mùa thu?
Hãy cho biết đó là những cảnh thu ở miền quê nào? (Ở bài “Câu cá mùa thu”)
- Câu hỏi tổng quát, nâng cao (loại 4)
VD1: Từ niềm “hạnh phúc” của các nhân vật do cái chết của cụ cố tổ đem lại vàcảnh tượng của cái “đám ma gương mẫu”, anh chị nhận xét như thế nào về xãhội thượng lưu thành thị đương thời? Thái độ của nhà văn với xã hội này ra sao?
(Ở bài “Hạnh phúc của một tang gia”)VD2: Tư tưởng nhân đạo sâu sắc mới mẻ của Nam Cao qua truyện ngắn này? (Ởbài “Chí Phèo”)
- Câu hỏi hướng dẫn thao tác làm việc với tác phẩm (loại 5)
VD1: Phân tích ý nghĩa tượng trưng của các yếu tố tả thực hình ảnh người đitrên cát (Ở bài “Bài ca ngắn đi trên bãi cát”)
VD2: Đọc diễm cảm bài hát nói này Hãy chỉ ra những nét tự do của thể tài hátnói so với thơ Đường Luật và cho biết ý nghĩa của tính chất tự do đó (Ở bài
“Bài ca ngắn đi trên bãi cát”)Căn cứ theo số lượng câu hỏi này trong sách giáo khoa lớp 11 ta có bảng sau:
Sách giáo khoa Loại 1 Loại 2 Loại 3 Loại 4 Loại 5
Kì 1 49/121 11/121 25/121 32/121 4/121
Kì 2 43/108 9/108 14/108 39/108 4/108 Như vậy, câu hỏi về phương diện nội dung chiếm số lượng nhiều nhất(khoảng 40%) Những câu hỏi loại này thường gây tâm lí chủ quan, không đòihỏi tích cực suy nghĩ, thường khó mang lại những ấn tượng mới lạ, dễ nhàmchán Loại câu hỏi khái quát nâng cao có số lượng chiếm vị trí thứ 2 nhưng hìnhthức câu hỏi này thường dè dặt, tương đối giống nhau về hình thức
Học sinh khi học văn, thường không chuẩn bị bài, đọc qua tác phẩm, hoặc
chăm chỉ hơn sẽ soạn bài theo hệ thống câu hỏi được biên soạn trong sách giáokhoa Nhưng có một thực tế đáng buồn là trong số rất ít em có chuẩn bị bài ấy,rất nhiều em chống chế bằng cách chép lại phần trả lời theo sách để học tốt, các
Trang 6tài liệu tham khảo mà không cần (không thèm) đọc văn bản nên thường khôngchủ động suy nghĩ và tìm hiểu văn bản.
Trong 2 lớp mà người viết nghiên cứu, người viết nhận thấy chỉ khoảng10% học sinh có đọc bài, soạn bài, 30% chép lại bài soạn của bạn, chép sáchtham khảo, còn lại không hề chuẩn bị bài Thậm chỉ kiểm tra bài mới sẽ học làbài gì nhiều em cũng vô cùng lúng túng, không trả lời được hoặc vội vàng dởsách xem tên bài
Giáo viên khi sử dụng hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa cũng có 2 xu
hướng chủ đạo là: hoặc chỉ chú trọng nội dung kiến thức bài giảng không quantâm, thờ ơ với hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa (mặc nhiên coi đó là phầndành cho học sinh để soạn bài, chuẩn bị bài ở nhà) hoặc quá lệ thuộc, sử dụngmáy móc tức là thiết kế bài giảng soạn bài theo hệ thống câu hỏi đó, trả lời theogợi ý trong sách giáo viên và lên lớp chỉ chữa lại Nhưng thực tế là: nếu giáoviên không quan tâm đến hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa thì sẽ không thểhình dung được học sinh đã chuẩn bị được những gì, bài dạy sẽ không gắn kếtvới những gì các em đã chuẩn bị Từ đó dẫn đến việc các em thấy việc chuẩn bịbài là không cần thiết, sẽ dần đánh mất thói quen chuẩn bị bài ở nhà Ngược lại,nếu giáo viên soạn bài hoàn toàn lệ thuộc vào sách giáo khoa sẽ dẫn đến tìnhtrạng nhàm chán khi lên lớp bởi học sinh đã biết trước câu trả lời Thậm chíkhông cần mất nhiều thời gian ở nhà mà chỉ cần trên lớp khi giáo viên hỏi sẽ mởtài liệu tham khảo tìm là “thấy”, nói cách khác, các em đã biết trước câu trả lờinên không hứng thú với bài giảng
2.2.2 Thực tế tình trạng phát vấn trên lớp trong các giờ dạy học tác phẩm văn chương.
Trong một giờ lên lớp ở trường trung học phổ thông, số ý kiến phát biểuthường chỉ khoảng 5-10 ý kiến, chủ yếu rơi vào những học sinh vốn hăng háiphát biểu Đa phần học sinh còn lại học một cách thụ động, uể oải, thậm chí có
em buồn ngủ, làm việc riêng…
Có một thực tế nữa là trên lớp, giáo viên khi đưa ra các câu hỏi phát vấnthường mắc những lỗi: câu hỏi tuỳ tiện, ngẫu hứng theo hướng phát sinh, khônggắn kết, những câu hỏi có sẵn phương án trả lời, câu hỏi đúng sai A hay B, dễgây tình trạng trả lời tập thể, nói leo, nói đế, gây ồn ào, mất tập trung… Đôi khicâu hỏi đưa ra dễ dẫn đến tình trạng học sinh lan man, xuyên tạc, liên tưởng theolối dung tục hoá văn bản hoặc câu hỏi tối nghĩa khó hiểu hoặc quá khó khôngthể trả lời
Xuất phát từ những thực tế trên, người viết đã mạnh dạn đưa ra đề tài
“Nâng cao năng lực đọc-hiểu của học sinh thông qua việc đổi mới kĩ thuật đặt câu hỏi trong các giờ dạy học tác phẩm văn chương” Đây là một kĩ thuật
rất quan trọng với mỗi giáo viên Từ đó hướng tời mục đích xây dựng một giờdạy học Ngữ văn thành công trong thời đại mới
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 2.3.1 Giải pháp 1: Đổi mới cách vận dụng hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa vào các giờ dạy học tác phẩm văn chương
Trang 7Sự tiếp nhận tác phẩm văn chương của học sinh trên ghế nhà trường là sựtiệp nhận một cách có ý thức, chủ động, có định hướng chứ không tự phát, tuỳtiện
+ Với học sinh, câu hỏi trong mục Hướng dẫn học bài nhằm giúp các em
chiếm lĩnh tác phẩm sơ bộ, ban đầu, là người thầy giáo vô hình dẫn dắt các em
tự tìm hiểu tác phẩm, định hướng nội dung, cảm xúc ban đầu và cả những vấn
đề cốt lõi, trọng tâm của văn bản
+ Với người giáo viên, Câu hỏi Hướng dẫn học bài là cơ sở giúp xây dựng
giáo án khi lên lớp Dù vậy, câu hỏi trong sách giáo khoa và câu hỏi trên lớp làkhác nhau Chúng có mục đích chung là giứp học sinh nắm chắc kiến thức, rènluyện tư duy, kĩ năng đọc-hiểu văn bản nên chúng có mối quan hệ mật thiết, hỗtrợ lẫn nhau Câu hỏi trên lớp không thể lặp lại nguyên si nhưng cũng không thểhoàn toàn thoát li hệ thống câu hỏi này
Trước khi đặt câu hỏi, người giáo viên nên xây dựng các tiêu chí cho hệ
thống câu hỏi Thông thường, giáo viên khi soạn bài thường soạn các nội dungtrước, sau đó tìm câu hỏi phù hợp để có câu trả lời là các nội dung này Chúng tanên tránh làm vậy, thay vào đó khi đặt câu hỏi, nên căn cứ theo các nguyên tắc,mục đích của câu hỏi hơn là căn cứ vào nội dung cứng nhắc đã chuẩn bị Theongười viết, hệ thống câu hỏi được sử dụng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Luôn có một câu hỏi trọng tâm, chủ đạo (đó là câu hỏi về vấn đề cơ bản cầndạy học, về bản chất, mục tiêu bài học)
- Đảm bảo tính khoa học, hệ thống Tức là phải chính xác về mặt từ ngữ, kháiniệm, rõ ràng, dễ hiểu Các câu hỏi phải có mối liên hệ mật thiết với nhau Cáccâu hỏi này phải nằm trong một hệ thống, có vai trò hỗ trợ nhau làm rõ vấn đềtrung tâm Các câu hỏi này nên được phân chia theo loại:
Dành cho việc đọc (giọng điệu văn bản) Rèn luyện tóm tắt
Hướng vào giá trị nội dung Hướng vào khai thác các yếu tố nghệ thuật Phát hiện, phân tích những chi tiết “đẳt”, giàu ý nghĩa của tác phẩm Câu hỏi đánh giá, tổng hợp (nên có sự so sánh)
- Hệ thống câu hỏi phải tương ứng với các cấp độ nhận thức từ thấp đến cao, cóvai trò hỗ trợ nhau trong một bài dạy Phải đảm bảo có những câu hỏi từ dễ đếnkhó, theo các cấp độ tư duy, nhận thức: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừutượng, từ tư duy trừu tượng đến hoạt động thực tiễn
- Phù hợp với phương pháp được chọn Mỗi phương pháp khác nhau đòi hỏi hệthống câu hỏi khác nhau Phương pháp đàm thoại đòi hỏi câu trả lời ngắn, có thểtrả lời được ngay; phương pháp đặt và giải quyết vấn đề cần có câu hỏi nêu vấn
đề từ một tình huống, những câu hỏi dẫn đắt tìm giải pháp và lựa chọn giảipháp; phương pháp hoạt động nhóm lại yêu cầu những câu hỏi khác nhau chotừng nhóm và tương đối đồng đều về đọ khó, yêu cầu…
- Ngoài ra câu hỏi phải vừa sức, phù hợp từng đối tượng Câu hỏi ngắn gọn, rõràng, dễ hiểu.Câu hỏi kích thích suy nghĩ của học sinh, đảm bảo tính nghệ thuật
Tức là câu hỏi phải mang màu sắc văn chương, thu hút đươc sự chú ý của HS
Trang 82.3.2 Giải pháp 2: Đổi mới cách đặt câu hỏi trên lớp
Giáo viên nên đặc biệt hướng tới xây dựng những câu hỏi mang tính tíchcực, các câu hỏi không nên có hình thức: “Có” “không”, tránh mang tính táihiện, cố tình gợi mở cho học sinh hướng tới tìm hiểu tác phẩm, tránh gò bó, kìmhãm sự suy nghĩ, đồng thời nên xây dựng những câu hỏi mới, tránh lối đặt câuhỏi sáo mòn, công thức
Trên lớp cần vận dụng linh hoạt, với những câu khó có thể dẫn dắt, gợi ýcho học sinh nhưng tuyệt đối không “mớm” câu trả lời cho các em
Ví dụ: Khi dạy đọc-hiểu tác phẩm truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam
Cao (3 tiết tìm hiểu về phần văn bản tác phẩm)
+ Giáo viên có thể gợi mở để vào bài học như sau: Kể tên các nhân vật là người
nông dân trong các tác phẩm mà em đã học? Ấn tượng của em về hình ảnh người nông dân trong các tác phẩm văn học đó là như thế nào?
+ Khi hướng dẫn đọc-hiểu quá trình tha hóa của Chí Phèo, giáo viên có thể đưa
ra các vấn đề thảo luận như:
* Em có nhận xét gì về cuộc đời và tính cách của Chỉ Phèo giai đoạn trước khi
đề cập đến nguyên nhân sâu xa nào?
+ Khi hướng dẫn đọc-hiểu quá trình thức tỉnh của Chí Phèo, giáo viên có thể
đưa ra các vấn đề thảo luận như: Tại sao có thể nói: bát cháo hành là liều thuốc
giải độc cho Chí Phèo? Nhận xét 2 câu nói của Chí với Thị Nở: “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?”, “Hay mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui”.
+ Khi hướng dẫn đọc-hiểu tấn bi kịch của Chí Phèo, giáo viên có thể đưa ra vấn
đề thảo luận như: Có người nói: Chí Phèo tự tử là do mối tình với Thị Nở tan vỡ,
hắn quá đau khổ? Anh/chị có đồng ý với ý kiến đó không?
+ Khi hướng dẫn đọc-hiểu đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm, ta có thể sử dụng một số câu hỏi gợi mở như:
* Em thấy nghệ thuật xây dựng kết cấu truyện có gì đặc biệt so với các tác phẩm
mà em đã học?
* Trình tự thời gian được tác giả sắp xếp như thể nào? Hình ảnh “cái lò gạch
cũ bỏ hoang” xuất hiện ở đầu và kết thúc câu chuyên đã nói lên điều gì?
*Nhận xét về giọng điệu của Nam Cao? Giọng điệu ấy nói lên điều gì về nhà văn?
2.3.3 Giải pháp 3: Tổ chức cho học sinh tự đặt câu hỏi trong thảo luận nhóm và đặt câu hỏi đối với giáo viên.
Trong quá trình dạy đọc-hiểu văn bản, cần kết hợp giữa câu hỏi của giáoviên với câu hỏi của học sinh, khuyến khích học sinh đặt những loại câu hỏi nhưcâu hỏi giải thích, minh họa, câu hỏi phát hiện về kiến thức trở lại cho giáo viên
và các bạn khi tham gia hoạt động thảo luận nhóm Chẳng hạn : Giáo viên chohọc sinh cơ hội nêu câu hỏi thắc mắc của bản thân khi đang cùng giải quyết mộtnội dung nào đó của bài học
Trang 9Ví dụ: Khi dạy đọc-hiểu tác phẩm truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam
Cao học sinh có thể nêu lên những thắc mắc của bản thân về mâu thẫn trong
hành động của Chí Phèo sau khi bị Thị Nở khước từ: Chí Phèo nói là “phải đến
nhà con đĩ Nở” để đâm chết cả nhà nhà nó nhưng cuối cùng lại đến nhà Bá Kiến và đâm chết Bá Kiến? Vì sao lại như vậy?
- Hoặc trong khi tổ chức dạy học, giáo viên sẽ tổ chức một trò chơi có thi đua,
tính điểm Giáo viên sẽ phân chia lớp thành 2 nhóm lớn, một nhóm hỏi, mộtnhóm trả lời Lúc này, giáo viên sẽ đóng vai trò là trọng tài Học sinh sẽ hàohứng tham gia, vừa để khẳng định mình, vừa cùng tranh luận, phản biện để tựchiếm lĩnh nội dung bài học
Ví dụ:
* Bạn có suy nghĩ gì về cái chết của Chí Phèo? Nếu bạn là tác giả, bạn có để
Chí Phèo chết không? Vì sao?
* Theo bạn hình ảnh “Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng” và “thoáng trong óc Thị
hiện ra cái lò gạch cũ” có ý nghĩa như thế nào?
* Sau khi Chí Phèo chết, dân làng đã bình luận gì? Ý nghĩa của những lời bình luận đó”? Nếu bạn là một người dân ở làng Vũ Đại, bạn sẽ nghĩ như thế nào?
Đối xử với Chí Phèo ra sao?
2.3.4 Thực hành ứng dụng trong một bài dạy thực nghiệm cụ thể.
* Ví dụ: về hệ thống câu hỏi cho việc dạy – học tác phẩm truyện ngắn “Chí
Phèo” của nhà văn Nam Cao (3 tiết tìm hiểu về phần văn bản tác phẩm):
Lưu ý: Những chữ cái viết tắt trong kế hoạch dạy học
GV: Giáo viênHS: Học sinhSGK: Sách giáo khoaSGV: Sách giáo viên
Đọc văn: CHÍ PHÈO
( Nam Cao)
I MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Kiến thức : Giúp HS có sự khắc sâu, nâng cao nội dung bài học như:
- Nêu được kiến thức về tác giả, khái quát tác phẩm, nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa văn bản của truyện ngắn
- Hiểu được sự cảm thông sâu sắc của Nam Cao đối với bi kịch bị tha hoá của Chí Phèo và sự trân trọng của nhà văn trước khát vọng hoàn lương của người nông dân
- Thấy được một vài nét độc đáo trong bút pháp nghệ thuật của Nam Cao.Vậndụng hiểu biết về hoàn cảnh lịch sử xã hội để lí giải nội dung, nghệ thuật củatác phẩm văn học
2 Kĩ năng :
- Biết làm: bài đọc hiểu về truyện ngắn của Nam Cao
- Thông thạo: sử dụng tiếng Việt khi trình bày một bài nghị luận về một tácphẩm, đoạn trích văn xuôi
3.Thái độ :
- Hình thành thói quen: đọc hiểu văn bản văn xuôi
- Hình thành sự tin khi trình bày kiến thức về truyện ngắn của Nam Cao
Trang 10- Hình thành nhân cách: có tinh thần nhân ái, cảm thông với cuộc đời ngườinông dân, trân trọng với khát vọng của con người.
4 Những năng lực cụ thể học sinh cần phát triển:
- Năng lực thu thập thông tin liên quan đến tác giả, tác phẩm của Nam Cao
- Năng lực đọc – hiểu truyện ngắn Chí Phèo
- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về tác giả, tác phẩm
- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về thành công, hạn chế, những đónggóp nổi bật của nhà văn
- Năng lực phân tích, so sánh các đề tài trong sáng tác của Nam Cao
- Năng lực tạo lập văn bản nghị luận
II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
1 Học liệu
- Kế hoạch dạy học Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi
- Đèn chiếu; đồ dùng dạy học: SGK, SGV, tài liệu tham khảo sưu tầm tranh,
ảnh về tác giả, tác phẩm, phim “Làng Vũ Đại ngày ấy”…
- Bảng giao nhiệm vụ học tập cho HS ở nhà
- Đọc trước ngữ liệu trong Sách giáo khoa để trả lời câu hỏi tìm hiểu bài học
- Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (do GV giao từ tiết trước)
2 Thiết bị: máy tính, máy chiếu, loa, đồ dùng dạy học trực quan.
III TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC BÀI HỌC
1 KHỞI ĐỘNG ( 5 phút)
Hoạt động của GV và HS Kiến thức cần đạt
Giáo viên giao nhiệm vụ
+ Trình chiếu một đoạn phim “Làng Vũ đạingày ấy”, và cho học sinh xem tranh ảnh vềtác giả Nam Cao, tác phẩm “Chí Phèo”
+ Chuẩn bị bảng lắp ghép
+ Đặt ra câu hỏi: Kể tên các nhân vật là
người nông dân trong các tác phẩm mà em
đã học? Ấn tượng của em về hình ảnh người nông dân trong các tác phẩm văn học đó là như thế nào?
* HS:
+ Nhìn hình đoán tác giả Nam Cao
+ Lắp ghép tác phẩm với tác giả+ Trả lời câu hỏi
- Nhận thức được nhiệm vụ cầngiải quyết của bài học
- Tập trung cao và hợp tác tốt đểgiải quyết nhiệm vụ
- Có thái độ tích cực, hứng thú
2 HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Hoạt động của GV và HS Kiến thức cần đạt
* Thao tác 1 : Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác phẩm
Bước 1: GV giao nhiệm vụ
- Học sinh đọc phần tiểu dẫn trong SGK
- GV cho HS hoạt động cá nhân và trình bàytrước lớp
Trang 11+ Nêu xuất xứ?
+ Đề tài và ý nghĩa nhan đề?
Theo em, tại sao tác giả không giữ tên tác phẩm là “Cái lò gạch cũ” hay
“Đôi lứa xứng đôi” mà lại đổi thành
- Sau cách mạng tác phẩm được tái bản và
được đổi tên một lần nữa Chí Phèo.→ nhấn
mạnh nhân vật Chí Phèo
GV yêu cầu HS: Em hãy tóm tắt lại truyện!
(theo cuộc đời Chí Phèo? Theo kết cấu văn bản?)
Tóm tắt tác phẩm:
Bước 4: GV nhận xét, chốt kiến thức
tác năm 1941 Được in trong tậpLuống Cày (1946) Sau đó introng Nam Cao – Tác phẩm, tập
* 1 HS đọc, cả lớp theo dõi
Thao tác 2: Tổ chức cho HS thảo luận nhóm:
Bước 1: GV giao nhiệm vụ
Nhóm 1: Nam Cao đã đưa vào tác phẩm
những loại người nào để hình thành diện mạo của làng Vũ Đại?
II Đọc- hiểu văn bản:
1 Làng Vũ Đại - hình ảnh thu nhỏ của xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạnh tháng Tám.
- Toàn bộ truyện Chí Phèo diễn
ra ở làng Vũ Đại Đây chính làkhông gian nghệ thuật của
Trang 12Nhóm 2: Em có nhận xét gì về làng Vũ Đại
nói riêng và bổi cảnh xã hội nông thôn ViệtNam trước Cách mạng tháng Tám nói chung?
Nhóm 3: Đọc và tìm những chi tiết miêu tả
chân dung bá Kiến: Về ngoại hình, tính cách bản chất…? ( Chú ý cái cười, giọng nói…)
Nhóm 4: Nét điển hình trong tính cách của
Bá là gì? Bá Kiến là con người như thế nào?
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ Bước 3: HS báo cáo kết quả thực hiện
Đại diên nhóm trả lời:
* Nhóm 3
- Bốn đời làm tổng lí “ Uy thế nghiêng trời”
- Giọng nói, cái cười mang tính điển hìnhcao: tiếng quát “rất sang”, “cái cười Tào
Tháo” Hắn có thủ đoạn mềm nắn rắn buông.
- Bá dựng lên quanh mình một thế lực vữngtrãi để cai trị và bóc lột, giẫm lên vai ngườikhác một cách thật tinh vi
* Nhóm 4
- Bá Kiến có đủ thói xấu xa: Háo sắc, ghentuông, sợ vợ, hám quyền lực Lão làm thahoá và làm tan nát bao nhiêu cuộc đời conngười lương thiện
- Đời sống của người nông dân
vô cùng khổ cực bị đẩy vàođường cùng không lối thoát, bịtha hóa
2 Nhân vật Bá Kiến
- Điển hình cho loại địa chủcường hào ở nông thôn Việt Namtrước Cách mạng: xảo quyệt,gian hùng, thủ đoạn - Với tiếngcười Tào Tháo, mềm nắn rắnbuông, dùng đầu bò trị đầu bò…
- Nhân cách ti tiện bỉ ổi, dâmđãng, ghen tuông và độc ác
=> Bá Kiến tiêu biểu cho giaicấp thống trị: có quyền lực, gianhùng, nham hiểm
* Hoạt động 1 : Hướng dẫn HS đọc - hiểu văn bản về nhân vật Chí Phèo.
* Thao tác 1 :
Tổ chức cho HS thảo luận nhóm: tìm hiểu vềquá trình tha hóa của nhân vật Chí Phèo
Bước 1: GV giao nhiệm vụ
Nhóm 1: Theo anh/ chị, cuộc đời Chí Phèo
3 Hình tượng nhân vật Chí Phèo.
* Quá trình tha hoá của nhân vật Chí Phèo
a Trước khi ở tù.
- Hoàn cảnh xuất thân: khôngcha, không mẹ, không nhà,không cửa, không một tấc đất
Trang 13có thể chia thành mấy chặng, là những chặng nào?
Nhóm 2: Em có nhận xét gì về cuộc đời và
tỉnh cách của Chỉ Phèo giai đoạn trước khi anh ta vào tù?
Nhóm 3: Khi đi tù về Chí Phèo đã thay đổi
như thế nào? (Ngoại hình? Tính cách?) Ý nghĩa của sự thay đổi đó? Nhận xét về những lời chửi của Chí Phèo trong đoạn mở đầu?
Nhóm 4: Nguyên nhân nào đẩy Chỉ Phèo
vào con đường lưu manh, tội lỗi không lối thoát? Từ những nguyên nhân trên, em hãy cho biết Nam Cao muốn đề cập đến nguyên nhân sâu xa nào?
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ Bước 3: HS báo cáo kết quả thực hiện
* Nhóm 1:
Cuộc đời Chí Phèo có thể chia thành 2 chặng:
- Từ khi sinh ra đến trước khi bị đẩy đi ở tù
- Sau khi đi từ về:
+ Sau khi đi tù về đến trước khi gặp Thị Nở
+ Sau khi gặp Thị Nở đến trước khi bị Thị Nởkhước từ
+ Sau khi bị Thị Nở khước từ cho đến khichết
- Chí Phèo là người có lòng tự trọng: Khi bị
mụ vợ ba của Bá Kiến bắt làm những việcnhằm thoả mãn nhục dục của mụ, Chí cảmthấy xấu hổ và nhục nhã
- Chí Phèo ước mơ có cuộc sống bình thường,lương thiện, với “một gia đình nho nhỏ muadăm ba sào ruộng làm”
- Nhận xét chung: Chí Phèo hiền lành, lươngthiện Cuộc sống tối tăm nhưng vẫn khônglàm hắn đánh mất bản chất tốt đẹp của mình
* Nhóm 3:
cắm dúi cũng không có, đi ở hếtnhà này đến nhà khác Cày thuêcuốc mướn để kiếm sống
- Từng mơ ước: có một ngôi nhànho nhỏ, chồn cày thuê cuốcmướn…→ Chí Phèo là mộtngười lương thiện
- Năm 20 tuổi: đi ở cho nhà cụ
Bá Kiến Bị bà ba Bá Kiến gọilên dấm lưng, bóp chân…Chícảm thấy nhục chứ yêu đươnggì→ biết phân biệt tình yêu chânchính và thói dâm dục xấu xa Làngười có ý thức về nhân phẩm
=> Chí Phèo có đủ điều kiện đểsống cuộc sống yên bình như baongười khác
b Sau khi ở tù.
- Nguyên nhân: vì Bá Kiến ghenvới vợ hắn
- Chế độ nhà tù thực dân đã biếnChí trở thành lưu manh, có tínhcách méo mó và quái dị Chí trở
thành con quỉ dữ của làng Vũ
Đại.
- Hậu quả của những ngày ở tù:
+ Hình dạng: biến đổi thành con
quỷ dữ “Cái đầu trọc lốc, hàm
răng cạo trắng hớn, cái mặt thì câng câng đầy những vết sứt sẹo, hai con mắt gườm gườm ”
→ Chí Phèo đã đánh mất nhânhình
+ Nhân tính: du côn, du đãng,triền miên trong cơn say, đậpđầu, chửi bới, phá phách và làmcông cụ cho Bá Kiến
→ Chí Phèo đã đánh mất nhântính
=> Chí đã bị cướp đi cả nhânhình lẫn nhân tính Bị biến chất
từ một người lương thiện thànhcon quỉ dữ Chí điển hình chohình ảnh người nông dân laođộng bị đè nén đến cùng cực, và