Bên cạnh đó, đa số học sinh không hứng thú với môn Lịch sử còn dophương pháp giảng dạy của giáo viên khi một bộ phận không nhỏ giáo viên vẫn “độc thoại” trong các giờ lên lớp cùng với đó
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN
CUỐI THẾ KỈ XIX Ở TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH
Người thực hiện: Vũ Thị Duyên Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Lịch sử
THANH HOÁ NĂM 2021
Trang 22 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 22.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.3 Một số biện pháp thực hiện đề tài 42.3.1 Sử dụng hệ thống câu hỏi tạo tình huống có vấn đề 42.3.2 Sử dụng phương pháp WebQuest (khám phá trên mạng) 72.3.3 Hướng dẫn học sinh nghiên cứu tư liệu lịch sử để rèn luyện kĩ
năng thẩm định thông tin, phê phán tư liệu 8
2.3.4.1 Tổ chức tranh luận theo nhóm 112.3.4.2 Tổ chức tranh luận cá nhân học sinh với nhau 132.3.4.3 Tổ chức tranh luận giữa giáo viên với học sinh 152.3.4.4 Sử dụng hệ thống bài tập, bài kiểm tra đánh giá theo hướng
phát triển tư duy phản biện cho học sinh 162.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 18
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Mạnh Tử - nhà giáo dục Trung Quốc thời cổ đại có nói rằng: “Đọc sách mà tin cả ở sách thì thà đừng đọc còn hơn” Câu nói này có nghĩa là tất cả tri thức
trong sách vở, trong cuộc sống đều phải cân nhắc, xem xét trước khi tin vào nó
Lời răn dạy đó còn nguyên giá trị khi Internet và các phương tiện truyền thôngngày càng hiện đại trở thành kho lưu trữ thông tin lớn nhất, phục vụ đắc lực chocuộc sống con người Vì vậy, một trong những yêu cầu phải có của một học sinhtrong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin là biết cách tìm kiếm, chọn lọc thôngtin cần thiết, chính xác và đáng tin cậy để kiến tạo tri thức cho bản thân Đâychính là lí do người học cần phải có tư duy phản biện để làm chủ tri thức củamình
Trong xã hội thông tin ngày nay, tư duy phản biện được cho là loại tư duynền tảng, cần thiết Tư duy phản biện giúp học sinh hiểu sâu sắc các vấn đềtrong học tập và trong cuộc sống, biết lựa chọn thông tin, tri thức cần thiết chomình Nó là cơ sở để phát triển các kĩ năng tư duy khác Ở nhiều quốc gia pháttriển, tư duy phản biện là một trong những tiêu chí đánh giá tiêu chuẩn đầu racủa các trường THPT và đại học
Trước xu thế chung của giáo dục thế giới, những năm gần đây giáo dụcnước ta rất quan tâm đến phát triển tư duy phản biện, biểu hiện là trong thông tưquy định về tiêu chuẩn đánh giá trường trung học cơ sở, trường THPT ngày06/4/2012 của Bộ giáo dục và Đào tạo, chương II (tiêu chuẩn đánh giá trườngtrung học), điều 7 (tiêu chuẩn 5: Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục), mục
2c có nói: “Hướng dẫn học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo và biết phản biện”.
Các môn khoa học xã hội trong đó môn Lịch sử là một trong những bộ môn
có ưu thế để phát triển loại tư duy này Vì vậy Lịch sử phải là môn học tạo cơhội cho học sinh phát biểu suy nghĩ, đưa ra ý kiến của mình về các sự kiện, nhânvật lịch sử từ đó có sự liên hệ quá khứ với cuộc sống đang diễn ra Thế nhưngcách dạy và học Lịch sử ở trường THPT hiện nay vẫn theo lối mòn truyền thụmột chiều Lời giảng của thầy và những gì viết trong sách giáo khoa (SGK)được coi là chân lý không có gì phải nghi ngờ, kiểm chứng Phương pháp dạy vàhọc như vậy đã tạo ra thói quen tư duy theo lối mòn, nhìn nhận vấn đề mộtchiều, bắt chước Đó là lối tư duy và làm việc kém hiệu quả mà chúng ta cầnthay đổi nếu không muốn đào tạo ra nguồn lao động trí thức trẻ không có khả
năng sáng tạo, không có tư duy độc lập, phản biện “nhìn cuộc sống bằng con mắt không phải của mình”.
Trong chương trình Lịch sử ở trường THPT, phần Lịch sử Việt Nam từ thế
kỉ X đến cuối thế kỉ XIX diễn ra nhiều sự kiện quan trọng làm thay đổi đến lịch
sử dân tộc, nhiều nội dung có thể giúp học sinh phát triển tư duy phản biện Xuấtphát từ những lí do trên, sau một thời gian tìm tòi và nghiên cứu, tôi quyết định
áp dụng sáng kiến: “Phát triển tư duy phản biện cho học sinh qua dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX ở trường THPT Ba Đình”.
Trang 41.2 Mục đích nghiên cứu
Hình thành ở các em niềm yêu thích môn Lịch sử, tạo cho các em niềmkhát khao tìm hiểu, biết tự đánh giá và nhận xét khách quan các sự kiện, nhânvật lịch sử , tạo cho các em niềm đam mê, hứng thú với môn học
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài xoay quanh việc nghiên cứu các biện pháp nhằm phát triển tư duyphản biện cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến cuối thế
kỉ XIX ở trường THPT Ba Đình
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt đề tài này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu hỗ trợ
+ Thao giảng, dự giờ trao đổi ý kiến với các đồng nghiệp trong quá trìnhgiảng dạy
+ Áp dụng kinh nghiệm phương pháp mới trên lớp
+ Kiểm tra đánh giá kết quả học sinh để từ đó có điều chỉnh và bổ sung
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Cho đến nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tư duy phản biện
nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất một quan điểm rằng: Tư duy phản biện là quá trình tư duy giúp con người đánh giá, phân tích một thông tin, một vấn đề đã có ở nhiều khía cạnh hoặc theo cách nhìn khác nhau nhằm làm rõ tính chính xác và khẳng định niềm tin của chính mình Cách nhìn khác
đó vừa mang tính khoa học vừa thực chứng, tức là có lập luận, chứng cứ rõ ràng Tư duy phản biện giúp con người chủ động trong suy nghĩ và hành động, đưa ra quyết định hợp lý và dễ dàng thành công trong cuộc sống Nó là nền tảng
để phát triển tư duy sáng tạo.
Trên cơ sở vai trò của sự phát triển tư duy phản biện cho học sinh trongquá trình học tập, tôi nhận thấy rằng phát triển tư duy phản biện có ý nghĩa trên
cả ba mặt kiến thức, thái độ và kĩ năng
- Về kiến thức: Tư duy phản biện giúp người học suy nghĩ vấn đề theo
nhiều hướng khác nhau, với những cách giải quyết khác nhau, do đó người học
sẽ có cái nhìn đa chiều trước những vấn đề cần giải quyết trong học tập cũngnhư trong cuộc sống Khi tiếp cận thông tin, có tư duy phản biện sẽ giúp họcsinh biết bảo vệ chính kiến của mình; đồng thời khi được phản biện sẽ học hỏithêm, nhìn về vấn đề sâu sắc hơn, biết tìm hiểu bản chất của vấn đề để thấu hiểuvấn đề trước khi đưa ra kết luận; từ đó thừa nhận cái sai của mình, sẵn sàng tiếpthu ý kiến đúng của người khác vì vậy dễ dàng thiết lập được mối quan hệ tốtvới người khác
- Về thái độ: Phát triển tư duy phản biện góp phần hình thành những phẩm
chất tốt đẹp cho học sinh Đó là tích cực, sáng tạo, sự tự tin, hoạt động độc lập,loại bỏ tính thụ động, ỷ lại vào người khác Bồi đắp những tình cảm tốt đẹp nhưđoàn kết, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, thông cảm, chấp nhận ý kiến đóng góp củangười khác
Trang 5- Về kĩ năng: Dạy học nhằm phát triển tư duy phản biện sẽ giúp học sinh
rèn luyện nhiều thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, phán đoán, suy luận, lậpluận đó là những thao tác tư duy cần thiết trong quá trình học tập nói chung vàhọc tập Lịch sử nói riêng Đồng thời khi có tư duy phản biện học sinh sẽ cónhững kĩ năng cơ bản, cần thiết khác như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng nêu và giảiquyết vấn đề, kĩ năng đặt câu hỏi, kĩ năng phân tích, hùng biện từ đó biết vậndụng linh hoạt những kiến thức đã học vào việc tiếp thu kiến thức mới và vậndụng vào cuộc sống Từ những tri thức lịch sử, bài học kinh nghiệm từ lịch sử,học sinh có thể tự đánh giá các vấn đề, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống và cónhững hoạch định cho tương lai, đó là giá trị lớn nhất mà tư duy phản biện manglại cho các em
Tóm lại, việc học và rèn luyện tư duy phản biện một cách tích cực sẽ giúpngười học suy nghĩ độc lập, tư duy theo hướng mở, nhận thức vấn đề rõ ràng,biết phân tích, so sánh, đánh giá, tự quyết định hành động Từ những lợi ích mà
tư duy phản biện mang lại, việc dạy và tăng cường rèn luyện tư duy phản biệncho học sinh trong học tập nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng là hết sức cầnthiết
2.2 Thực trạng vấn đề
Để tìm hiểu thực trạng môn học Lịch sử ở trường THPT Ba Đình, tôi đãtiến hành điều tra mức độ hứng thú của học sinh khối 11 với môn Lịch sử (cụthể ở 5/12 lớp: 11A, 11B, 11C, 11D, 11G với tổng sĩ số là 203 học sinh) và cóđược kết quả như sau:
Rất thích Thích Bình thường Không thích
0 0 31/203 15,3% 42/203 20,7% 130/203 64%
Qua bảng trên cho thấy, đa số học sinh không hứng thú với môn Lịch sử ở
trường phổ thông Không có học sinh nào tỏ ra “Rất thích” môn Lịch sử; có 31/203 học sinh (chiếm 15,3%) “thích” học môn Lịch sử; có 42/203 học sinh (chiếm 20,7%) thấy “bình thường”; trong khi có tới 130/203 học sinh (chiếm 64%) tỏ ra “không thích” môn Lịch sử
Khi tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng trên, tôi nhận thấy đa số học sinh
“không thích” môn Lịch sử vì cho rằng đây là môn học khô khan, quá nhiều sự
kiện, nặng về lý thuyết Có học sinh còn cho rằng học Lịch sử rất buồn chán vìcác em phải nghe giáo viên nói nhiều, ghi chép nhiều, về nhà phải học thuộc lòngnhiều Bên cạnh đó, đa số học sinh không hứng thú với môn Lịch sử còn dophương pháp giảng dạy của giáo viên khi một bộ phận không nhỏ giáo viên vẫn
“độc thoại” trong các giờ lên lớp cùng với đó là phương pháp kiểm tra đánh giá
gây nhàm chán, căng thẳng cho học sinh Vì vậy, việc bồi dưỡng hứng thú chohọc sinh với môn Lịch sử là việc làm cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọngtrong việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử
Để khắc phục trình trạng trên và nhằm nâng cao chất lượng dạy và họcLịch sử ở trường THPT Ba Đình, bản thân đã cố gắng tìm hiểu và áp dụng các
Trang 6phương pháp dạy học tích cực và mang lại sự hứng thú cho các em Vấn đề tôinghiên cứu tuy không mới mẻ nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao
ý thức của học sinh trong việc chủ động lĩnh hội kiến thức Qua đó giúp các emyêu thích học bộ môn Lịch sử hơn
2.3 Một số biện pháp thực hiện đề tài
Trong phần lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX những nộidung có ưu thế để khai thác và phát triển tư duy phản biện cho học sinh là:
Lịch sử 10: Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX
Bài học Nội dung, sự kiện, nhân vật lịch sử có
thể tổ chức tranh luậnBài 17: Quá trình hình thành và phát
triển của nhà nước phong kiến (từ thế
kỷ X đến thế kỷ XV)
Hồ Quý Ly
Bài 19: Những cuộc kháng chiếnchống ngoại xâm trong các thế kỷ X –XV
Thái hậu Dương Vân Nga
Bài 21: Những biến đổi của nhà nướcphong kiến trong các thế kỷ XVI -XVIII
Mạc Đăng Dung
Bài 23: Phong trào Tây Sơn và sựnghiệp thống nhất đất nước, bảo vệ Tổquốc cuối thế kỷ XVIII
Nguyễn Huệ ( vua Quang Trung)
Bài 25: Tình hình chính trị, kinh tế,văn hóa dưới triều Nguyễn (nửa đầuthế kỷ XIX)
Nguyễn Ánh (vua Gia Long)
Lịch sử 11: Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX
Chủ đề: Nhân dân Việt Nam khángchiến chống Pháp xâm lược (từ năm
1858 đến 1884)
- Phan Thanh Giản
- Trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước
Bài 21: Phong trào yêu nước chốngPháp của nhân dân Việt Nam trongnhững năm cuối thế kỷ XIX
Chiếu Cần vương
Từ những nội dung trên, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp nhằm pháttriển tư duy phản biện cho học sinh qua dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỷ
X đến cuối thế kỷ XIX như sau:
2.3.1 Sử dụng hệ thống câu hỏi tạo tình huống có vấn đề
Trong dạy học có nhiều loại tình huống có vấn đề như:
Tính huống mâu thuẫn: Tình huống này xuất hiện khi giáo viên tạo ra
mâu thuẫn giữa kiến thức cũ và mới, mâu thuẫn giữa kiến thức thực tế và nộidung bài mới Học sinh đối diện với những vấn đề, hiện tượng, quy luật tráiquan niệm thông thường hay ngược lại với những kiến thức mình đã biết Loạitình huống này tạo ra sự bất ngờ, nghịch lý so với những gì học sinh đã biết
Trang 7trước đó Từ đó sẽ lôi cuốn sự tò mò, hứng thú khiến học sinh đặt ra nhiều câuhỏi thắc mắc và mong muốn tìm hiểu bài học Tình huống này thường được tạo
ra ở đầu bài để định hướng cho toàn bộ bài học
Ví dụ: Khi dạy học bài 21: Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân
Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX (Lịch sử 11), giáo viên có thể tạo
tình huống mâu thuẫn trước khi vào bài học qua hình ảnh về những con đường,ngôi trường mang tên những nhân vật lịch sử trong bài: Giáo viên trình chiếu vàgiới thiệu cho học sinh xem hình ảnh những con đường và ngôi trường mang tên
Tôn Thất Thuyết, Hàm Nghi Khi đó học sinh sẽ tự đặt câu hỏi: Tôn Thất Thuyết
và Hàm Nghi là ai? Tại sao họ lại được nhân dân ta yêu mến đặt tên cho những con đường đẹp, những ngôi trường lớn như vậy?
Trong lúc học sinh đang tò mò và thắc mắc trong tư duy, giáo viên tiếp tục
nâng cao nhu cầu muốn tìm hiểu bài học của học sinh: Các em biết không, Tôn Thất Thuyết là vị quan giữ chức Thượng Thư Bộ Binh trong triều đình Huế, Hàm Nghi là ông vua trẻ Cả hai đều có tinh thần chống Pháp, không chấp nhận cúi đầu trước thực dân Pháp Họ đã kêu gọi toàn dân đứng lên chống Pháp và
là biểu tượng của phong trào yêu nước trong nhân dân những năm cuối thế kỷ XIX Tình huống trên xuất hiện những mâu thuẫn trong suy nghĩ của học sinh: Ở
những tiết học trước các em đều nhận xét thái độ chống Pháp của nhà Nguyễn làyếu ớt, bạc nhược, thậm chí đầu hàng vô điều kiện, tư tưởng chủ hòa chi phốivua và quan lại Bài học này, mở đầu giáo viên giới thiệu và nhắc đến một vịquan và một ông vua yêu nước có tinh thần chống Pháp, được nhân dân ta yêumến đặt làm tên đường, tên trường Như vậy, tình huống trên đã gây ra sự hoàinghi, thắc mắc và khiến học sinh mong muốn tìm hiểu bài học để biết về hainhân vật này
Tình huống xung đột: Tình huống này xuất hiện khi có mâu thuẫn xung
đột giữa các quan điểm, các sự kiện khác nhau Câu hỏi phát sinh: Đâu là sự thật?
Ví dụ: Khi dạy chủ đề: Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp xâm
lược (từ năm 1858 đến 1884) (Lịch sử 11), đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn,giáo viên đưa ra nhiều ý kiến khác nhau như sau:
Trang 8“Có ý kiến cho rằng nhà Nguyễn phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước việc để mất nước Có ý kiến cho rằng nhà Nguyễn chỉ phải chịu một phần trách nhiệm trong việc để mất nước Có người lại cho rằng: mất nước là tất yếu nhà Nguyễn không phải chịu trách nhiệm gì? Quan điểm đánh giá của em như thế nào?”.
Hay: “Đánh giá về nhân vật Phan Thanh Giản từ xưa tới nay có rất nhiều quan điểm trái chiều: Không ít người cho rằng ông là người có tội trong việc để mất sáu tỉnh Nam Kì.
Vua Tự Đức, ông vua “chủ hòa” cũng đã kết tội cụ làm mất lục tỉnh Nam
Kì, nên phán: “xét phải tội chết, chưa đủ che được tội” và nghi án “truy đoạt lại chức hàm và đẽo bỏ tên ở bia tiến sĩ, để mãi cái án trảm giam hậu” Nhưng đến năm 1886, vua Đồng Khánh lại “khai phục nguyên hàm” và khắc lại tên ông ở bia Tiến sĩ.
Các nhà sử học cũng không đồng nhất quan điểm Nhiều nhà sử học quê hương Nam Bộ không đồng thuận với phán xét của vua Tự Đức và quan điểm chính sử đương thời.
Năm 1963, ở miền Bắc, kết luận tổng kết cuộc tranh luận về Phan Thanh Giản trên tạp chí Lịch sử, một nhà sử học đã lên án Phan Thanh Giản phạm tội
“bán nước”, “dâng thành hiến đất cho giặc” [9].
Gần đây trên báo Dantri.vn nhà sử học Đinh Xuân Lâm phát biểu rằng:
“Phan Thanh Giản là người yêu nước nhưng bất lực…” [13].
Phan Thanh Giản (1796 - 1867)
Trang 9Khi được tiếp xúc với hai hay nhiều quan điểm trái ngược nhau như vậy, sẽthấy hoang mang, không biết đâu là sự thật Điều đó làm nảy sinh nhu cầu đọc
tư liệu, tìm kiếm sự thật
2.3.2 Sử dụng phương pháp WebQuest (khám phá trên mạng)
Ngày nay, với sự phát triển và phổ biến rộng rãi của Internet thì việc thuthập và xử lý thông tin trên mạng là kĩ năng cần thiết Tuy nhiên, việc học sinhtruy cập và tiếp xúc với các luồng thông tin trên mạng đã đặt ra nhiều vấn đề:
Mất nhiều thời gian vì lượng thông tin quá phong phú; nhiều thông tin, tài liệukhông chính xác Vì thế, đánh giá tính xác thực của thông tin, lọc ra nhữngthông tin cần thiết, chất lượng, đáng tin cậy là một kĩ năng quan trọng hàng đầu
Để khắc phục những vấn đề trên, các nhà giáo dục đã phát triển phươngpháp WebQuest (phương pháp “khám phá trên mạng”)
Với tư cách là một phương pháp dạy học, WebQuest được định nghĩa như
sau: “WebQuest là một phương pháp dạy học, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ về một chủ đề phức hợp, gắn bó tình huống thực tiễn.
Những thông tin cơ bản về chủ đề được truy cập từ những trang liên kết do giáo viên chọn lọc từ trước Việc học tập theo định hướng nghiên cứu và khám phá, kết quả học tập được học sinh trình bày và đánh giá” [13].
Sơ đồ tiến trình và vai trò của giáo viên, học sinh trong quá trình dạy họcWebQuest như sau:
Ví dụ: Giáo viên có thể sử dụng phương pháp WebQuest khi dạy chủ đề:
Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp xâm lược (từ năm 1858 đến 1884)(Lịch sử 11) như sau:
Chủ đề của WebQuest: “Hội thảo bàn về trách nhiệm của nhà Nguyễn
trong việc để mất nước”
Giáo viên giới thiệu chủ đề: Hai hiệp ước năm 1883 và 1884 đã thừa nhận
quyền bảo hộ của Pháp trên đất nước ta Từ một quốc gia độc lập, có chủ quyềnViệt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Với tư cách là ngườilãnh đạo đất nước, nhà Nguyễn có trách nhiệm gì trong việc để nước ta rơi vào
Nhận xét, đánh giá
Xác định nhiệm vụGiới thiệu chủ đề
Cung cấp nguồn Tìm kiếm, thu thập thông tin, tài liệuĐịnh hướng Chọn lọc và đánh giá thông tin
Trình bày kết quả, đưa ra kết luận
Trang 10tay Pháp? Để làm rõ vấn đề này, chúng ta sẽ tổ chức một buổi hội thảo bàn vềtrách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước.
Giáo viên chia cả lớp làm các nhóm nghiên cứu, mỗi nhóm sẽ đóng vai trò
là đại diện các nhà nghiên cứu trình bày quan điểm, ý kiến của mình về vấn đề
và cùng nhau thảo luận
Xác định nhiệm vụ: Để giải quyết được vấn đề trên, các nhóm học sinh cần
trả lời câu hỏi dưới đây:
- Dưới sự cai trị của nhà Nguyễn, Việt Nam là quốc gia như thế nào?
- Khi thực dân Pháp xâm lược, nhà Nguyễn có kháng chiến chống Phápkhông? Kết quả?
- Nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệm ở vấn đề gì?
Hướng dẫn học sinh tìm kiếm, thu thập thông tin: Giáo viên giới thiệu
cho học sinh một số bài nghiên cứu, tạp chí đăng tải trên Internet, các trang web
có bài viết về vấn đề này
Báo cáo kết quả và đưa ra kết luận: Mỗi nhóm cần làm một bài báo cáo
tham luận để trình bày trong giờ học “hội thảo bàn về trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước”, sau đó tiến hành thảo luận toàn lớp Cuối giờ
học, giáo viên đánh giá, nhận xét quá trình làm việc của học sinh, chất lượngthông tin mà từng nhóm thu thập được, quan điểm đánh giá của các nhóm Đồngthời có thể khảo sát bằng một số câu hỏi: Em có hài lòng và nhất trí với kết luậncủa buổi hội thảo không? Có điều gì làm em còn băn khoăn?
2.3.3 Hướng dẫn học sinh nghiên cứu tư liệu lịch sử để rèn luyện kĩ năng thẩm định thông tin, phê phán tư liệu
Việc sử dụng các loại tài liệu trong dạy học không chỉ giúp học sinh khắcsâu được những kiến thức cơ bản mà còn giúp cho các em tăng hứng thú học tập
bộ môn Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giúp học sinh rèn luyện kỹ năng thẩmđịnh thông tin, phê phán tài liệu khi học sinh đã quá tin tưởng vào SGK và giáoviên? Trong khi SGK luôn lạc hậu hơn so với thực tế cuộc sống Tôi mạnh dạnđưa ra một số cách sau:
Thứ nhất, sử dụng tư liệu để làm sâu sắc hơn nội dung trong SGK
Ví dụ: Bài 21: Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam
trong những năm cuối thế kỉ XIX (Lịch sử 11) đã nhắc đến sự kiện “Ngày 13/7/1885, Tôn Thất Thuyết lấy danh vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần vương, kêu gọi văn thân, sĩ phu và nhân dân cả nước đứng lên vì vua mà kháng chiến Chiếu Cần vương đã nhanh chóng thổi bùng ngọn lửa yêu nước trong nhân dân, tạo thành một phong trào vũ trang chống Pháp sôi nổi, liên tục kéo dài hơn 10 năm mới chấm dứt” [4] SGK đưa ra những thông tin và nhận định trên nhưng không
hề trích dẫn chiếu Cần vương để minh họa Như quan niệm thông thường, SGKviết gì học sinh tin theo không hoài nghi Đó là cách tư duy theo lối mòn, thụđộng Để thay đổi điều đó, giáo viên có thể làm cho học sinh hoài nghi về kết luận
viết trong SGK: “Chiếu Cần vương là gì? Nội dung của nó ra sao? Liệu nó có tác dụng lớn như thế không?” Để xác minh thông tin và kiểm chứng những nhận
định trên giáo viên có thể sử dụng Chiếu Cần vương cho học sinh nghiên cứu
(Bản dịch chiếu Cần vương xem ở phần phụ lục).
Trang 11Sau khi đọc thông tin trong SGK và bản dịch chiếu Cần vương, các emhãy thảo luận nhóm và trả lời các câu hỏi dưới đây.
1 Ai là người soạn chiếu Cần vương? Chiếu Cần vương mang danh nghĩa của ai?
2 Chiếu Cần vương viết ra trong hoàn cảnh nào? Hoàn cảnh đó có gì đặc biệt?
3 Nội dung của chiếu Cần vương nói về vấn đề gì?
4 Mục đích ban chiếu Cần vương là gì? Em hiểu thế nào về hai chữ “Cần vương?”.
5 Đối tượng mà chiếu Cần vương nhắc đến là những ai?.
Trả lời được toàn bộ câu hỏi nêu trên học sinh không những xác minh đượcnhững thông tin được đề cập trong SGK mà còn hiểu được bối cảnh và nguyênnhân bùng nổ phong trào Cần vương, mục đích, tính chất, ý nghĩa của phongtrào này
Cụ thể: khi nghiên cứu và thảo luận về chiếu Cần vương và trả lời câu hỏi
số (4) Mục đích ban chiếu Cần vương là gì?, học sinh trong lớp 11C cho rằng:
- Nhóm 1: Ban chiếu Cần vương để kêu gọi bá tính (nhân dân cả nước) đứng lên giúp vua cứu nước
- Nhóm 2: Phát động toàn quốc kháng chiến giống như lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ trong kháng chiến chống Pháp.
- Nhóm 3: Thông báo cho người dân biết tình hình đất nước, tình cảnh khó khăn của nhà vua, từ đó kêu gọi người dân ủng hộ (lương thực, vũ khí, quân nhu, trí tuệ…) giúp vua xây dựng căn cứ, quân đội lấy lại kinh thành, đuổi thực dân Pháp.
- Nhóm 4: Ra chiếu Cần vương để tạo thanh thế, tỏ rõ uy quyền của một vị vua trẻ chưa có tiếng nói, cổ vũ phong trào yêu nước của nhân dân, đe dọa thực dân Pháp…
Câu hỏi số (5) Đối tượng chiếu Cần vương nhắc đến là những ai?, rất
nhiều ý kiến của học sinh trong lớp đưa ra như sau: Quần chúng nhân dân, người yêu nước, những người trung quân (quan lại, sĩ phu, văn thân), nhân dân
cả nước, bá tính, tất cả công dân Việt Nam chịu cảnh mất nước, triều đình Huế (những người đầu hàng Pháp), thậm chí có cả thực dân Pháp.
Những ý kiến câu trả lời của học sinh đều dựa trên việc đọc SGK và tư liệuđọc hiểu chiếu Cần vương để xác minh thông tin, phán đoán, suy luận, nhậnđịnh, phê phán…
Ví dụ: học sinh nhóm (4): Lời văn chưa chiếu Cần vương chặt chẽ, mạnh
mẽ nhưng câu chữ, ý nghĩa chưa rõ ràng chỉ có những người biết chữ, có học mới hiểu được hết Trong bối cảnh ấy nhiều người dân không được đi học có lẽ chỉ nghe về chiếu Cần vương qua người khác nói hoặc đọc lại cho thôi, vì vậy sẽ không thể hiểu hết ý nghĩa của nó… Như vậy, ngoài việc đọc hiểu tư liệu học
sinh đã biết cách xâu chuỗi các dữ kiện để đưa ra suy luận, phê phán và đưa rakết luận
Thứ hai, đưa ra các tư liệu khác nhau về một nhân vật, sự kiện lịch sử cho học sinh đánh giá.
Ví dụ: Đối với chủ đề: Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp xâm
lược (từ năm 1858 đến 1884) (Lịch sử 11), khi bàn về nguyên nhân mất nướccuối thế kỉ XIX có nhiều ý kiến khác nhau Giáo viên có thể đưa ra các quan
Trang 12điểm khác nhau về vấn đề này cho học sinh đánh giá và so sánh, đối chiếu vớisuy nghĩ của mình Trước khi cung cấp tư liệu cho học sinh, giáo viên cho các
em thảo luận, tranh luận về vấn đề này trước Sau đó, giáo viên mới phát tư liệu
cổ, hễ ai nói đến sự gì hơi mới một tí thì bác bỏ đi, như thế thì làm sao mà không hỏng việc”.
Phan Bội Châu trong tác phẩm “Việt Nam vong quốc sử” cho rằng mất nước là do 4 nguyên nhân sau: Ngoại giao hẹp hòi; Nội trị lưu lạc; Dân trí bế tắc; Vua tôi trên dưới đều tự tư, tự lợi.
Quan điểm của một số sử gia Sài Gòn: “Nhà Nguyễn mất nước với Tây phương chỉ là vì văn minh nông nghiệp của Á Đông hết sức lạc hậu, yếu hèn, mà văn minh khoa học cùng cơ giới của phương Tây lại quá mạnh mà thôi”.
Giáo sư Trần Văn Giàu đưa ra nguyên nhân mất nước như sau:
- Triều đình không dự kiến về cuộc chiến tranh xâm lược phương Tây, không sẵn sàng chuẩn bị bảo vệ nền độc lập dân tộc.
- Khi Pháp tấn công luôn ở thế thủ.
- Triều Nguyễn bỏ qua nhiều thời cơ tốt để cứu vãn nền độc lập dân tộc.
- Ngoan cố, thủ cựu, cự tuyệt đường lối canh tân đổi mới đất nước.
- Nội bộ triều đình Huế có một bộ phận thức thời nhưng là thiểu số yếu ớt.
- Nhà Nguyễn kí nhiều hiệp ước cầu hòa không có lối thoát.
- Quá tin vào lương tâm hảo hữu của nước Pháp” [9].
Em hãy đọc những tư liệu trên và cho biết:
1 Các tác giả đã chỉ ra nguyên nhân mất nước trên cơ sở nào?
2 Em đồng ý hay không đồng ý với những nguyên nhân nào? Vì sao?
3 Hãy đưa ra ý kiến của mình về nguyên nhân mất nước cuối thế kỉ XIX?
Việc sử dụng tư liệu, tài liệu có vai trò cũng như tác dụng lớn trong việcphát huy tính chủ thể nhận thức, vai trò chủ động của học sinh Ở các giờ họcthông thường giáo viên chỉ yêu cầu học sinh đọc SGK Các câu hỏi giáo viênđưa ra chỉ yêu cầu học sinh tìm những ý trả lời có sẵn trong SGK, sau khi họcsinh trả lời, giáo viên nhận xét và đưa ra kết luận Ngược lại, giờ học sử dụng tưliệu lịch sử cho học sinh nghiên cứu các sẽ là người tự tìm câu trả lời, tự thunhận kiến thức và kiểm nghiệm nó thông qua quá trình thảo luận, trao đổi lẫnnhau Trong giờ học này kết luận cuối cùng luôn ở dạng mở Vai trò của giáoviên là người chuẩn bị tư liệu, tài liệu, trả lời các câu hỏi thắc mắc của học sinhtrong quá trình các em đọc tài liệu và SGK, tổ chức, hướng dẫn học sinh thảoluận, ra bài tập nhằm kiểm tra nhận thức hoặc làm sâu sắc thêm nhận thức củahọc sinh chứ không phải là người đưa ra chân lý hay kết luận cuối cùng Nếucần thiết thì giáo viên gợi mở kiến thức cơ bản mà học sinh cần nắm được saukhi học xong bài, hoặc đặt ra vấn đề mà học sinh cần tiếp tục suy nghĩ, tự tìm
Trang 13hiểu Vì vậy giờ học Lịch sử sử dụng sử liệu luôn khiến học sinh hứng thú vàsay mê học tập hơn.
2.3.4 Tổ chức giờ học tranh luận 2.3.4.1 Tổ chức tranh luận theo nhóm
Tranh luận theo nhóm là hình thức tổ chức cho học sinh học tập, trao đổi,phản biện theo từng nhóm, cùng giải quyết một nhiệm vụ học tập cụ thể nào đó,giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức, hiểu sâu sắc vấn đề và phát triểnnhững kĩ năng trí tuệ cần thiết dưới sự điều khiển và tổ chức của giáo viên
Tranh luận theo nhóm có thể tiến hành trong nhóm hoặc chia ra các nhóm nhỏ
để mọi học sinh đều có thể tham gia hoặc trao đổi nhận xét đánh giá Tức là khi
tổ chức tranh luận theo nhóm sẽ diễn ra đồng thời hai hoạt động tranh luận đó làtranh luận giữa các thành viên trong nhóm để tìm ra ý kiến chung cho cả nhóm
và tranh luận giữa các nhóm với nhau
Ví dụ: Khi dạy bài 17: Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước
phong kiến từ thế kỉ X đến thế kỉ XV (Lịch sử 10), giáo viên có thể tổ chức cho
các em tranh luận về một nhân vật có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử dân tộc,nhưng hầu như không được nhắc tới trong SGK cấp THPT và hiện nay còn rấtnhiều tranh cãi trong việc đánh giá về ông, nhất là việc ông thành lập nhà Hồthay cho nhà Trần (1400), đó là Hồ Quý Ly
Hồ Quý Ly (1336 - 1404)
Sau khi dạy bài 16 (Lịch sử 10), giáo viên sẽ giao bài tập về nhà bằng cáchnêu vấn đề tranh luận, chia nhóm và phân công các nhóm tìm hiểu theo địnhhướng của giáo viên
Trang 14“Tiết sau các em sẽ tranh luận về một nhân vật lịch sử - đó là nhân vật Hồ Quý Ly Sự xuất hiện của nhân vật Hồ Quý Ly và nhà Hồ vào những năm cuối thế kỉ XIV - đầu thế kỉ XV, là một hiện tượng lịch sử đặc biệt Thời gian thực hiện quyền lực của Hồ Quý Ly và giai đoạn trị vì của nhà Hồ tuy ngắn ngủi song với những cải cách của mình, ông đã được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao, được coi như cải cách lớn với những chủ trương toàn diện, táo bạo và triệt
để Tuy nhiên, bên cạnh đó, có rất nhiều đánh giá tiêu cực về Hồ Quý Ly và những cải cách của ông Vì vậy, đến nay, vẫn còn tồn tại rất nhiều luồng quan điểm trong việc đánh giá vấn đề này, điều quan trọng là chúng ta cần phải có những nhìn nhận một cách toàn diện, đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể để đưa ra những nhận xét thấu đáo và đúng đắn nhất.
Cả lớp chia làm 2 nhóm:
+ Nhóm 1: Tìm những lập luận, bằng chứng khẳng định việc nhà Hồ thay thế nhà Trần là một quy luật tất yếu của lịch sử Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn, táo bạo và quyết liệt.
+ Nhóm 2: Tìm những lập luận, bằng chứng khẳng định Hồ Quý Ly thành lập nhà Hồ thay cho nhà Trần là một hành động cướp ngôi, phản nghịch và đáng bị lịch sử lên án Những cải cách của Hồ Quý Ly không có đóng góp gì đáng kể”.
Khi bắt đầu tổ chức tranh luận ở bài 17 (Lịch sử 10), giáo viên nêu lại vấn
đề để học sinh tiếp nhận nhiệm vụ và hướng các em vào cuộc tranh luận Sau đó,giáo viên dành cho các em một thời gian từ 2 - 3 phút để làm việc nhóm, thảoluận thống nhất ý kiến trên cơ sở những ý kiến đã được chuẩn bị từ trước Đây làgiai đoạn quan trọng, là cơ hội để các thành viên trong nhóm thảo luận, bàn bạc,
cọ sát quan điểm, tự mình làm sâu sắc thêm tư duy của mình, đồng thời bổ sung,cộng hưởng với nhau để có thể đưa ra ý tưởng tốt nhất, thuyết phục nhất trướclớp Trong quá trình các nhóm làm việc, giáo viên cần đến tận từng nhóm họcsinh quan sát, lắng nghe, hướng dẫn
Sau thời gian làm việc nhóm, giáo viên tiến hành tổ chức cho học sinhtranh luận trước lớp, các nhóm lần lượt trình bày quan điểm, ý kiến và những cơ
sở để luận chặt chẽ và dẫn chứng xác đáng trong thời gian phù hợp Đồng thời,
để cho các nhóm khác bình luận, chất vấn, trao đổi… Qua đó, những khía cạnh,nội dung cần làm rõ, làm sáng tỏ sẽ được khai thác, vấn đề tranh luận sẽ được
mở ra dần dần và càng cuốn hút sự tò mò, ham hiểu biết của học sinh Các em sẽliên tục phải suy nghĩ để tìm ra cách hay nhất, đúng nhất chứng tỏ và khẳng địnhquan điểm của nhóm mình
Hai nhóm lần lượt cử đại diện trình bày quan điểm của mình là bênh vựchay lên án nhân vật Hồ Quý Ly, cùng với đó là những cơ sở có sức thuyết phụcnhư bối cảnh lịch sử nước ta cuối Trần, những cải cách mà Hồ Quý Ly thựchiện, những đánh giá của các nhà nghiên cứu, quan trọng nhất là hệ tư tưởng,quan điểm mà các nhóm dựa vào để khẳng định quan điểm của nhóm mình Đặcbiệt, trong khi các nhóm tranh luận, giáo viên cần giữ vai trò chủ đạo của mình,liên tục có những câu hỏi hướng học sinh vào trọng tâm của cuộc tranh luận,tránh lệch hướng, lan man
Giáo viên căn cứ vào mục tiêu bài học, phân phối nội dung bài học để dànhthời gian thích hợp cho các nhóm tranh luận, tránh sa đà, gây ảnh hưởng tới bài
Trang 15học Khi nhận thấy mục tiêu tranh luận đã đạt được đó là giúp học sinh có nhìnnhận công bằng, khách quan về nhân vật Hồ Quý Lý thì giáo viên chủ độngdừng cuộc tranh luận giữa hai nhóm và tổng kết, đánh giá hoạt động của từngnhóm Giáo viên cần cho các em thấy là việc đánh giá về Hồ Quý Ly có sự khácnhau, thậm chí trái ngược nhau như vậy là do các nhà sử học, nhà nghiên cứuđứng trên lập trường, tư tưởng và thời đại khác nhau, vì thế những tài liệu màcác em tìm được cũng mang tính chất chủ quan như vậy Việc nhìn nhận vấn đềnày như thế nào là do quan điểm của từng người, tuy nhiên khi nhìn nhận bất cứmột điều gì trong cuộc sống, các em cần phải có cái nhìn toàn diện, khách quan
và dựa trên những cơ sở khoa học chính xác
2.3.4.2 Tổ chức tranh luận cá nhân học sinh với nhau
Đây là hình thức có khả năng phát huy tính tích cực, chủ động của từng họcsinh trong học tập rất tốt, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ dạy học hiện nay Nếunhư tổ chức tranh luận nhóm, sẽ xảy ra hiện tượng một số học sinh không làmviệc, ỷ lại thì khi tổ chức tranh luận cá nhân, tất cả học sinh phải hoạt động vàlàm việc nghiêm túc vì thành quả, sự tìm tòi, nghiên cứu của các em sẽ được thểhiện ngay trong quá trình tranh luận Tranh luận cá nhân có thể giúp học sinhkhám phá ra những giá trị tiềm ẩn của mình như khả năng hùng biện trước đámđông, khả năng tư duy logic hay khả năng tự chủ
Ví dụ: Khi dạy mục 1 của bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến
trong các thế kỉ XVI - XVIII (Lịch sử 10); giáo viên có thể tổ chức cho học sinhtranh luận về nhân vật Mạc Đăng Dung bằng cách đưa ra vấn đề ngay tại lớpcùng các nguồn ý kiến đánh giá khác nhau để học sinh suy nghĩ và tranh luận
Mạc Đăng Dung (1483 - 1541)
Trang 16“Năm 1527, Mạc Đăng Dung đã bắt vua Lê nhường ngôi và thành lập triều đại mới - nhà Mạc, xung quanh sự kiện này và nhân vật Mạc Đăng Dung
có rất nhiều ý kiến đánh giá khác nhau Cụ thể, có hai khuynh hướng: bênh vực
và lên án Mặc Đăng Dung.
(1) Khuynh hướng lên án nhà Mạc và Mạc Đăng Dung: Trong nhiều bộ
sử của nước ta thời phong kiến như: “Đại Việt sử kí toàn thư”, “Khâm định Việt thông giám cương mục” hay “Việt Nam sử lược” các sử gia đã có những đánh giá, nhìn nhận rất khắt khe đối với Mạc Đăng Dung và nhà Mạc Nhà Mạc bị coi là “nhuận triều” nên nhà Mạc xếp ở phần phụ chương và Mạc Đăng Dung
bị coi là những kẻ “nghịch thần” hoặc những kẻ “thoán đoạt” [10].
(2) Khuynh hướng bênh vực nhà Mạc và Mạc Đăng Dung: Gần đây, giới
khoa học đã có cái nhìn cởi mở hơn, khách quan hơn khi xem xét vấn đề về Mạc Đăng Dung Sự xuất hiện của Mạc Đăng Dung trên chính trường là một tất yếu, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của xã hội bây giờ Hơn nữa, trong thời gian cầm quyền Mạc Đăng Dung cũng đã thi hành nhiều chính sách tiến bộ và có những đóng góp nhất định cho đất nước về kinh tế, văn hóa, giáo dục, tư tưởng Ông là một danh nhân, có công lao lớn đối với lịch sử dân tộc [10].
Vậy em có quan điểm như thế nào trong việc đánh giá về nhân vật Mạc Đăng Dung?”.
Sau khi đưa ra vấn đề tranh luận, giáo viên sẽ cung cấp cho học sinh nhữngnguồn tư liệu đánh giá về nhà Mạc và nhân vật Mạc Đăng Dung theo cả hailuồng quan điểm trên
Dựa trên những nguồn sử liệu mà giáo viên đã cung cấp, học sinh sẽ suynghĩ trong khoảng 2 - 3 phút để đưa ra quan điểm của mình về vấn đề đó, họcsinh sẽ lần lượt đưa ra đánh giá của mình, đồng thời có những lập luận để khẳngđịnh ý kiến đó là đúng, thuyết phục những người khác Hơn nữa, có những phảnhồi lại, bình luận, trao đổi hay phản bác ý kiến khác Trong quá trình đó, giáoviên là người điều khiển cuộc tranh luận của học sinh theo mục tiêu bài học đặt
ra và đưa ra những câu hỏi định hướng như:
- Bối cảnh xã hội dẫn đến việc Mạc Đăng Dung lật đổ nhà Lê, lập nên nhà Mạc?
- Tại sao Mạc Đăng Dung không phò tá vua Lê, thực hiện cải cách để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng mà lật đổ nhà Lê?
- Những việc mà nhà Mạc đã làm được trong thời gian cầm quyền của mình?
Sau khi học sinh tranh luận, cũng giống như tranh luận theo nhóm, giáoviên cũng sẽ dành một khoảng thời gian thích hợp để không gây ảnh hưởng đếntiến trình chung của bài học và dừng cuộc tranh luận đúng lúc, tránh gây căngthẳng và cuối cùng nhận xét, đánh giá, tổng kết vấn đề
Khi tổ chức tranh luận giữa cá nhân học sinh với nhau cần lưu ý:
+ Dành thời gian thích hợp để học sinh làm quen với chủ đề và suy nghĩ đểđưa ra quan điểm về vấn đề tranh luận
+ Giáo viên điều khiển, tổ chức, định hướng để phát huy tính tích cực củatất cả học sinh trong lớp
Trang 17+ Giáo viên tôn trọng ý kiến của từng học sinh, cũng như sự tôn trọng giữacác học sinh với nhau.
2.3.4.3 Tổ chức tranh luận giữa giáo viên với học sinh
Khi dạy học về lịch sử có vấn đề cần tranh luận, giáo viên sẽ nêu ra nhữngluồng ý kiến khác nhau và cung cấp những tư liệu, căn cứ để cho học sinh cóđược những hiểu biết nhất định về nhân vật đó Sau đó, giáo viên sẽ kích thíchnăng lực của học sinh bằng cách đưa ngay ra ý kiến của bản thân mình Giáoviên phải làm sao tạo được cho học sinh thấy được sự không hợp lý và khôngkhớp hoàn toàn giữa những tư liệu được đưa ra với ý kiến của giáo viên Từ đó,học sinh mới có thể mạnh dạn đưa ra ý kiến nếu ý kiến đó khác với quan điểmcủa giáo viên và tranh luận với giáo viên
Ví dụ: Khi dạy học phần I.1 bài 19: Những cuộc kháng chiến chống ngoại
xâm ở các thế kỉ X - XV (Lịch sử 10), giáo viên có thể tổ chức cho học sinhtranh luận về nhân vật Dương Vân Nga Giáo viên dẫn dắt:
Hoàng hậu Dương Vân Nga người Ái Châu (Thanh Hóa), con gái Nha tướng Dương Đình Nghệ Bà là vợ vua Đinh Tiên Hoàng, sau khi vua Đinh và con trai cả là Đinh Liễu bị ám sát, bà đã giao quyền nhiếp chính cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn (Lê Đại Hành) sau đó bà lại trở thành vợ vua Lê Đại Hành, chính điều đó đã đưa đến cho bà nhiều tai tiếng và cái nhìn kì thị của xã hội lúc bấy giờ Khi quân Tống kéo đến biên giới nước ta, tình thế cấp bách,
“Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long bào, khoác lên người lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế Năm 980 Lê Hoàng lên ngôi, lấy hiệu là
Lê Đại Hành Năm 982, vua Lê Đại Hành lập Hoàng Thái hậu nhà Đinh làm Đại Thắng Minh Hoàng Hậu” [12] Vì vậy, còn tồn tại hai luồng ý kiến trái ngược nhau về bà:
(1) Nhiều sử gia không đồng tình với hành động này của vua Lê Hoàn và Dương Vân Nga, cho rằng bà đã thông đồng với Lê Hoàn từ trước để cướp ngôi
(2) Bên cạnh đó có nhiều nhà nghiên cứu lại tỏ ra cảm thông cho hành động nhường ngôi cho Lê Hoàn cũng như việc hai người trở thành vợ chồng, cho rằng
bà đã hi sinh quyền lợi của dòng họ để bảo vệ quyền lợi của dân tộc Tuy nhiên, bản thân cô vẫn không thể đồng tình với hành động này của Dương Vân Nga.
Sau đó giáo viên đưa ra những chứng cứ và khơi gợi để học sinh đưa ranhận định, phản biện lại quan điểm trên của giáo viên
Ở hình thức tranh luận này, giáo viên đóng vai trò vừa là người tổ chức, điềukhiển, vừa là một bên tham gia tranh luận; bên cạnh đó giáo viên còn cần có nhữngcâu hỏi hay những biện pháp khích lệ kịp thời để học sinh mạnh dạn đưa ra ý kiếncủa mình, dù cho ý kiến đó trái ngược với giáo viên Đó là cách giáo viên rèn luyệncho các em tư duy phản biện, không bao giờ tiếp nhận thụ động, một chiều thôngtin và biết nghi ngờ khi nhìn nhận bất cứ vấn đề gì trong cuộc sống
Sau khi đạt được mục đích tranh luận, giáo viên sẽ kết thúc kịp thời và tổngkết vấn đề bằng cách đưa ra những đánh giá khách quan, đồng thời gợi mở chocác em suy nghĩ sâu sắc hơn:
“Thái hậu Dương vân Nga, một con người nổi tiếng về tài sắc, mạnh mẽ và quyết đoán Dù lịch sử có đánh giá bà như thế nào đi nữa thì hành động nhường ngôi cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn là một quyết định đúng đắn đối với vận