Tài nguyên kháng sản và năng lượng Tài nguyên kháng sản và năng lượng Gs Huỳnh Thu Hòa Võ Văn Bé I TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN 1 Các loại khoáng sản trên thế giới 2 Các loại khoáng sản ở Việt Nam 3 Tương la[.]
Trang 1Tài nguyên kháng sản và năng lượng
Gs Huỳnh Thu Hòa - Võ Văn Bé
I TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
1 Các loại khoáng sản trên thế giới
2 Các loại khoáng sản ở Việt Nam
3 Tương lai của tài nguyên khoáng sản
II TÀI NGUYÊN NĂNG LƯỢNG
1 Lược sử về sự sử dụng năng lượng
2 Sử dụng năng lượng trên thế giới và Việt Nam
3 Năng lượng mới.
Khoáng sản và năng lượng đều là nguồn nguyên liệu tự nhiên có nguồn gốc vô cơ hoặc hữu cơ, tuyệt đại bộ phận nằm trong lòng đất và quá trình hình thành có liên quan mật thiết đến quá trình lịch sử phát triển của vỏ trái đất trong một thời gian dài hàng nghìn năm, có khi hàng triệu năm
Trong quá trình phát tri n c a xã h i lo i ng ể ủ ộ à ườ ừ i t giai o n mông mu i đ ạ ộ ban đầ đế u n giai o n v n minh hi n nay thì s hi u bi t v s d ng đ ạ ă ệ ự ể ế à ử ụ khoáng s n, n ng l ả ă ượ ng ng y nhi u h n v a d ng h n à ề ơ à đ ạ ơ
I TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
Vỏ trái đất có phần lục địa chiếm khoảng 50% khối lượng toàn bộ của vỏ trái đất tương đương với 2, 9% khối lượng của trái đất Phần lớn vỏ trái đất được cấu tạo bởi các nham thạch bị nóng chảy, nguội dần và kết tinh Thành phần các nguyên tố cấu tạo nên vỏ trái đất được biết nhưng chưa đầy đủ vì những khảo cứu chỉ mới được thực hiện trên lục địa
mà thôi Hơn nữa trên lục địa cũng có những vùng không khảo cứu được vì nơi nầy có lớp trầm tích quá dày
Bảng 1 Thành phần các nguyên tố cấu tạo nên vỏ trái đất (Masson - 1966)
Thành phần Trọng lượng (%)
Oxy (O2)
Silic (SiO2)
Nhôm (Al)
Sắt (Fe)
46, 60
27, 72
8, 13
5, 00
Trang 2Calci (Ca)
Natri (Na)
Kali (K)
Magne (Mg)
Titan (Ti)
Hydrogen (H2)
Các nguyên tố khác
3, 63
2, 83
2, 59
2, 09
0, 44
0, 14
0, 83
Trong sự phát triển của nền kinh tế hiện đại, những kim loại có nhu cầu lớn và có nhiều trong vỏ trái đất như nhôm, sắt và cả những kim loại có ít hơn như đồng, chì, kẻm đều
bị khai thác triệt để, tất nhiên chỉ khai thác được chúng khi chúng tập trung thành
quặng*, mỏ ** Những kim loại hiếm như thiếc, thủy ngân, titan và các kim loại quý như vàng, bạc, bạch kim có trử lượng rất ít và phân tán nên khó xác định được chính xác
* Quặng là tập hợp các khoáng sản trong đó hàm lượng các thành phần có ích (kim loại, hợp chất của kim loại ) đạt yêu cầu công nghiệp, có thể khai thác sử dụng có hiệu quả kinh tế
* Mỏ là một bộ phận của vỏ trái đất, nơi tập trung tự nhiên các khoáng sản do kết
quả của mộtquá trình địa chấtnhất định tạo nên
1 Các loại khoáng sản trên thế giới
Tùy theo đặc điểm và tính chất của mỗi loại khoáng sản, người ta phân chúng ra làm hai loại: khoáng sản kim loại và khoáng sản phi kim loại; mỗi loại lại được phân thành nhiều nhóm khác nhau tùy theo công dụng
- Khoáng sản kim loại bao gồm tất cả các kim loại được biết hiện nay, những kim loại thường gặp như nhôm, sắt, mangan, magnesium, crom và các kim loại hiếm như đồng, chì, kẻm, thiếc, tungsten, vàng, bạc, bạch kim, uranium, thủy ngân, molypden
- Khoáng sản phi kim loại như chlorua natri, carbonat calci, silic, thạch cao, nước biển, nước ngầm
Trong những chỉ số về phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia , người ta thường quan tâm đến ba chỉ số: tăng trưởng dân số, tăng trưởng sản xuất công nghiệp và tăng tổng sản
Trang 3lượng thu hoạch; vì sự gia tăng các chỉ số này luôn gắn liền với nhu cầu ngày càng cao về năng lượng và khoáng sản
Làm cơ sở cho sự phát triển công nghiệp hiện nay bao gồm một số kim loại chủ yếu như sắt, đồng, nhôm, chì, kẻm Ở nhiều quốc gia có nền công nghiệp phát triển thì nhu cầu về các kim loại nầy chiếm tỉ lệ 80% - 90% tổng lượng kim loại sử dụng trên thế giới Ngoài
ra nhu cầu về khoáng sản phi kim loại cũng tăng lên, chủ yếu được sử dụng để làm phân bón, sử dụng trong xây dựng và dùng làm nguyên liệu cho một số ngành công ngiệp Sau đây chỉ đề cập đến một số khoáng sản kim loại chủ yếu được khai thác sử dụng:
a Quặng sắt
Ðây là loại khoáng sản thường gặp và khá phổ biến trong vỏ trái đất, gồm bốn loại quặng
có tầm quan trọng trong thương mại là: Fe3O4 (magnetit), Fe2O3 (Hematit), FeO2 (limonit) và FeCO3 (Siderit) Các loại quặng này có chứa khá nhiều tạp chất nên tỷ lệ kim loại trong quặng giảm
Vùng Siberia (Liên Xô cũ) là vùng có trử lượng sắt được xem như lớn nhất thế giới Công nghiệp sản xuất thép trên thế giới ngày càng tăng theo sự phát triển của nền công nghiệp, năm 1965 sản xuất trên toàn thế giới là 370 triệu tấn đến năm 1980 sản xuất được gần 1 tỉ tấn
b Quặng đồng
Mặc dù trử lượng đồng trên thế giới ít hơn nhưng nhu cầu sử dụng cũng gia tăng Năm
1965 sản xuất đồng trên toàn thế giới là 6, 6 triệu tấn và với nhịp điệu gia tăng hàng năm
từ 3, 4% - 5, 8% Dự kiến nhu cầu về đồng đến năm 2.000 khoảng từ 16,8 triệu St đến mức tối đa là 34, 9 triệu St ( St = Shortton = 907,2 kg ), như vậy so với năm 1965 ở mức thấp thì tăng gấp 2,6 lần
Vấn đề đặt ra hiện nay trong công nghiệp đồng là nhu cầu về đồng càng tăng trong khi đó phẩm chất của quặng lại giảm nên giá thành của sản xuất đồng càng ngày càng tăng lên
Vì thê,ú những công cụ truyền thống vốn làm bằng đồng dần dần được thay thế bằng nhôm hoặc bằng chất dẻo
c Quặng nhôm
Nhôm không được gặp ở trạng thái đơn chất trong tự nhiên mặc dù nó chiếm đến 8,13% trọng lượng vỏ trái đất Bauxit chứa hydroxyd nhôm là quặng chính thường được khai thác để lấy nhôm
Năm 1948 sản xuất nhôm toàn thế giới chỉ đạt 0, 5 triệu tấn, đến năm 1968 đã lên tới 8 triệu tấn và nhu cầu về nhôm càng ngày càng cao hơn rất nhiều Hiện nay, hai ngành xây dựng và giao thông vận tải sử dụng nhôm nhiều nhất Hơn nữa do tính chất bền và chắc
Trang 4của hợp kim nhôm nên ngành kỹ thuật hàng không và hàng không vũ trụ ngày càng tiêu thụ nhiều nhôm hơn
Bảng 2 Nhu cầu về một số kim loại chính được sử dụng trên toàn thế giới (Mc.Hale)
(đơn vị Triệu St; 1 St = 907, 2 kg)
Năm
Kim lọai
( Dự kiến) Sắt 469, 0 900, 0 1130, 0 1400, 0 2250, 0
d Một số khoáng sản khác
- Quặng thiếc: trử lượng thiếc rất hạn chế và tập trung ở một số nước Ðông Nam Á
như Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Trung Quốc và một số quốc gia khác ở Châu Phi như Nigeria, Congo Thiếc mềm và dể dát mỏng nên được sử dụng để làm thùng và hộp chứa thực phẩm khô (60%), trong kỹ nghệ hàn (20%) và một số các công việc khác Do tính chất dể bị han gỉ của thiếc nên ngày nay nhôm và chất dẽo dần dần thay thế vị trí của thiếc trong việc sản suất các thùng chứa thực phẩm
- Nikel (kền): chủ yếu khai thác ở Canada (chiếm 80% toàn thế giới) ngoài ra còn có ở
Liên Xô cũ, Cuba
- Chì: chì thì mềm, nóng chảy ở nhiệt độ tương đối thấp, không bị han gỉ và nặng hơn
cả trong số các kim loại thông thường Trong thời gian qua thì nhu cầu chì ngày càng tăng nhất là Liên Xô và một số nước ở Châu Á, một phần do phát triển sản xuất ô tô ở khu vực nầy
- Phân bón: Nông nghiệp ngày càng phát triển nên nhiều nước sử dụng càng nhiều
phân hóa học để tăng thu hoạch mùa màng Công nghiệp phân hóa học càng phát triển,
kỹ thuật chế tạo phân bón không phức tạp nó đòi hỏi số nguyên liệu để cố định đạm và
xử lý phosphat Nguyên liệu chủ yếu để sản xuất phân bón là P205, K20 và N2 dồi dào
trong lớp vỏ quả đất nên giá thành trở nên hạ
2 Các loại khoáng sản ở Việt Nam
Nền công nghiệp và nông nghiệp Việt Nam đang từng bước phát triển với tốc độ ngày càng tăng đòi hỏi càng nhiều khoáng sản hơn
Trang 5a Các khoáng sản kim loại chính
- Quặng sắt: Trử lượng 700 triệu tấn phân bố rải rác từ Bắc bộ đến Nam trung bô
Những mỏ đạt trử lượng công nghiệp không nhiều và tập trung ở Bắc bộ, trong đó mỏ Thạch Khê (Nghệ Tỉnh) có trử lượng ước tính khoảng 500 triệu tấn, chất lượng quặng tốt Năm 1979 mới tiến hành khai thác ở mỏ Thái Nguyên và đã luyện được 100.000 tấn thép, năm 1980 chỉ khai thác được 60.000 tấn, đến năm 1989 được 75.000 tấn, năm 1995 khai thác khoảng 150.000 - 175.000 tấn
- Quặng đồng: Trử lượng ước tính 600.000 tấn, hầu hết tập trung ở Tây Bắc bộ như ở
Tạ Khoa (Sơn La) và Sinh Quyền ( íLào Cai ) Hiện nay sự khai thác thủ công với sản lượng 2.000kg/ năm
- Quặng nhôm: Quặng bauxit chứa hydroxyd nhôm có trử lượng đạt yêu cầu công
nghiệp tập trung ở Ðông Bắc bộ và khu 4 cũ, ở Tây nguyên, Lâm Ðồng ước tính có 4 tỉ tấn, chất lượng quặng tốt, hàm lượng quặng từ 40 - 43% Tuy nhiên, việc khai thác vẫn chưa phát triển vì còn thiếu năng lượng và cơ sở hạ tầng Tương lai ngành khai thác bauxit để lấy nhôm có nhiều triển vọng
- Quặng thiếc: có trử lượng 70.000 tấn phân bố ở 3 khu vực: khu vực đông bắc Bắc bộ
(Cao Bằng, Tuyên Quang); khu vực Bắc trung bộ (Nghệ An, Hà Tỉnh); khu vực Nam Trung bộ ( Lâm đồng, Thuận Hải) Hiện khai thác không đều, dự kiến năm 1995 khai thác được 1.000 tấn
- Quặng cromit: trử lượng chung khoảng 10 triệu tấn phân bố rải rác ở các khu vực
phía Bắc chất lượng quặng không cao, trử lượng lớn tập trung ở Thanh Hóa ước tính khoảng 3,2 triệu tấn, hàm lượng 46% Việc khai thác được tiến hành từ lâu song sản lượng chưa nhiều, hy vọng trong tương lai gần sẽ đưa sản lượng lên khoảng 15.000 - 20.000 tấn / năm
- Các kim loại khác: vàng, titan, kẻm, nikel, mangan phân bố rộng rải nhiều nơi từ
vùng núi đến các bải biển Việc khai thác các quặng này còn hạn chế và nhà nước chưa
có biện pháp hữu hiệu để quản lý nguồn tài nguyên này nên việc khai thác bừa bải làm hao hụt tài nguyên và còn ảnh hưởng xấu đến môi trường
b Phân bón
- Apatit: trử lượng trên 1 tỉ tấn tập trung ở Cam Ðường (Lào Cai) và Qùy Châu (Nghệ
An) trong đó quặng có chất lượng cao chỉ khoảng 70 triệu tấn, số còn lại kém chất lượng Sản lượng khai thác hiện nay là 1, 5 triệu tấn / năm, từ đó chế biến khoảng 500.000 tấn phân lân Năm 1995 sản xuất được 1 triệu tấn phân lân, số phân này chỉ đáp ứng 50% nhu cầu trong nước
- Ðá vôi: là nguồn nguyên liệu đáng kể Trử lượng lớn phân bố ở Bắc bộ và Trung bộ
và một số ít ở vùng Kiên Giang Ðá vôi là nguyên liệu để làm xi măng và một số ít được
Trang 6dùng để bón ruộng Hiện nay, sản xuất xi măng có thể đáp ứng được cho nhu cầu trong
nước và một số ít được xuất khẩu
3 Tương lai của tài nguyên khoáng sản
a Tương lai của tài nguyên khoáng sản trên thế giới
Tài nguyên khoáng sản không phải là vô tận, một số lại rất hạn chế, nhất là với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại thì sự cạn kiệt nguồn tài nguyên khoáng sản đang là mối đe dọa đối với nhiều quốc gia và nói chung là đối với cả nhân loại
Theo đánh giá của các nhà chuyên môn về tình hình trử lượng một số loại khoáng sản như sau: Sắt, nhôm, titan, crom, magnesium, platin trử lượng còn khá nhiều chưa có nguy cơ cạn kiệt; Bạc, thủy ngân, đồng, chì, kẻm, thiếc, molypden còn ít và đang báo động; Fluorit, grafit, barit, mica trử lượng còn ít, đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt
Tuy nhiên, cũng có những ý kiến lạc quan hơn, đặt hy vọng vào sự tiến bộ của khoa học
kỹ thuật trong tương lai và dựa vào nguồn tài nguyên khoáng sản chưa được khai thác ở các đại dương bên cạnh nguồn tài nguyên còn lại trên lục địa, người ta cho rằng:
- Với tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì tương lai có thể phát hiện và tạo nên những nguyên liệu mới đảm bảo cho nhu cầu của con người
- Tận dụng khai thác phần khoáng sản còn lại trên lục địa, khi cần thì đào sâu hơn và thu nhận cả những khoáng sản nghèo hơn
- Sự phát triển của ngành Hải dương học (oceanography) và ngành địa chất hải dương (marine geology) hy vọng rằng sẽ phát hiện được một kho tàng phong phú và khai thác
để sử dụng
b Tương lai của tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
Tiềm năng về khoáng sản kim loại và phi kim loại ở Việt Nam tương đối lớn, các quặng
mỏ đã dần dần được xác định và một kế hoạch khai thác tài nguyên khoáng sản có hiệu quả đang từng bước được thực hiện Tuy nhiên, để thực hiện được kế hoạch này, có những khó khăn cần được khắc phục như:
- Lựa chọn giữa việc mở công trường khai thác khoáng sản với việc sử dụng đất với mục đích khác sau cho có hiệu quả hơn
- Các hoạt động khai thác cố tránh hoặc hạn chế thấp nhất làm thay đổi địa hình, gây nên
sự nhiễm bẩn không khí, nước, đất và ảnh hưởng xấu đến cảnh quang
Trang 7- Tránh mọi tổn thất tài nguyên trong khâu thăm dò khai thác, chế biến sử dụng
Vì vậy, để giải quyết các vấn đề trên, trong thời gian tới cần đẩy mạnh công tác kế hoạch thăm dò, khai thác và chế biến sử dụng kết hợp với việc bảo vệ tài nguyên trong lòng đất
và môi trường chung quanh, chống ô nhiễm trong quá trình khai thác, phục hồi các hệ sinh thái vùng mỏ, giảm bớt sự tổn thất tài nguyên trong quá trình thăm dò, khai thác, chế biến sử dụng, đây là vấn đề cần được quan tâm
II TÀI NGUYÊN NĂNG LƯỢNG
1 Lược sử về sự sử dụng năng lượng
Thời cổ xưa, con người nguyên thủy chỉ dùng sức mạnh của cơ bắp đề sản sinh ra năng lượng cho cuộc sống, năng lượng nầy do thức ăn cung cấp; ở giai đoạn hái lượm vào khoảng 2.000 kcalo/người /ngày Sau khi phát hiện ra lửa và cải biến công cụ săn bắt các thú lớn thì năng lượng mà con người tiêu thụ được từ thức ăn đã tới 4.000 - 5.000
kcalo/ngày (khoảng 100.000 năm trước công nguyên), đến cuộc cách mạng nông nghiệp vào thời đại đồ đá mới (5.000 năm trước công nguyên) thì năng lượng tự nhiên bắt đầu được khai thác là sức nước và sức gió, đốt than củi để lấy nhiệt năng
Vào đầu thế kỷ thứ 15 sau công nguyên, năng lượng tiêu thụ theo đầu người một ngày là 26.000 kcalo Ðến thế kỷ 18 với cuộc cách mạng công nghiệp ra đời, sự phát minh ra máy hơi nước đầu tiên đẩy bằng piston, sau đó là vận động bằng tourbine; loại năng lượng mới nầy đã tăng cường gấp bội khả năng của con người trong sản xuất và trong lưu thông phân phối Vì thế năng lượng tiêu thụ theo đầu người ở đầu thế kỷ thứ 19 ước tính khoảng 70.000 kcalo / ngày
Từ đầu thế kỷ thứ 19 trở về trước thì năng lượng cung cấp do than, củi, rơm, rạ chiếm 50% trong cơ cấu sử dụng nhiên liệu của nhân loạivà sau đó dần dần được thay thế bằng than đá trong suốt nửa đầu thế kỷ 20
Ð n khi s phát minh ra ế ự độ ng c ơ đố t trong thì d u m tr th nh ngu n ầ ỏ ở à ồ nhiên li u chính thay th d n than á trong công nghi p N ng l ệ ế ầ đ ệ ă ượ ng tính theo đầ u ng ườ à i v o n m 1970 các n ă ở ướ c phát tri n l 200.000 ể à kcalo/ ng y T nay à ừ đế n n m 2000 ngu n n ng l ă ổ ă ượ ng ch y u m con ủ ế à
ng ườ ử ụ i s d ng l d u m v khí à ầ ỏ à đố t
2 Sử dụng năng lượng trên thế giới và Việt Nam
a Sử dụng năng lượng trên thế giới
* Than đá
Trang 8Từ thế kỷ 20 trở về trước, trong hàng ngàn năm, nguồn năng lượng được con người sử dụng cho cuộc sống hằng ngày chủ yếu lấy từ gỗ củi, rơm rạ, thân lá thực vật Than đá được khai thác vào thế kỷ thứ 10 ở Ðức nhưng không được con người ưa chuộng vì khó cháy và lại tỏa nhiều khí độc khi đốt
Ðến thế kỷ 15, ngành công nghiệp luyện kim ra đời và ngày một phát triển, nhất là đến đầu thế kỷ 19 vơí sự ra đời của các nhà máy nhiệt điện thì nhu cầu sử dụng than đá chiếm
tỷ trọng ngày một lớn Tuy nhiên, cho đến những năm 60 của thế kỷ 19 thì lượng than đá khai thác và sử dụng mới chỉ chiếm từ 23% - 27 %trong tổng năng lượng được sử dụng, còn khí đốt và dầu mỏ thì coi như không đáng kể
Từ đầu thế kỷ 20 thì cơ cấu thành phần nhiên liệu sử dụng có sự thay đổi lớn, tỷ lệ dùng than đá, dầu mỏ và khí đốt tăng cao, theo số liệu của năm 1965 thì tỷ lệ đó là 40%, 33,5%
và 16,3% Tuy nhiên, đối với từng khu vực và từng quốc gia, cơ cấu năng lượng sử dụng phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, chẳng hạn như Ấn Ðộ vào năm 1965 thì năng lượng cung cấp do than đá chiếm 40% trong khi đó năng lượng cung cấp từ điện năng, dầu mỏ, khí đốt chỉ đạt 7% Tuy nhiên trong thời gian qua xu hướng sử dụng năng lượng từ than đá có sự giảm sút rõ rệt vì dầu mỏ và khí đốt được khai thác ngày càng nhiều nên giá thành hạ Trong những năm gần đây, một xu hướng mới lại xuất hiện ở nhiều nước, trước tình hình dầu mỏ và khí đốt có hạn, giá lại tăng nhanh nên người ta quay trở lại sử dụng than đá đồng thời cải tiến kỷ thuật đốt cháy nhanh hơn và giảm được sự ô nhiểm môi trường do khí độc thoát ra
Bảng 3 Nhu cầu sử dụng than đá trên thế giới (Liêm, 1990)
(triệu tấn)
Các nhiên liệu khác(triệu tấn)
Tổng cộng (triệu tấn)
Tỉ lệ% than
sử dụng
1900
1940
1950
1960
1972
725 1.500 1.550 2.100 2.500
50
600 1.150 2.100 5.300
775 2.100 2.700 4.200 7.800
93,6 71,4 67,4 50,0 32,0
Trử lượng than đá thế giới là 23.000 tỷ tấn trong đó khoảng 30% tập trung ở Liên Xô (cũ), Hoa Kỳ và Trung Quốc Các nước có trử lượng than đá lớn hơn 20 tỉ tấn là: Liên Xô (4.122 tỉ tấn), Hoa Kỳ (1.100 tỉ tấn), Trung Quốc (1.011 tỉ tấn), Tây Ðức (70 tỉ tấn), Canada (61 tỉ tấn), Ba Lan (46 tỉ tấn), Nam Phi (26 tỉ tấn), Nhật Bản (20 tỉ tấn) Theo nhịp độ khai thác hiện nay thì việc khai thác thác than đá có thể tiến hành chừng 250 năm nữa
Trang 9Hình 1 Công trường khai thác than đá (Miller, 1988)
* Dầu mỏ
Từ nay đến năm 2000, năng lượng chủ yếu khai thác và sử dụng cho nhu cầu công nghiệp là dầu mỏ và khí đốt Riêng dầu mỏ, trử lượng tính cho toàn cầu (trừ Liên Xô và các nước XHCN) là 65,3 tỉ tấn trên các lục địa và đến năm 1978 trử lượng nầy tăng lên 74,9 tỉ tấn do quá trình thăm dò khai thác ở biển và thềm lục địa Không kể phần Liên
Xô, thì khoảng 65% dự trử dầu mỏ tập trung ở các nước thuộc khối Ả Rập
Từ nửa sau thế kỷ nầy thì nhu cầu về dầu mỏ ngày càng tăng và lượng dầu khai thác cũng tăng lên gấp đôi; theo ước tính với nhịp độ khai thác hiện nay thì trử lượng dầu sẽ cạn trong vòng 30 -35 năm nữa
Bảng 4: Sản lượng dầu thô khai thác được trên thế giới từ năm 1900
1900
1920
1930
1945
1950
19,9 96,9 196,5 354,6 524,8
1965
1970
1975
1980
1985
1503,5 2336,2 2709,1 3624,0 3700,0
Trang 101955
1960
770,1 1051,5
1990
1994
3003,4 2982,5
Có mâu thuẫn là khu vực sản xuất dầu nhiều nhất lại là nơi không tiêu thụ nhiều dầu, nên phần lớn dầu khai thác được xuất sang các nước tư bản phát triển Theo số liệu năm 1974 thì Tây Âu nhập 733,8 triệu tấn, Hoa Kỳ nhập 315,4 triệu tấn, Nhật nhập 268,1 triệu tấn
Liên Xô là nước có nhịp độ khai thác dầu mỏ tăng nhanh và vượt xa Hoa Kỳ, theo số liệu thì trước đại chiến thế giới lần hai kết thúc thì 60% lượng dầu xuất khẩu trên toàn thế giới
là của Hoa Kỳ, đến năm 1970 tỉ lệ nầy giảm xuống còn 22,3%, đến năm 1977 thì lượng dầu mà Hoa Kỳ sản xuất được chỉ đủ cung ứng 70 - 75% nhu cầu tiêu thụ trong nước nên phải nhập khẩu từ các nước Châu Phi và Trung Ðông Còn Liên Xô, trước đại chiến thứ hai thì lượng dầu khai thác chỉ bằng 17% so với Hoa Kỳ, đến năm 1973 con số nầy là 83% và từ năm 1975 Liên Xô đứng đầu thế giới về lượng dầu khai thác hằng năm
* Khí đốt thiên nhiên
Trong nửa sau thế kỷ 20, khí đốt là nguồn cung cấp quan trọng sau dầu mỏ Trử lượng khí đốt ở độ sâu hiện đang khai thác (3.000 m) là 72,9 ngàn tỉ m3 trong đó có 20% nằm ở đại dương Nếu tính ở độ sâu 5000 mét thì trử lượng khí đốt là 86 ngàn tỉ m3 Mức độ khai thác khí đốt cũng khác nhau tùy theo khu vực và từng nước là do nhu cầu thực tiển của sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước
Nhu cầu về khí đốt 1980 là 1.700 tỉ m3 trong đó các nước tư bản 1.030 tỉ m3 (riêng Hoa
Kỳ 680 tỉ m3) Do nhu cầu sử dụng càng tăng nên trử lượng ngày thu hẹp dần, năm 1972 ước tính còn 9,6 ngàn tỉ m3, đến năm 1976 chỉ còn 5,9 ngàn tỉ m3
* Ðiện năng
Công nghiệp điện ra đời vào cuối thế kỷ 19 và phát triển rất nhanh chóng Công nghiệp điện hiện nay bao gồm hai lĩnh vực chính là nhiệt điện và thủy điện Cho đến nay, điện năng được sử dụng trên thế giới là do các nhà máy nhiệt điện sản xuất là chính, còn thủy điện cung cấp chỉ là 1 phần nhỏ chiếm tỉ lệ từ 3,5% - 5%
Nhu cầu về điện năng càng ngày càng cao, trung bình trên thế giới thì bình quân mỗi đầu người là 1.600 kwh/năm, ước tính đến năm 2000 sẽ là 4.600 kwh / năm
Theo bảng dưới đây, nếu tính trung bình 10 năm thì sản lượng điện tăng lên gấp đôi và nếu so sánh và mức tiêu thụ năng lượng điện từ nửa đầu thế kỷ 20 nầy bằng tổng năng lượng điện tiêu thụ của toàn bộ nhân loại trước đó