i NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH NGUYỄN NGỌC LAM VY MỨC ĐỘ TẬP TRUNG VÀ CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CH[.]
GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI
Lý do chọn đề tài
Cùng với cải cách kinh tế, tự do thương mại và hội nhập kinh tế toàn cầu, những yếu tố này đã trở thành trọng tâm và ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động của ngành ngân hàng và toàn nền kinh tế Hệ thống ngân hàng đóng vai trò then chốt trong huy động, phân bổ và đầu tư vốn cho các hoạt động kinh tế xã hội, do đó hiệu quả hoạt động của ngân hàng tác động mạnh đến phân bổ vốn, tăng trưởng doanh nghiệp, mở rộng công nghiệp và phát triển kinh tế Hệ thống ngân hàng đồng thời là công cụ quan trọng để Chính phủ điều tiết, ổn định thị trường tài chính và quản lý kinh tế quốc dân Vì thế, mọi biến động của hệ thống ngân hàng sẽ có tác động trực tiếp và mạnh mẽ lên toàn nền kinh tế.
Trong những năm gần đây, ngành ngân hàng Việt Nam đã chứng kiến chuỗi thay đổi mạnh mẽ nhằm thích nghi với tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và tác động của các biến động kinh tế Sau các bước điều chỉnh về cấu trúc và chuyển đổi mô hình hoạt động, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đang tiếp tục cải thiện quản trị, ứng dụng công nghệ số và mở rộng các sản phẩm dịch vụ, hướng tới tăng hiệu quả hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh và tuân thủ các chuẩn quốc tế.
Nam đã có những bước chuyển mình đáng kể trong việc phát triển về quy mô, cơ cấu, năng lực quản trị cũng như số lượng với hệ thống mạng lưới rộng khắp
Tuy nhiên, các cuộc chiến tranh thương mại diễn ra cũng như các biến động kinh tế do ảnh hưởng đại dịch toàn cầu đã tác động tới sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng Việt Nam Các ngân hàng thương mại Việt Nam đã bộc lộ những bất cập nhất định thông qua chất lƣợng tài sản thấp, nợ xấu tăng cao, trình độ quản trị nguồn nhân lực còn yếu,… Từ những điều đó đã đặt ra câu hỏi cho hệ thống ngân hàng về việc đƣa ra các chính sách, biện pháp xử lý kịp thời, khắc phục hiệu quả Trong giai đoạn gần đây, hệ thống pháp lý Việt Nam đã ban hành những quyết định liên quan đến vấn đề cơ cấu lại TCTD; có thể kể đến là
Quyết định 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 về cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 và Quyết định 986/QĐ-TTg ngày 8/8/2018 về Chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến 2025, định hướng đến năm 2030 đã đạt được những kết quả nhất định, như đảm bảo thanh khoản hệ thống và tạo điều kiện ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời kiểm soát được các ngân hàng yếu kém thông qua mua bán, sáp nhập hoặc cho phép TCTD tự tái cơ cấu nhằm ổn định hoạt động; tuy nhiên, hoạt động hợp nhất và sáp nhập ngân hàng đang dấy lên lo ngại về mức độ tập trung thị trường và có thể làm tăng chi phí vốn cho khách hàng khi gửi tiền, vay vốn; một nghiên cứu cho thấy tác động bất lợi về giá của M&A làm tăng mức độ tập trung cục bộ tại thị trường ngân hàng Hoa Kỳ (Prager và Hannan).
Mức độ tập trung của thị trường ngân hàng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh, bởi khi sự tập trung càng cao thì nguy cơ tồn tại sự chi phối thị trường bởi một hoặc một nhóm ngân hàng lớn càng lớn Điều này tác động đáng kể đến hoạt động kinh doanh và tạo ra rủi ro cho khả năng cạnh tranh của các ngân hàng, khi các ngân hàng có năng lực cạnh tranh yếu kém sẽ bị thay thế hoặc bị đẩy ra khỏi thị trường bởi các ngân hàng có năng lực cạnh tranh tốt hơn.
Nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nền kinh tế thế giới ngày càng được kết nối chặt chẽ, và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này Trong bối cảnh tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức So với các ngân hàng trên thế giới và ngay cả trong khu vực, các ngân hàng Việt Nam còn non trẻ về trình độ, quy mô và năng lực quản trị Trước và trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sôi động, nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều áp lực, đồng thời thị trường ngân hàng phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc các ngân hàng thương mại Việt Nam phải đổi mới, nâng cao năng lực và quản trị để phát triển bền vững.
Nam phải đổi mới liên tục
Đề tài "Mức độ tập trung và cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam" nhằm làm rõ mức độ tập trung của các ngân hàng ở nhiều khía cạnh và đánh giá mức độ cạnh tranh trên thị trường ngân hàng Việt Nam hiện nay Thông qua nghiên cứu này, các ngân hàng thương mại có được cái nhìn tổng quan về mức độ cạnh tranh trong nền kinh tế mở và từ đó đề xuất những định hướng chiến lược phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh Nghiên cứu giúp nhận diện cơ hội và thách thức, từ đó hỗ trợ việc tối ưu hóa hoạt động và tăng cường hiệu suất kinh doanh Vấn đề này cũng mang ý nghĩa chính sách, hỗ trợ Nhà nước trong việc điều tiết thị trường và duy trì sự ổn định của thị trường tài chính.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ tổng quan tình hình nghiên cứu và sự cần thiết của việc khảo sát mức độ tập trung và cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam, khóa luận "Mức tập trung và cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam" hướng tới mục tiêu đánh giá mức độ tập trung của thị trường ngân hàng Việt Nam, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh giữa các ngân hàng và đề xuất giải pháp nhằm cải thiện môi trường cạnh tranh; đồng thời xác định phương pháp nghiên cứu, nguồn dữ liệu và các chỉ tiêu đo lường phù hợp để cung cấp cơ sở khoa học cho quyết định của ngân hàng và cơ quan quản lý.
Trong khuôn khổ lý thuyết về cạnh tranh, cơ sở lý luận nhấn mạnh sự cân bằng giữa hiệu quả hoạt động và động lực đổi mới, vai trò của rào cản gia nhập và sự phân bổ nguồn lực trong ngành ngân hàng; cấu trúc cạnh tranh ngành ngân hàng được hình thành bởi mức độ tập trung thị trường, số lượng ngân hàng thương mại tham gia, mức độ phân biệt sản phẩm và sự điều chỉnh của cơ quan quản lý, từ đó xác định mức độ cạnh tranh từ mạnh đến yếu trong bối cảnh ngân hàng thương mại; để đo lường mức độ cạnh tranh của các ngân hàng thương mại, cần dùng các chỉ số như chỉ số tập trung thị trường (HHI), chỉ số Lerner, kiểm định Panzar-Rosse, chỉ số Boone, cùng các chỉ số thực tiễn liên quan đến lợi nhuận biên và chi phí như biên lãi thuần (net interest margin), chi phí trên doanh thu (cost-to-income ratio) và thị phần cho vay, tiền gửi nhằm so sánh và đánh giá mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng.
Đoạn văn này trình bày mục tiêu phân tích thực trạng mức độ tập trung và cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2012–2021, từ đó đánh giá cấu trúc thị trường ngân hàng thương mại và xu hướng cạnh tranh giữa các ngân hàng lớn, vừa và nhỏ Bài phân tích xem xét các chỉ số tập trung và cạnh tranh, như mức độ tập trung thị phần và các yếu tố tác động tới cạnh tranh, bao gồm quy mô ngân hàng, sự tham gia của ngân hàng nước ngoài, đổi mới công nghệ và mở rộng dịch vụ Dữ liệu sử dụng được thu thập từ báo cáo tài chính và cơ quan quản lý, kết hợp với phân tích xu hướng thị phần và cấu trúc thị trường để rút ra nhận định về mức độ cạnh tranh và đặc điểm của cấu trúc thị trường ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2012–2021.
(3) Từ kết quả đánh giá đƣa ra một số khuyến nghị nhằm xây dựng một hệ thống ngân hàng an toàn, hiệu quả và năng lực cạnh tranh cao.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài mức độ tập trung và cạnh tranh của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, bao gồm:
Hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam;
Thực trạng về sự tập trung và cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
Các yếu tố tác động đến mức độ cạnh tranh và chiều hướng tác động đến ngân hàng thương mại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu về không gian được xác định bằng việc thu thập và phân tích dữ liệu cập nhật đến ngày 31/12/2021, đồng thời sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập từ 31 ngân hàng thương mại Việt Nam đang hoạt động.
Về thời gian: số liệu thu thập từ các báo cáo tài chính của từng ngân hàng và số liệu kinh tế vĩ mô trong giai đoạn từ 2012 đến 2021.
Tính mới và đóng góp của đề tài
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, tác giả nhận thấy hầu hết các nghiên cứu ở Việt Nam về mức độ tập trung của ngành ngân hàng trước đây chỉ đo lường thị phần tổng tài sản, thị phần huy động vốn và thị phần tín dụng, mà chưa chú trọng đến đo lường độ phủ sóng của các điểm giao dịch trong hệ thống ngân hàng.
Trong khóa luận này, giai đoạn nghiên cứu về mức độ cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam được xác định từ năm 2012 đến năm 2021 Khoảng thời gian 2012–2021 được xem là cập nhật hơn so với các nghiên cứu trước đây về cạnh tranh và mức độ cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam, giúp làm rõ xu hướng, động lực cạnh tranh và thực trạng hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn này.
Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ tập trung và cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, đồng thời làm rõ những lo ngại về sự tập trung quy mô từ hoạt động mua bán và sáp nhập ngân hàng Kết quả sẽ cung cấp căn cứ cho các nhà quản trị và cơ quan giám sát nhằm nhận diện rủi ro tập trung thị trường và tác động đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng Bên cạnh đó, bài viết đề xuất các chiến lược và chính sách phù hợp để tiến hành thực hiện hoạt động giám sát hệ thống ngân hàng trong thời gian tới Nghiên cứu cũng đóng góp cho lý luận và thực tiễn trong việc đánh giá mức độ tập trung của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Việt Nam đang áp dụng phương thức hiện đại theo cả hai hướng tiếp cận: hệ thống và phi hệ thống Sự kết hợp này nâng cao mức độ cạnh tranh, góp phần to lớn vào kết quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam và đồng thời tăng cường sự ổn định, an toàn cho nền kinh tế.
Cấu trúc của đề tài
Bố cục dự kiến của khóa luận bao gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu mức độ tập trung và cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận về mức độ tập trung và cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị giải pháp nâng cao mức độ cạnh tranh và hoàn thiện hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 1 nêu rõ tính cấp thiết của đề tài và các nội dung liên quan như mục tiêu nghiên cứu, đối tượng tham gia, phạm vi khảo sát và kết cấu của đề tài nghiên cứu Bài viết cũng trình bày cái nhìn tổng quan và định hướng nghiên cứu cho toàn bộ bài, làm rõ mục tiêu và phạm vi phân tích nhằm định hướng câu hỏi nghiên cứu và cách tiếp cận phù hợp.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý luận về cạnh tranh của ngân hàng thương mại
2.1.1 Khái niệm cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Khái niệm về ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đóng vai trò là thành phần thiết yếu của hệ thống tài chính, có tác động lớn đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của nền kinh tế hàng hóa nói riêng Sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa đồng thời thúc đẩy quá trình hoàn thiện ngân hàng thương mại và giúp các ngân hàng dần khẳng định vai trò là một định chế tài chính không thể thiếu trong hệ thống kinh tế hiện đại.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng đƣợc thông qua ngày 12 tháng 12 năm
Theo Khoản 3 Điều 4 của văn bản luật hiện hành, ngân hàng thương mại được định nghĩa là một loại hình ngân hàng, được phép kinh doanh các dịch vụ, sản phẩm và thực hiện tất cả các hoạt động như một ngân hàng bình thường, nhằm mục tiêu lợi nhuận Văn bản luật này cũng quy định các hoạt động của ngân hàng bao gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Ngân hàng thương mại có các chức năng mang tính đặc thù như chức năng trung gian tài chính, chức năng cung ứng phương tiện thanh toán và chức năng trung gian thanh toán, không chỉ cung cấp cho người tiêu dùng các dịch vụ thiết yếu mà còn huy động vốn và thanh khoản trên thị trường; họ kiếm tiền từ nhiều loại phí và từ lãi vay, với mức phí khác nhau tùy theo sản phẩm—phí tài khoản (duy trì hàng tháng, phí số dư tối thiểu, phí thấu chi…), phí két an toàn và phí trả chậm—và nhiều sản phẩm cho vay còn kèm theo các khoản phí ngoài lãi suất Truyền thống ngân hàng thương mại thường hoạt động tại địa điểm thực tế, nhưng với sự phát triển công nghệ, hầu hết ngân hàng ngày nay cho phép khách hàng thực hiện đa số các dịch vụ trực tuyến như chuyển khoản, gửi tiền và thanh toán hóa đơn, và ngày càng có nhiều ngân hàng hoạt động trực tuyến hoàn toàn, cung cấp nhiều loại sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp hơn hoặc miễn phí cho khách hàng Họ duy trì thanh khoản bằng cách huy động tiền gửi và cho người dùng vay Vai trò này giúp ngân hàng thương mại thúc đẩy nền kinh tế bằng cách tạo tín dụng, từ đó tăng sản xuất, việc làm và chi tiêu tiêu dùng.
Khái niệm cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Kể từ khi nền sản xuất hàng hóa tƣ bản chủ nghĩa phát triển, thuật ngữ
Cạnh tranh được dùng rộng rãi và có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội Nó vừa là môi trường, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, khuyến khích đổi mới sáng tạo và tăng hiệu quả hoạt động của thị trường Vì vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với thuật ngữ cạnh tranh, phụ thuộc vào ngữ cảnh, mục tiêu nghiên cứu và đặc điểm của từng thị trường.
Theo từ điển tiếng Việt, cạnh tranh là một tình huống mà một hoặc nhiều bên cố gắng giành được thứ gì đó hoặc thành công hơn người khác Cạnh tranh thúc đẩy nỗ lực, sáng tạo và cải thiện năng lực để đạt được mục tiêu trong học tập, công việc hay trên thị trường, đồng thời giúp nhận diện và vượt qua đối thủ Tuy nhiên, cạnh tranh diễn ra tốt đẹp khi được thực hiện một cách công bằng, tôn trọng người khác và đi kèm với quản trị rủi ro để duy trì tinh thần và mối quan hệ lành mạnh Nhờ đó, cá nhân và tổ chức có động lực đổi mới và tối ưu hóa chiến lược để đạt được sự vượt trội.
Trong quá trình nghiên cứu sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, C.Mác cho rằng cạnh tranh giữa các nhà tư bản là một cuộc đấu tranh gay gắt và đầy ganh đua nhằm giành lấy những điều kiện thuận lợi cho sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, với mục tiêu cuối cùng là thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Trong cuốn sách Competitive Advantage (1985) của Michael E Porter, cạnh tranh kinh tế được định nghĩa là việc giành lấy thị phần, và bản chất của nó là tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Trong kinh tế học, cạnh tranh là quá trình các cá nhân hoặc doanh nghiệp tham gia vào nền kinh tế để tranh đua với đối thủ và thành công hơn, điển hình bằng cách tăng doanh số bán hàng trên cùng một thị trường Trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, các chủ thể luôn ganh đua nhau nhằm đạt được điều kiện thuận lợi hơn về sản xuất và tiêu thụ, với mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi ích cho bản thân Trên thực tế, cạnh tranh có thể diễn ra giữa hầu hết các đối tượng của nền kinh tế, giữa người sản xuất và người tiêu dùng, giữa các người tiêu dùng để có được hàng hóa với giá rẻ hơn, và giữa các doanh nghiệp để giành được điều kiện sản xuất và thị trường tiêu thụ tốt hơn.
Theo diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và
Phát triển kinh tế (OECD - Organization of Economic Co-operation and
Theo định nghĩa của Development (1997), cạnh tranh là năng lực của doanh nghiệp, ngành, quốc gia và khu vực trong quá trình tạo việc làm và nâng cao thu nhập ở mức cao trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Trong nghiên cứu này, cạnh tranh được định nghĩa là sự ganh đua giữa các chủ thể trong nền kinh tế thông qua các hành vi, tận dụng năng lực nội tại và ngoại sinh cùng với nỗ lực tìm kiếm các biện pháp khác nhau để đạt mục tiêu, mở rộng thị phần và tối đa hóa lợi nhuận Đối với lĩnh vực ngân hàng, cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khả năng tận dụng cơ hội để phát huy và sử dụng hiệu quả các lợi thế so sánh của mình nhằm giành thắng lợi trước các đối thủ trong quá trình cạnh tranh với các ngân hàng khác.
Cạnh tranh ngân hàng là quá trình các ngân hàng tranh giành các nhân tố có lợi và thu hút khách hàng nhằm nâng cao vị thế và hướng tới mục tiêu lợi nhuận Đây còn là một nỗ lực đồng bộ, khi các ngân hàng cung cấp cho khách hàng các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao với chi phí hợp lý, nhằm khẳng định vị trí trên thị trường, nổi bật hơn so với các ngân hàng khác và giảm thiểu những tác động tiêu cực của môi trường cạnh tranh đến hoạt động kinh doanh.
2.1.2 Tính đặc thù trong cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) chịu tác động trực tiếp của quy luật nền kinh tế thị trường và luôn phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt để duy trì tồn tại và phát triển Do tính chất đặc thù của lĩnh vực ngân hàng, khi xem xét cạnh tranh, NHTM có những đặc tính riêng so với các tổ chức kinh tế khác Cạnh tranh giữa các NHTM diễn ra không chỉ trên mặt bằng lãi suất và chi phí mà còn ở chất lượng dịch vụ, đổi mới công nghệ, quản trị rủi ro và khả năng tiếp cận vốn, từ đó quyết định hiệu quả hoạt động và vị thế thị trường.
Trong lĩnh vực ngân hàng, cạnh tranh cùng sự hợp tác giữa các ngân hàng là đặc thù của một ngành nhạy cảm và nhiều rủi ro Mỗi ngân hàng mới gia nhập thị trường đều sẵn sàng cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác thông qua huy động tiền gửi, cấp tín dụng và các dịch vụ tài chính, và quá trình này tạo nên mối liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với nhiều đối tượng trong nền kinh tế từ cá nhân, doanh nghiệp đến các tổ chức kinh tế, xã hội Trong hoạt động, nhiều đối tượng trở thành khách hàng chung và nhờ các hoạt động tài trợ mà trách nhiệm và quyền lợi của các ngân hàng được liên kết ở mức độ nhất định, khiến cho nguy cơ ảnh hưởng xấu tới an toàn hệ thống ngân hàng là khó tránh khỏi và những đối tượng liên quan cũng có thể bị ảnh hưởng nếu một ngân hàng gặp khó khăn hoặc phá sản Do đó, mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể làm suy yếu hoặc đẩy NHTM khác xuống tình trạng phá sản, gây ra hậu quả to lớn cho toàn bộ hệ thống tài chính.
Vì vậy, các ngân hàng thương mại vừa phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển, vừa mở rộng thị phần và nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời đảm bảo cạnh tranh lành mạnh và tránh rủi ro hệ thống.
Thứ hai, hoạt động kinh doanh và mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng phụ thuộc mạnh vào môi trường bên ngoài Có nhiều yếu tố tác động đến ngành ngân hàng, bao gồm kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý và truyền thống văn hóa, từ đó ảnh hưởng đến chiến lược và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.
Cơ sở lý luận về tập trung thị trường ngân hàng thương mại
2.2.1 Khái niệm và phân loại thị trường trong ngành ngân hàng
Thị trường, theo David Begg trong Kinh tế học, là biểu hiện súc tích của quá trình ra quyết định được cân bằng và điều chỉnh thông qua giá cả ở ba khía cạnh chính: quyết định về mặt hàng mà gia đình tiêu dùng; quyết định về loại hàng hóa sản xuất và quy trình sản xuất của các công ty; và quyết định về thời gian làm việc cũng như ai là người lao động làm cho ai.
Thị trường là tập hợp các thỏa thuận giữa người mua và người bán, nơi họ trao đổi hàng hóa và dịch vụ với nhau trong một khu vực nhất định, có thể là quốc gia, vùng lãnh thổ, tiểu bang hoặc thành phố Giá trị và chi phí của các mặt hàng được hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trường đó, và mức giá giao dịch phản ánh mức cân bằng giữa cung và cầu Thị trường có thể là một thực thể vật lý hoặc ảo, có thể ở quy mô địa phương hoặc toàn cầu, và có thể hoàn hảo hoặc không hoàn hảo tùy hoàn cảnh.
Trong kinh tế học vĩ mô, thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ, nơi các bên gặp nhau để trao đổi những hàng hóa đáp ứng nhu cầu trên thị trường và giá cả được xác định bởi sự cạnh tranh giữa các bên tham gia Có thể có sự can thiệp của Chính phủ hoặc các hình thức kế hoạch hoá tập trung Nói cách khác, thị trường là tổng hợp các quan hệ được hình thành trong quá trình mua bán diễn ra.
Thị trường được hiểu là tập hợp các bên mua và bán tham gia trao đổi và tương tác lẫn nhau; cấu trúc thị trường mô tả hành vi của người mua và người bán trong quá trình giao dịch.
Căn cứ vào những đặc điểm và tính chất cạnh tranh có thể chia thị trường thành các cấu trúc thị trường như sau:
- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
- Thị trường độc quyền hoàn toàn
- Thị trường cạnh tranh độc quyền
- Thị trường độc quyền nhóm (tập đoàn)
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cả người mua lẫn người bán đều là những người định giá, tức giá cả được xác định theo cung cầu thị trường, và những người định giá này không thể tác động lên giá thị trường vì họ không chiếm thị phần đáng kể Thị trường cạnh tranh hoàn hảo có ba đặc điểm chính: (1) không có nhà cung cấp nào chiếm thị phần đáng kể, (2) đầu ra của ngành được chuẩn hóa (đồng nhất), (3) các doanh nghiệp có thể tự do gia nhập và rời khỏi ngành Cụ thể, để một ngành có thể cạnh tranh hoàn hảo, thì không có nhà sản xuất riêng lẻ nào nắm giữ thị phần lớn so với cả ngành; các nhà cung cấp này không có khả năng chi phối thị trường bằng những quyết định của bản thân họ.
Trong ngành, các sản phẩm được chuẩn hóa dẫn tới sự đồng nhất giữa các nhà sản xuất Cạnh tranh hoàn hảo chỉ xảy ra khi người tiêu dùng cho rằng sản phẩm của tất cả các hãng là tương đương nhau Vì đặc tính chuẩn hóa, sản phẩm hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp có thể dễ dàng thay thế lẫn nhau, khiến cạnh tranh tập trung vào các yếu tố khác ngoài tính năng sản phẩm.
Trong hầu hết các ngành có cạnh tranh hoàn hảo, việc ra vào ngành của các doanh nghiệp diễn ra dễ dàng do thiếu rào cản gia nhập và ít chịu sự chi phối từ quy định Rào cản gia nhập thấp cho phép doanh nghiệp mới thâm nhập thị trường nhanh chóng, thúc đẩy cạnh tranh và mang lại mức giá, chất lượng dịch vụ tốt hơn cho người tiêu dùng Tuy nhiên, sự ít quy định có thể kéo theo rủi ro về chất lượng sản phẩm và sự ổn định của thị trường, khiến cấu trúc cạnh tranh trở nên nhạy cảm với các biến động chính sách.
Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, các chủ thể kinh tế nắm bắt được các điều kiện và dễ dàng tiếp cận cũng như sở hữu thông tin liên quan đến thị trường để đưa ra quyết định kinh doanh Không có sự can thiệp từ Chính phủ trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giúp thị trường tự điều chỉnh theo cung cầu và minh bạch thông tin, từ đó tối ưu hóa nguồn lực và mang lại lợi ích cho người tiêu dùng.
Thị trường độc quyền hoàn toàn
Thị trường độc quyền là thị trường mà một sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định chỉ được cung cấp bởi một công ty Trong mô hình độc quyền thuần túy, công ty duy nhất kiểm soát hoàn toàn thị trường, quyết định mức cung và mức giá, và không có sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế tương đối Do đó, thị trường độc quyền không cạnh tranh vì chỉ có một người bán duy nhất.
Những đặc điểm của thị trường độc quyền:
Trong thị trường độc quyền, chỉ có một người bán duy nhất nên thị trường này được điều tiết bởi nhà cung cấp duy nhất đó Vì vậy, nhu cầu về loại hàng hóa và dịch vụ do nhà cung cấp độc quyền cung cấp chính là nhu cầu thị trường đối với sản phẩm hoặc dịch vụ đó.
Trong thị trường độc quyền, rào cản gia nhập và rút lui rất lớn gồm giấy phép của chính phủ, bằng sáng chế và bản quyền, quyền sở hữu tài nguyên và chi phí khởi động đáng kể; bên cạnh đó, người bán độc quyền có thể nắm giữ thông tin mà các đối thủ khác không có, tạo ra lợi thế cạnh tranh dựa trên thông tin bất đối xứng Những đặc điểm đặc trưng của thị trường này khiến bên bán kiểm soát thị trường và định giá, khiến các công ty khác khó tham gia Hơn nữa, nếu chất lượng sản phẩm và dịch vụ mà công ty độc quyền cung cấp được Chính phủ xem là cần thiết cho phúc lợi công chúng và khó có công ty nào thay thế có thể bù đắp, doanh nghiệp đó có thể không được phép rút lui khỏi thị trường Ví dụ, các công ty dịch vụ công ích như điện lực và điện thoại cho thấy trường hợp bị ngăn cản thoát ra để đảm bảo cung cấp dịch vụ thiết yếu.
Trong thị trường độc quyền, không có cạnh tranh nên công ty độc quyền tự định giá và có thể kiểm soát, điều tiết thị trường, thậm chí đặt giá cao hơn so với mức giá trong một thị trường cạnh tranh, từ đó tạo điều kiện tối đa hóa lợi nhuận Xét thị trường co giãn, công ty sẽ bán được nhiều sản phẩm hơn khi giá hạ và bán được ít hơn khi giá tăng, vì vậy mức giá được xác định dựa trên độ co giãn của cầu để cân bằng giữa doanh thu và chi phí, nhằm tối ưu hóa lợi nhuận.
Trong một thị trường độc quyền, sản phẩm hoặc dịch vụ do công ty cung cấp là duy nhất và không có bất kỳ sản phẩm thay thế gần gũi nào có sẵn trên thị trường, tạo nên lợi thế cạnh tranh rõ ràng và định hình lựa chọn của người tiêu dùng.
Thị trường cạnh tranh độc quyền
Cạnh tranh độc quyền là thị trường kết hợp các yếu tố của thị trường cạnh tranh và thị trường độc quyền, với quyền tự do ra vào và sự phân biệt hóa sản phẩm giữa các công ty Trong thị trường này, không công ty nào có độc quyền và các doanh nghiệp hoạt động độc lập, tuy nhiên vẫn diễn ra cạnh tranh về giá và sự thay thế lẫn nhau giữa sản phẩm và dịch vụ Quyền lực thị trường bị hạn chế, nên các công ty không có khả năng tác động đáng kể đến nguồn cung hay tăng giá để thu lợi nhuận một cách dễ dàng Để đạt lợi nhuận, các công ty tập trung vào khác biệt hóa sản phẩm thông qua chiến lược tiếp thị, thương hiệu và mức chất lượng, khiến các sản phẩm có mức độ tương đồng cao nhưng không hoàn toàn thay thế nhau Sự khác biệt hóa cho phép định giá cao hơn cho lượng hàng hóa thấp hơn, và thị trường cạnh tranh độc quyền còn thúc đẩy đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm thông qua liên tục đầu tư vào phát triển sản phẩm và quảng cáo nhằm thu hút thị trường mục tiêu.
Độc quyền nhóm là cấu trúc thị trường trong đó một số doanh nghiệp thống trị một lĩnh vực cụ thể thông qua các hoạt động thương mại hạn chế, chẳng hạn như cấu kết và chia sẻ thị trường Những doanh nghiệp theo mô hình độc quyền nhóm tìm cách tối đa hóa lợi nhuận bằng cách giảm thiểu cạnh tranh trên thị trường thông qua cạnh tranh phi giá cả và sự khác biệt hóa sản phẩm.
Tổng quan các nghiên cứu về mức độ tập trung và cạnh tranh của ngân hàng thương mại
2.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Bàn về cạnh tranh và mức độ cạnh tranh ngành ngân hàng, trong suốt nửa thế kỷ qua trên thế giới và trong nước đã có rất nhiều nghiên cứu cả về lý thuyết lẫn thực tế đề cập về vấn đề này
Weil (2004) đo lường cạnh tranh ngân hàng đối với một mẫu gồm 12 quốc gia EU trong giai đoạn từ 1994 - 1999 và nhận thấy rằng mô hình cạnh tranh độc quyền đang giảm dần Sau đó, ông khám phá mối quan hệ giữa cạnh tranh và hiệu quả được đo lường bằng điểm hiệu quả được ước tính bằng cách tiếp cận biên ngẫu nhiên, cùng với một tập hợp các yếu tố vĩ mô và giả định địa lý Ông nhận thấy rằng mối quan hệ giữa cạnh tranh và hiệu quả có xu hướng nghịch chiều Kết quả này đƣợc hỗ trợ bởi nghiên cứu của Casu và Girardone (2006) trên một mẫu chứa 15 quốc gia thành viên EU Điểm khác biệt duy nhất là Casu và Girardone ƣớc tính hiệu quả của các ngân hàng bằng điểm hiệu quả đƣợc thực hiện bởi Phân tích phong bì dữ liệu phi tham số (DEA) Theo DeYoung, Hunter, và Udell (2004) đã đƣa ra nhận định rằng các ngân hàng có quy mô khác nhau có thể có ảnh hưởng khác nhau đến các điều kiện cạnh tranh Các ngân hàng nhỏ thường có lợi thế cạnh tranh khác với các ngân hàng lớn So với các ngân hàng lớn, các ngân hàng nhỏ ở các nước phát triển có xu hướng phục vụ nhiều khách hàng nhỏ ở địa phương hơn và cung cấp các dịch vụ tài chính theo định hướng bán lẻ hơn bán buôn
Nhiều nghiên cứu đã đề cập đến lý thuyết xác định mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng Nghiên cứu của J.A Bikker và K Haaf (2000) phân tích đặc điểm của 10 chỉ số đo lường mức độ tập trung thị trường ngân hàng và minh họa sự giống và khác nhau giữa chúng khi đánh giá cạnh tranh, đồng thời cho thấy cách phân loại chỉ số thành hai nhóm: hệ thống và phi hệ thống Theo cách tiếp cận hệ thống, các chỉ số này đóng vai trò quan trọng trong việc mô tả cấu trúc thị trường và làm rõ mối liên hệ giữa cạnh tranh và mức độ tập trung Sự tác động của mức độ tập trung thị trường bắt nguồn từ lý thuyết độc quyền nhóm và các mô hình hoạt động của thị trường.
Với cách tiếp cận phi hệ thống, việc đo lường mức độ cạnh tranh không phụ thuộc và mức độ tập trung thị trường
Về thực nghiệm, nhiều nghiên cứu cho thấy kết quả không thống nhất về mối quan hệ giữa mức độ tập trung và cạnh tranh ngành ngân hàng Shaffer (1993) đã áp dụng cách tiếp cận phi hệ thống để nghiên cứu lĩnh vực ngân hàng Canada trong giai đoạn 1965–1989 và nhận thấy mặc dù hệ thống đang tập trung, cạnh tranh vẫn gia tăng Nhóm tác giả Osman Furkan Abbasoglu, Ahmet Faruk Aysan và Ali Gunes (2007) đã nghiên cứu các chỉ số đo lường mức độ tập trung, mức độ cạnh tranh, hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ; kết quả cho thấy không có mối liên hệ giữa mức độ tập trung tác động tới cạnh tranh của ngành Các nghiên cứu trước đây cũng đưa ra nhận định tương tự Trong khi Bikker và Groeneveld (2000) kết luận rằng sự gia tăng mức độ tập trung trong ngành ngân hàng châu Âu không liên quan đến cạnh tranh.
Một nghiên cứu của Haan (2003) tìm thấy bằng chứng cho thấy mức độ tập trung liên quan đến khả năng sinh lời trong ngành ngân hàng, nhưng không có mối quan hệ giữa mức độ tập trung và cạnh tranh.
Yeyati và Micco (2007) cho thấy mối quan hệ giữa cạnh tranh và mức độ tập trung không phải lúc nào cũng rõ rệt, nhưng có xu hướng trái chiều Từ các nghiên cứu này, cần nhận diện sự khác biệt giữa mức độ cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng để tránh nhầm lẫn khi phân tích và đánh giá mức độ cạnh tranh cũng như cấu trúc thị trường ngành ngân hàng.
Về các nghiên cứu thực nghiệm gần đây thể hiện mức độ cạnh tranh của ngành ngân hàng, có thể kể đến nghiên cứu của Repková và Stavarek (2014)
Trong giai đoạn 2002-2010, nghiên cứu "Concentration and Competition in the Banking Sector of Turkey" ước tính điều kiện cạnh tranh và mức độ tập trung của ngành ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) được dùng để đo lường mức độ tập trung, trong khi mô hình Panzar-Rosse được áp dụng để ước tính các điều kiện cạnh tranh trên thị trường ngân hàng Kết quả cho thấy có xu hướng rõ ràng là sự gia tăng tập trung ở tất cả các phân khúc của khu vực ngân hàng.
Trong giai đoạn được phân tích, Thổ Nhĩ Kỳ được xem xét cùng với khu vực ASEAN Habib và các cộng sự (2017) đã sử dụng Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) và mô hình Panzar–Rosse để đo lường mức độ cạnh tranh của ngành ngân hàng ở các nước ASEAN trong giai đoạn 1995–2014.
Nghiên cứu cho thấy, hệ thống ngân hàng các nước Malaysia, Philipines,
Singapore và Thái Lan có mức độ tập trung cao, khiến sức cạnh tranh của từng ngân hàng bị giảm sút Trong giai đoạn nghiên cứu, hệ thống ngân hàng ở ASEAN được xem là ở trạng thái cạnh tranh độc quyền Nghiên cứu của Buddi (2017) đã dùng ba chỉ số là chỉ số H trong mô hình Panzar‑Rosse, chỉ số Lenner và chỉ số Boone để đánh giá mức độ cạnh tranh của ngành ngân hàng ở các nước ASEAN, và kết quả cho thấy một kết luận tương tự với Habib và cộng sự (2017).
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hồng Sơn (2012) cũng đề cập đến mức độ tập trung ngân hàng thông qua việc đánh giá toàn diện hệ thống ngân hàng nước ta Bài phân tích tập trung vào cấu trúc thị trường, mức độ cạnh tranh và các yếu tố tác động đến sự tập trung của hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời đề xuất các chỉ số đo lường tập trung nhằm làm rõ mức độ tập trung và rủi ro tài chính liên quan Kết quả cho thấy sự hiện diện của một số ngân hàng lớn ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, chi phí vốn và độ ổn định của hệ thống tài chính, từ đó nhấn mạnh vai trò của khuôn khổ quản lý và cạnh tranh trong việc cân bằng lợi ích của người gửi tiền và người vay.
Sau giai đoạn tái cấu trúc, bài viết làm rõ những xu hướng nổi bật trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Tác giả phân tích số lượng và quy mô tổng tài sản, quy mô tín dụng và cơ cấu sở hữu để làm rõ mức độ tập trung nguồn lực và sự biến động trong ngành.
Ở Việt Nam, đề tài này chủ yếu tổng hợp và đánh giá dữ liệu thứ cấp Tuy nhiên, nghiên cứu chưa tập trung vào phân tích chuyên sâu về mức độ tập trung và cấu trúc thị trường của ngành ngân hàng.
Trong nghiên cứu năm 2014 của Le Hai Trung, tác giả sử dụng chỉ số H trong mô hình Panzar–Rosse và chỉ số HHI để đánh giá mức độ tập trung và cạnh tranh của thị trường ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2004–2012 Kết quả cho thấy ngành ngân hàng Việt Nam mang tính chất cạnh tranh độc quyền Bên cạnh đó, tác giả cho rằng vẫn còn nhiều dư địa để ngành ngân hàng Việt Nam cải thiện bản chất cạnh tranh, vì mức độ cạnh tranh hiện tại vẫn thấp so với các nước châu Á khác.
Các nghiên cứu về tập trung và cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam cho thấy hai kết luận chính: Nghiên cứu của Huỳnh Việt Khải và cộng sự (2018) đo lường mức độ tập trung (CR3, CR5, HHI) và mức độ cạnh tranh (giá trị thống kê H) theo mô hình Panzar–Rosse, phân tích mối quan hệ và tác động của mức độ tập trung đến sự cạnh tranh của các NHTM Việt Nam; kết quả cho thấy mức độ tập trung của các NHTM Việt Nam ở giai đoạn nghiên cứu gần mức trung bình so với khu vực và có mối tương quan nghịch giữa tập trung và cạnh tranh Nghiên cứu của Phan Thị Thơm và Thân Thị Thu Thủy (2015) dùng cả phương pháp tiếp cận truyền thống và tiếp cận mới cho thấy cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng Việt Nam diễn ra gay gắt hơn sau khủng hoảng kinh tế năm 2008 so với trước đó.
Trong chương 2, tác giả tổng hợp các cơ sở lý luận về cạnh tranh và tập trung thị trường của các ngân hàng thương mại, bao gồm các khái niệm cơ bản về cạnh tranh ngân hàng, các chỉ số đo lường mức độ tập trung như chỉ số HHI và CR4, cũng như sự liên hệ giữa tập trung thị trường với hiệu quả hoạt động của ngân hàng Chương này phân tích các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh như quy mô, thị phần, hệ thống chi nhánh, chất lượng dịch vụ và mức độ rào cản gia nhập, đồng thời xem xét tác động của sự tập trung đến chi phí vốn, rủi ro và tính ổn định của hệ thống ngân hàng Các nội dung này cung cấp cơ sở lý thuyết và gợi ý chính sách nhằm cân bằng giữa cạnh tranh lành mạnh và an toàn, ổn định cho thị trường ngân hàng.
NTHM và hoạt động, chức năng của NHTM
Khái niệm và tính đặc thù trong cạnh tranh của NTHM
Thị trường và phân loại thì trường cạnh tranh trong ngành ngân hàng