1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo Quốc gia MDG 2010 VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG HOÀN THÀNH CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ

138 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo Quốc gia MDG 2010 Việt Nam Trên Đường Hoàn Thành Các Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Phát triển bền vững, các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN 1 TỔNG QUAN 10 NĂM THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ CỦA VIỆT NAM 1 Báo cáo Quốc gia MDG 2010 VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG HOÀN THÀNH CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ M.

Trang 1

Báo cáo Quốc gia MDG 2010

VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG HOÀN THÀNH CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 07/06/2010

DỰ THẢO

Trang 2

Mục lục

GIỚI THIỆU 6

PHẦN 1: TOÀN CẢNH 10 NĂM VIỆT NAM THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ CỦA VIỆT NAM 10

Bối cảnh Việt Nam thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 10

Cam kết và ưu tiên chính sách của Việt Nam thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 11

Kết quả Việt Nam thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 13

Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói 13

Phổ cập giáo dục tiểu học 14

Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ 14

Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em 15

Tăng cường sức khỏe bà mẹ 15

Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác 16

Đảm bảo bền vững về môi trường 16

Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì sự phát triển 16

Thực hiện các Mục tiêu VDG hỗ trợ cho thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 17

PHẦN 2: VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG HOÀN THÀNH CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ 18

Mục tiêu 1: Xoá bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói 18

Những kết quả đạt được 18

Những tồn tại và thách thức 23

Mục tiêu 2: Phổ cập Giáo dục tiểu học 27

Những kết quả đạt được 27

Những tồn tại và thách thức 32

Mục tiêu 3: Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ 34

Những kết quả đạt được 34

Những tồn tại và thách thức 39

Mục tiêu 4: Giảm tử vong trẻ em 42

Giảm tỷ suất tử vong ở trẻ em 42

Dinh dưỡng trẻ em 46

Tiêm chủng mở rộng 49

Mục tiêu 5: Tăng cường sức khỏe bà mẹ 52

Những kết quả đạt được 52

Những tồn tại và thách thức 55

Mục tiêu 6: Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét, và các bệnh dịch nguy hiểm khác 57 Phòng chống HIV/AIDS 57

Sốt rét, Lao và các bệnh dịch khác 63

Mục tiêu 7: Đảm bảo Bền vững về Môi trường 67

Những kết quả đạt được 67

Những tồn tại và thách thức 74

Trang 3

Mục tiêu 8: Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì sự phát triển 79

Những kết quả đạt được 80

Những tồn tại và thách thức 87

Thực hiện các Mục tiêu VDG hỗ trợ và nâng cao chất lượng thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 91

Cung cấp dịch vụ cơ sở hạ tầng thiết yếu cho người nghèo, cộng đồng nghèo và xã nghèo 92

Phát triển văn hóa thông tin, cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân 94

Nâng cao mức sống, bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc ít người ở Việt Nam 96

Tăng cường cải cách hành chính và cung cấp kiến thức pháp lý cho người nghèo 98

PHẦN 3: NHỮNG BÀI HỌC THÀNH CÔNG CỦA VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG HOÀN THÀNH CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ NĂM 2010 101

Gắn kết và lồng ghép các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ vào chiến lược, kế hoạch, và chương trình phát triển kinh tế - xã hội 101

Ưu tiên các nguồn lực cho việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ bằng các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình can thiệp trọng điểm 103

Đảm bảo sự tham gia của người dân trong thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 106

Thực hiện “Xã hội hóa” để huy động mọi nguồn lực cho thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 108

Huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự trong thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 110

PHẦN 4: NHỮNG THÁCH THỨC VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG HOÀN THÀNH CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ NĂM 2015 112

Thách thức 1: Đảm bảo các Mục tiêu MDG có thể đạt được cho tất cả các đối tượng 113

Thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn-thành thị, khoảng cách giữa các vùng trong thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 113

Thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ cho đồng bào dân tộc thiểu số 115

Thúc đẩy thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ cho các nhóm đối tượng đặc thù khác 118

Thách thức 2: Tác động của khủng hoảng tài chính, biến động giá lương thực và năng lượng đến viễn cảnh thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 119

Các kênh tác động của khủng hoảng 121

Khả năng ứng phó của nền kinh tế Việt Nam trước khủng hoảng 123

Ảnh hươƤng cuƤa khuƤng hoaƤng tơƧi khả năng hoàn thành các Mục tiêu Phát triể n Thiên niên kỷ 125

Thách thức 3: Tác động của biến đổi khí hậu và khả năng Việt Nam thực hiện bền vững các Mục tiêu Phát triển Thiên niên Kỷ 127

Thời tiết bất thường và biến đổi khí hậu ở Việt Nam 128

Tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam 129

Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu 133

Trở ngại do biến đổi Khí hậu gây ra đối với khả năng hoàn thành các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 135

Trang 4

Danh mục các bảng, hình vẽ

Bảng 1.1 Tỷ lệ nghèo thời kỳ 1993-2008 19

Hình 1.1 Tỷ lệ nghèo lương thực thực phẩm 20

Bảng 1.2 Chỉ số khoảng cách nghèo thời kỳ 1993-2008 20

Bảng 1.3 Tài sản của hộ gia đình 21

Bảng 1.4 Số lao động từ 15 tuổi trở lên và tỷ lệ số người lao động trên tổng số người từ 15 tuổi trở lên 22

Hình 1.2 Cơ cấu việc làm ở thành thị và nông thôn 22

Hình 1.3 Tỷ lệ hộ vay tín dụng trong năm 2008 23

Bảng 1.5 Tỷ lệ nghèo ở các nhóm dân tộc thiểu số 24

Bảng 1.6 Thay đổi tình trạng nghèo đói 24

Bảng 1.7 Hệ số Gini thời kỳ 1993-2008 25

Hình 1.4 Tỷ lệ chi tiêu của nhóm 10% giàu nhất và 10% nghèo nhất 25

Bảng 2.1 Tỷ lệ biết chữ của dân số từ 10 tuổi trở lên 28

Bảng 2.2 Tỷ lệ đi học trong độ tuổi học tiểu học (7-10 tuổi) 29

Bảng 2.3 Tỷ lệ đi học trong độ tuổi học trung học cơ sở (11-14 tuổi) 29

Bảng 2.4 Tỷ lệ đi học trong độ tuổi học trung học phổ thông (15-17 tuổi) 29

Bảng 2.4 Số trường học ở các cấp 30

Bảng 2.5 Các chỉ số cơ bản của giáo dục tiểu học 31

Hình 2.1 Tổng chi phí của hộ gia đình cho việc đi học 31

Bảng 2.6 Tỷ lệ nhập học đúng tuổi ở tiểu học 32

Bảng 2.7 Tỷ lệ hoàn thành bậc tiểu học 32

Bảng 3.1 Tỷ lệ học sinh nữ ở các cấp học qua các năm học 35

Hình 3.1 Tỷ lệ trẻ em đi học ở độ tuổi 7-14 36

Hình 3.2 Tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số đi học ở độ tuổi 7-14 36

Bảng 3.2 Việc làm và tiền lương của những người trong độ tuổi lao động 37

Bảng 3.3 Cơ cấu ngành nghề phân theo việc làm chính 37

Hình 3.3 Tỷ lệ nữ trong đại biểu HĐND các cấp 38

Hình 3.4 Tỷ lệ đại biểu Quốc hội nữ 39

Hình 4.1 Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi 43

Hình 4.2 Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi 43

Bảng 4.1 Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi theo vùng 44

Hình 4.3 Sự khác biệt về tỷ suất tử vong trẻ em giữa các nhóm thu nhập 45

Hình 4.4 Tỷ suất tử vong trẻ em ở thành thị và nông thôn Việt Nam, 2006 45

Hình 4.5 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi 46

Bảng 4.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi 48

Hình 4.6 Tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi theo nhóm chi tiêu 48

Bảng 4.3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao/tuổi) 49

Bảng 4.4 Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng 50

Hình 5.1 Tỷ suất tử vong mẹ 53

Bảng 5.1 Tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám thai từ ba lần trở lên 53

Bảng 5.2 Tỷ lệ các ca sinh đẻ có sự trợ giúp của cán bộ được đào tạo 54

Bảng 5.3 Tỷ lệ phụ nữ đẻ được tiêm phòng uốn ván đủ hai mũi 54

Bảng 5.4 Tỷ lệ phần trăm mới thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại 55

Hình 5.2 Khác biệt tỷ lệ tử vong mẹ giữa thành thị và nông thôn 56

Bảng 6.1 Tỷ suất hiện nhiễm trên 100.000 dân các địa phương trên cả nước 58

Hình 6.1 Số mẫu xét nghiệm, số trường hợp HIV được phát hiện 59

Hình 6.2 Số trường hợp HIV, bệnh nhân AIDS và tử vong do AIDS 60

Bảng 6.2 Xu hướng về tỷ lệ nhiễm HIV trong các nhóm có nguy cơ 60

Hình 6.3 Số lượng người lớn và trẻ em điều trị ARV 61

Hình 6.4 Tình hình mắc và tử vong do sốt rét 63

Bảng 6.3 Tỷ lệ phát hiện và điều trị khỏi bệnh nhân AFB (+) mới 65

Hình 7.1 Tỷ lệ che phủ rừng 69

Hình 7.2 Tỷ lệ dân cư nông thôn có nước sạch và hố xí hợp vệ sinh 71

Hình 7.3 Cơ cấu loại nhà ở 72

Hình 7.4 Số lượng khí CFC nhập khẩu 74

Trang 5

Bảng 7.1 Số loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng 76

Bảng 8.1 Xuất nhập khẩu Việt Nam 82

Bảng 8.2 Tình hình cam kết ODA 83

Hình 8.1 Cơ cấu sử dụng vốn ODA theo lĩnh vực, 1993 – 2007 83

Bảng 8.3 Các chỉ số về vay nợ của Việt Nam 84

Hình 8.2 Cơ cấu vay nợ của Việt Nam theo điều khoản tín dụng 85

Hình 8.3 Số lượng lao động được gửi đi nước ngoài theo tổng số và giới tình 86

Bảng 9.1 Cơ sở hạ tầng của xã nghèo 93

Bảng 9.2 Một số chỉ tiêu về văn hóa, thông tin 96

Hình 9.1 Tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia vào chính quyền 97

Hình 10.1 Hệ thống các chiến lược, Kế hoạch và Mục tiêu MDG 102

Hình 11.1 Chênh lệch thành thị-nông thôn trong thưc hiện các MDG 114

Hình 11.2 Chênh lệch trong thưc hiện các MDG giữa các vùng 115

Hình 11.3 Tình trạng nghèo của các nhóm dân tộc thiểu số 116

Hình 11.4 Chênh lệch giữa đa số-thiểu số trong thực hiện MDG 117

Hình 11.5 Chỉ số giá lương thực, thịt, giá ngũ cốc thế giới 2005-2010 120

Hình 11.6 Giá trung bình dầu thô trên thế giới 2005-2010 121

Bảng 11.1 Chỉ số năng lực ứng phó và chỉ số dễ tổn thương của một số nước trong khu vực 124

Bảng 11.2 Tốc độ tăng trưởng các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Việt Nam và ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu 125

Hình 11.7 Tần suất bão nhiệt đới trong khu vực lãnh thổ Việt Nam 129

Bảng 11.3 Các đối tượng dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và nước biển dâng 132

Bảng 11.4 Tỷ trọng thu nhập phụ thuộc vào thiên nhiên của nhóm hộ nghèo 135

Bảng 11.5 Tỷ trọng của thu nhập phụ thuộc vào thiên nhiên của nhóm hộ có thu nhập tính từ 25% trên đường nghèo trở xuống 136

Trang 6

GIỚI THIỆU

Với những thành tích ấn tượng trong tăng trưởng kinh tế và xóa đói, giảm nghèo trong hơn hai thập kỷ thực hiện công cuộc Đổi mới, Việt Nam được cộng đồng quốc tế công nhận rộng rãi là một bài học thành công tiêu biểu và là một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất trên thế giới Trong 10 năm trở lại đây, kinh tế Việt Nam tăng trưởng khá nhanh và tương đối ổn định Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân hàng năm trong thời kỳ 2000 - 2010 đạt 7,2% Trong giai đoạn từ năm 2008 tới năm 2010, chịu ảnh hưởng của biến động giá lương thực và khủng hoảng tài chính thế giới, tốc độ tăng GDP của Việt Nam giảm đi, tuy vậy vẫn còn ở mức gần 6,0% Năm 2010 GDP đạt khoảng 106 tỷ USD, gấp 3,4 lần so với năm 2000 GDP bình quân đầu người năm 2010 khoảng 1.200 USD, gấp 3 lần so với năm 2000 Với mức này, Việt Nam đã chuyển vị trí từ nhóm nước nghèo nhất sang nhóm nước có mức thu nhập trung bình thấp

Song song với phát triển kinh tế, Việt Nam đặc biệt quan tâm và ưu tiên nguồn lực cho giảm nghèo và phát triển xã hội Tám Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ được lồng ghép vào trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và ở các địa phương Việt Nam đã bổ sung thêm vào hệ thống các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ một số mục tiêu phát triển mang tính đặc thù của đất nước (VDG) Các chỉ tiêu phản ánh MDG và VDG được đưa vào hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và được định kỳ giám sát Các chính sách và cơ chế được đổi mới nhằm tăng khả năng huy động các nguồn lực cho phát triển xã hội Các vùng kém phát triển, các nhóm dân cư nghèo, dễ bị tổn thương được ưu tiên hỗ trợ về sinh kế, khả năng tiếp cận các dịch vụ công, an sinh xã hội và đảm bảo các kết cấu hạ tầng thiết yếu đối với đời sống Vì vậy, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, phấn đấu thực hiện MDG và VDG cũng chính là nỗ lực thực hiện mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo, và phát triển xã hội

Nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, quyết tâm và ưu tiên chính sách của Việt Nam trong giảm nghèo và phát triển xã hội đã mang lại những kết quả tốt đẹp Tỷ lệ nghèo đã giảm mạnh từ 28,9% năm 2002 xuống còn 14,5% năm 2008 Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng từ 71 tuổi năm 2002 lên 72,8 tuổi năm 2009 Đặc biệt, chỉ số phát triển con người của Việt Nam tăng rõ rệt, từ 0,690 năm 2000 lên 0,733 năm 2008 (xếp thứ 105/177 nước và vùng lãnh thổ) Đời sống vật chất

và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt mặc dù cũng gặp không ít khó khăn do những tác động nghiêm trọng xảy ra hàng năm của thiên tai (bão, lũ lụt, hạn hán), dịch bệnh của người và gia súc và ảnh hưởng xấu của khủng hoảng kinh

tế thế giới Thu nhập sau khi đã điều chỉnh trượt giá của người dân sau 10 năm tăng gấp 3,5 lần Hệ thống an sinh xã hội từng bước được mở rộng Tỷ trọng chi

Trang 7

ngân sách nhà nước trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, lương hưu, đảm bảo xã hội tăng từ 24,6% năm 2000 lên 26,7% năm 2007

Với các kết quả như trên, Việt Nam đã hoặc sẽ có thể hoàn thành phần lớn mục tiêu Thiên niên kỷ cam kết trước cộng đồng quốc tế Nhiều mục tiêu đặt ra cho năm 2015 đã đạt và vượt vào năm 2010 như xoá bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói; phổ cập giáo dục tiểu học; tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ, đẩy lùi sốt rét và các bệnh dịch khác Một số mục tiêu Việt Nam có thể đạt được trong thời gian từ nay đến năm 2015 gồm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ

em Bên cạnh đó, có những mục tiêu mà Việt Nam phải nỗ lực và cố gắng rất lớn

để có thể đạt được vào năm 2015 là đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS, giảm tỷ suất tử vong mẹ và đảm bảo bền vững về môi trường

Cùng với kết quả thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu hỗ trợ nhằm thúc đẩy và nâng cao chất lượng thực hiện các MDG Trong giai đoạn 2000-

2010, cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã đặc biệt khó khăn đã được cải thiện đáng

kể Đời sống của đồng bao dân tộc thiểu số được cải thiện đáng kể (dù chậm hơn

so với tốc độ cải thiện đời sống trung bình toàn quốc) Quy chế dân chủ cấp cơ sở

đã triển khai thực hiện đến tận xã, phường và các cộng đồng dân cư, góp phần quan trọng trong thúc đẩy sự đóng góp và tham gia của người dân vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển

Những thành tựu nổi bật nói trên là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố trong đó quan trọng là cam kết mạnh mẽ và quyết tâm của Việt Nam thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Cam kết và quyết tâm của Việt Nam được cụ thể hóa bằng việc lồng ghép các MDG vào các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Quá trình thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ còn được hỗ trợ bởi việc đưa ra các mục tiêu VDG thúc đẩy và nâng cao chất lượng thực hiện MDG; đổi mới cơ chế chính sách, phương thức huy động nguồn lực phát triển, và lựa chọn ưu tiên cao hơn cho các vùng chậm phát triển, các nhóm dân cư nghèo, dễ bị tổn thương Vì vậy, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng chính là thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Quá trình đó đã được thực hiện trên cơ sở huy động tối đa các nguồn lực trong nước, khơi dậy sự tham gia và đóng góp tích cực của mọi tầng lớp nhân dân, huy động và sử dụng hiệu quả hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế, và các

tổ chức phi chính phủ

Việt Nam đã và sẽ đạt được các mục tiêu MDG trên phạm vi quốc gia Tuy nhiên, thách thức đặt ra đối với Việt Nam trong thời gian tới là đảm bảo các MDG có thể đạt được đồng đều giữa các cùng, và cho tất cả các đối tượng, đặc biệt là với những nhóm yếu thế như dân tộc thiểu số, người nghèo thông thôn và người nghèo thành thị Bên cạnh những kết quả đã đạt được trên phạm vi quốc gia, vẫn

Trang 8

còn có chênh lệch đáng kể giữa các vùng, khu vực trong thực hiện các MDG, với bất lợi thuộc về nông thôn, vùng sâu, vùng xa, và các địa bàn có điều kiện kinh tế

xã hội đặc biệt khó khăn Dù tăng trưởng kinh tế mang lại lợi ích cho tất cả mọi người nhưng một số đối tượng như các nhóm dân tộc thiểu số, nhóm dân di cư từ nông thôn đến thành thị có xu hướng được hưởng lợi ít hơn mức trung bình toàn quốc; dẫn đến sự chênh lệch đáng kể, và trong một số trường hợp là đáng lo ngại, trong việc thực hiện các MDG và VDG với những đối tượng yếu thế này

Bên cạnh đó, những biến động không thuận lợi của tình hình kinh tế toàn cầu cũng đang là một thách thức đáng kể với Việt Nam trong việc duy trì bền vững các kết quả giảm nghèo Dù có cơ sở vững chắc để khẳng định sự phục hồi bền vững của kinh tế Việt Nam, những tác động của khủng hoảng tới nền kinh tế và các khía cạnh khác của đời sống xã hội chưa thể nhanh chóng khắc phục được Biến đối khí hậu đang có xu hướng ngày càng trở nên rõ ràng hơn và có tác động sâu rộng đến hoạt động kinh tế và đời sống nhân dân Đáng lưu ý là phần lớn dân số nghèo, các nhóm yếu thế ở Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, khai thác các nguồn lực tư nhiên để đảm bảo sinh kế Là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất của biến đối khí hậu, có nhiều lý do để lo ngại rằng biến đổi khí hậu

sẽ tăng tính dễ bị tổn thương của một bộ phận dân số Việt Nam, và là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tái nghèo Vì vậy, đảm bảo thành quả bền vững trong thực hiện các mục tiêu MDG trong điều kiện đối mặt với các thách thức mới gồm thách thức ngắn hạn (như tác động của khủng hoảng tài chính, biến động giá lương thực, năng lượng) và dài hạn (như biến đổi khí hậu) là một thách thức lớn với Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2015 – thời hạn hoàn thành quá trình thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

Cho đến nay, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng hai Báo cáo về quá trình thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) Báo cáo năm 2005: “Việt Nam thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ”, điểm lại tình hình thực hiện các Mục tiêu MDG đến năm 2004 của Việt Nam Báo cáo năm 2008: “Việt Nam tiếp tục thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ”, tiếp tục cập nhật thêm các tiến bộ và thách thức đối với Việt Nam trong thực hiện các MDG trong giai đoạn 2005-2007 Báo cáo năm 2010 được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam đã đi qua 2/3 chặng đường thực hiện các MDG, gắn với quá trình thực hiện thành công Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2000-2010 và các Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội

5 năm 2001-2005, 2006-2010 Tiếp tục bổ sung cho các báo cáo trước đây, Báo cáo MDG 2010 sẽ cập nhật tình hình thực hiện các Mục tiêu MDG từ thời điểm báo cáo lần thứ hai; đánh giá tổng hợp chặng đường 10 năm thực hiện các Mục tiêu MDG của Việt Nam; và xác định các thách thức mà Việt nam phải đối mặt để hoàn thành các MDG vào 2015

Trang 9

Báo cáo này sẽ tập trung phân tích các thành tựu của Việt Nam trong thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và các mục tiêu hỗ trợ thực hiện MDG của Việt Nam Đối với mỗi mục tiêu MDG, Báo cáo sẽ tập trung phân tích xu hướng về tiến độ thực hiện mục tiêu Trên cơ sở số liệu sẵn có cho phép, nhấn mạnh vào tình hình thực hiện các Mục tiêu MDG theo: các nhóm dân cư, vùng địa lý, nông thôn/thành thị, giới tính, nhóm dân tộc, và trong một số trường hợp sẽ phân tích đến cấp tỉnh/thành phố Trên cơ sở đó, Báo cáo sẽ tổng kết các bài học và những kinh nghiệm của Việt Nam trong việc thực hiện các Mục tiêu MDG Báo cáo cũng tập trung vào đánh giá những thách thức đối với việc đạt được thành công các Mục tiêu MDG vào năm 2015, với trọng tâm là tổng quan về tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động của biến đổi khí hậu đối với việc thực hiện các MDG

và khả năng duy trì bền vững các thành tựu đã đạt về các mục tiêu này Phần cuối của Báo cáo đưa ra một số định hướng và giải pháp đảm bảo vượt qua thách thức, đảm bảo thực hiện thành công các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ trong thời gian 1/3 chặng đường còn lại

Những số liệu được tập hợp và phân tích trong báo cáo này là số liệu thống kê từ các Bộ, các ngành, các địa phương đưa ra trong các báo cáo thường niên của họ

và được hệ thống hoá bởi Tổng cục Thống kê Việt Nam Góp phần vào bản báo cáo, có sự tham gia của các Bộ ngành, các địa phương như Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài chính; Bộ Ngoại giao; Bộ giáo dục và Đào tạo; Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ văn hoá, Thể thao và Du lịch; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Y tế; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Uỷ ban Dân tộc Đặc biệt, Báo cáo lần này là kết quả của một quá trình tham vấn thường xuyên và hiệu quả giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư với các Bộ/Ngành liên quan, các của các tổ chức của LHQ, cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế, và các tổ chức phi chính phủ Thông qua Báo cáo này, Việt Nam muốn chia sẻ với cộng đồng quốc tế những kinh nghiệm của mình trong thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ; đồng thời mong muốn có sự hợp tác và tiếp tục hỗ trợ của cộng đồng quốc tế

để đạt được và tiếp tục nâng cao chất lượng thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ hướng vào năm 2015

Trang 10

PHẦN 1: TOÀN CẢNH 10 NĂM VIỆT NAM THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ CỦA VIỆT NAM

Bối cảnh Việt Nam thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

Việt Nam là một trường hợp thành công trong số các nước đang phát triển đã đạt được những thành tựu nổi bật trong cải cách kinh tế hướng tới tăng trưởng và giảm nghèo Trong mười năm gần đây, kinh tế Việt Nam tăng trưởng khá nhanh và tương đối ổn định Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân hàng năm trong thời kỳ 2000 - 2010 đạt 7,2% GDP bình quân đầu người năm 2010 khoảng 1200 USD, gấp 3 lần so với năm 2000 Với mức này, Việt Nam đã chuyển

vị trí từ nhóm nước nghèo nhất sang nhóm nước có mức thu nhập trung bình thấp Cùng với với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, đã có sự chuyển biến đáng kể trong cơ cấu kinh tế đưa Việt Nam từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thực hiện quá trình công nghiệp hóa, thúc đẩy xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài Tỷ trọng GDP của khu vực nông, lâm, ngư nghiệp, khai thác mỏ giảm từ 24,5% vào năm 2000 xuống còn 21,2% vào năm 2010, trong khi tỷ trọng của khu vực công nghiệp chế biến và xây dựng tăng từ 36,7% vào năm 2000 lên 39,9% vào năm 2010 Trong cùng thời gian, tỷ trọng GDP của khu vực dịch vụ duy trì ở mức gần 38% Thay đổi cơ cấu kinh tế mang lại thay đổi quan trọng trong cơ cấu lao động Trong giai đoạn này, tỷ trọng lao động trong các ngành lâm, ngư nghiệp, khai thác mỏ giảm từ 65% xuống còn khoảng 50%, trong khi lao động trong công nghiệp chế biến tăng từ 13% đến gần 23%; và lao động trong khu vực dịch vụ tăng từ 15% lên khoảng 27%

Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là kết quả một hệ thống các chính sách cải cách sâu rộng nhằm xây dựng và phát triển các thể chế thị trường Đến thời điểm hiện nay, các loại thị trường đã cơ bản hình thành và từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, có sự gắn kết với thị trường thế giới Giá cả của hầu hết các hàng hóa và dịch vụ do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định Môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư được cải thiện đáng kể, hướng đến đảm bảo một „sân chơi bình đẳng‟ cho các thành phần kinh tế Số lượng doanh nghiệp nhà nước đã giảm từ khoảng 12000 doanh nghiệp đầu thập kỷ 1990 xuống còn gần 2000 doanh nghiệp vào năm 2010 Những cải thiện trong môi trường đầu

tư thu hút vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp ngày càng tăng Khu vực tư nhân trong nước đã có những bước phát triển quan trọng, đặc biệt là sau khi Luật Doanh

Trang 11

nghiệp được ban hành (và sửa đổi) đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp và của người dân Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới, từ một nền kinh tế phụ thuộc chính vào khu vực doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã, khu vực kinh

tế tư nhân hiện đóng góp hơn 60% GDP, tạo việc làm cho 90% lực lượng lao động, và đóng góp hơn 70% tổng giá trị xuất khẩu

Trong quá trình cải cách thị trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, khai thác các cơ hội thị trường quốc tế để thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu Từ tình trạng phụ thuộc vào thị trường các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô (cũ), sau hơn 20 năm Đổi mới, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 170 quốc gia, vùng và lãnh thổ, đã ký hơn 60 hiệp định kinh tế về thương mại song phương và đã thiết lập quan hệ đầu tư với khoảng trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ Gia nhập ASEAN năm 1995, Việt Nam đã hoàn thành việc thực hiện các cam kết tự do hóa thương mại trong khuôn khổ Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA); trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); tham gia tích cực vào Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) Tự do hóa thương mại và đầu tư đã đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế mở với tổng giá trị xuất nhập khẩu chiếm đến hơn 150% GDP; đầu tư nước ngoài trong những năm gần đây có giá trị trong khoảng hơn 60% tổng sản phẩm trong nước

Sau hơn 20 thực hiện Đổi mới, Việt Nam đã đi được một chặng đường dài với nhiều thành công, tạo ra nguồn lực và cơ hội mới nhằm thúc đẩy tăng trưởng và giảm nghèo Tuy nhiên, bối cảnh mới cũng đặt ra nhiều thách thức trong thời gian tới Vượt qua các tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính, giữ vững đà phục hồi bền vững; đảm bảo hỗ trợ hợp lý cho các đối tượng chịu ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng tài chính và biến động giá lương thực, giá năng lượng thế giới là các thách thức trong thời gian trước mắt Về lâu dài, biến đổi khí hậu đang tạo ra thách thức lớn đối với tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo, và theo đuổi các mục tiêu phát triển xã hội khác

Cam kết và ưu tiên chính sách của Việt Nam thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

Trong quá trình thực hiện Đối mới, Việt Nam đặc biệt quan tâm và ưu tiên nguồn lực cho thực hiện các cam kết với cộng đồng quốc tế trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Các Mục tiêu Thiên niên kỷ được lồng ghép vào trong những văn kiện chiến lược, phát triển kinh tế - xã hội quan trọng nhất của Việt Nam Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội Việt Nam giai đoạn 2001-2010 đưa ra quan điểm “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội 5 năm 2001-2005, và Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội 5 năm

Trang 12

2006-2010 thể hiện cụ thể quan điểm phát triển này; đồng thời cụ thể hóa các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong các kế hoạch 5 năm

Các văn kiện chiến lược này được thông qua tại các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và thứ X, và là nền tảng cho quá trình xây dựng một hệ thống các chiến lược, kế hoạch phát triển khác Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xóa đói Giảm nghèo (CPRGS) của Việt Nam được ban hành năm 2002 gắn trực tiếp mục tiêu tăng trưởng kinh tế với xóa nghèo, đảm bảo công bằng xã hội, và phát triển bền vững CPRGS tiếp tục nhấn mạnh “Giảm đói nghèo không chỉ là một trong những chính sách xã hội cơ bản, được Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm, mà còn là một bộ phận quan trọng của mục tiêu phát triển” CPRGS cũng nhấn mạnh mục tiêu “thực hiện đổi mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôi với tiến hành công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội đã hạn chế sự phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng” Đặc biệt, Chiến lược này đưa ra những mục tiêu phát triển mang tính đặc thù của đất nước (thường gọi là các Mục tiêu Phát triển Việt Nam - VDG) Đây là hệ thống các chỉ tiêu hỗ trợ cho thúc đẩy và nâng cao chất lượng thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

Thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và Mục tiêu Phát triển Việt Nam được lồng ghép trong các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước, Việt Nam đã huy động được nhiều nguồn lực trong nước và từ cộng đồng tài trợ quốc tế Nhiều chương trình mục tiêu quốc gia đã được thực hiện, nhằm ưu tiên phân bổ nguồn lực và tập trung sự tham gia của xã hội vào việc đạt những mục tiêu như giảm nghèo, tạo việc làm, phổ cập giáo dục, tiêm chủng và chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, phòng chống một số bệnh nguy hiểm và HIV/AIDS, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường và cung cấp nước sạch sinh hoạt, phát triển văn hóa và mở rộng mạng lưới cung cấp thông tin cho người dân Trong thời gian 2001-2005 có 6 chương trình mục tiêu quốc gia; trong giai đoạn 2006-2011, có 11 chương trình mục tiêu quốc gia được thực hiện nhằm phân bổ các nguồn lực cho thực hiện các mục tiêu Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

Bên cạnh những chương trình, chính sách thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, Việt Nam đã có những nỗ lực quan trọng nhằm đảm bảo thực hiện các Mục tiêu này với một số nhóm xã hội đặc biệt như đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo ở các vùng có điều kiện khó khăn Chương trình phát triển kinh tế -

xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi (Chương trình 135), Chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (Chương trình 134), Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo (Chương trình

Trang 13

30a) là ba trong số rất nhiều chương trình và chính sách hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo ở những địa bàn đặc biệt khó khăn

Kết quả Việt Nam thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

Với những nỗ lực đó, Việt Nam đạt được những thành quả quan trọng đối với mục tiêu xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đặc biệt là trẻ em và phụ nữ; tiếp tục đạt được những tiến bộ vượt trội về bình đẳng giới Tỷ lệ nghèo đã giảm mạnh từ 58,1% năm 1993 xuống 14,5% năm

2008 Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng từ 71 tuổi năm 2002 lên 74,3 tuổi năm 2007 Thu nhập thực tế của mỗi người dân sau 10 năm tăng gấp 3,5 lần1

hệ thống an sinh xã hội được chú trọng và từng bước mở rộng Tỷ trọng chi ngân sách nhà nước để thực hiện phúc lợi xã hội trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, lương hưu, đảm bảo xã hội tăng từ 24,6% năm 2000 lên 26,7% năm 2007 Chỉ số thước

đo nâng cao vị thế về giới của Việt Nam xếp thứ 52 trên tổng số 93 nước được xếp hạng Các khía cạnh của đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân

đã có những cải thiện rõ rệt

Với các kết quả như trên, Việt Nam đã hoặc sẽ có thể hoàn thành phần lớn mục tiêu Thiên niên kỷ cam kết trước cộng đồng quốc tế Nhiều mục tiêu đặt ra cho năm 2015 đã đạt và vượt vào năm 2010 Tuy nhiên, Việt Nam còn tiếp tục phải có những nỗ lực mạnh mẽ để phấn đấu hoàn thành một số mục tiêu như đẩy lùi HIV/AIDS, giảm tỷ suất tử vọng mẹ, và đảm bảo bền vững về môi trường Cụ thể:

Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói

Việt Nam được xem là một ví dụ điển hình về sự thành công trong việc xóa đói và giảm nghèo Tính đến cuối năm 2002, Việt Nam đã đạt Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ ”giảm ½ tỷ lệ nghèo”, tức là từ 58,1% năm 1993 xuống còn 28,9% năm

2002 Tỷ lệ nghèo tiếp tục giảm xuống còn 14,5% vào năm 2008 Tỷ lệ người thiếu đói, theo chuẩn nghèo lương thực thực phẩm, giảm từ 24,9% năm 1993 xuống còn 10,9% năm 2002 và 6,9 năm 2008 Giảm nghèo diễn ra ở tất cả các nhóm dân cư, thành thị, nông thôn, dân tộc Kinh, các dân tộc thiểu số, và ở các vùng địa lý Tuy nhiên, tỷ lệ nghèo còn khá cao ở một số địa bàn, đặc biệt ở vùng Tây Bắc và nhóm dân tộc thiểu số Tính đến cuối năm 2008, hơn 50% người dân tộc vẫn là người nghèo, chiếm tới hơn một nửa tổng dân số nghèo Việt Nam Giảm nghèo trong nhóm người di cư từ nông thôn ra thành thị và người nghèo thành thị là một

1 Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê, thu nhập thực tế của người dân tăng từ 221 nghìn đồng/người/tháng năm 1999 lên 728,5 nghìn đồng/người/tháng vào năm 2008

Trang 14

thách thức lớn Người nghèo thường tập trung tại những địa bàn đặc thù, đối tượng đặc thù, do vậy nỗ lực tiếp tục giảm nghèo cho những đối tượng này sẽ trở nên khó khăn hơn, đòi hỏi cách tiếp cận sáng tạo hơn trong thời gian tới

Phổ cập giáo dục tiểu học

Đầu tư cho giáo dục và đào tạo được Nhà nước quan tâm đặc biệt, coi đó là đầu tư cho phát triển Ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo được tăng lên hàng năm, đạt 20% tổng chi ngân sách nhà nước vào năm 2009 Công tác xã hội hóa trong giáo dục đã thu hút được nhiều nguồn lực từ các tầng lớp nhân dân và cộng đồng tài trợ quốc tế Vì vậy, Việt Nam tiếp tục đạt được những thành thành tựu đáng kể

về giáo dục, đào tạo, xoá mù chữ Tính đến năm 2000, Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và đang từng bước nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học; tiếp tục đẩy mạnh phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong

độ tuổi; và đồng thời đặt ra mục tiêu cụ thể cho việc thực hiện mục tiêu phổ cập trung học phổ thông

Dù đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học, thúc đẩy phổ cập giáo dục trung học cơ sở nhưng nâng cao chất lượng giáo dục là thách thức lớn Tỷ lệ nhập học đúng tuổi ở bậc tiểu học vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra Cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ giáo viên của các trường còn nhiều khó khăn, đặc biệt là ở các vùng khó khăn, vùng tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số Vẫn còn có tình trạng chênh lệch trong tiếp cận giáo dục giữa các vùng miền, giữa nông thôn và thành thị, giữa các nhóm dân tộc thiểu số và đa số

Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ

Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ So với các quốc gia có cùng mức độ phát triển và thu nhập, Việt Nam có các chỉ số về bình đẳng giới khá cao: chỉ số Phát triển liên quan đến giới (GDI) của Việt Nam đứng thứ 92 trong số 177 quốc gia theo Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008 của Liên hiệp quốc Việt Nam đã xoá bỏ được những khác biệt về giới trong giáo dục ở tất cả các cấp học: Tỷ lệ học sinh nữ trong năm học 2008-09 đạt 47,9% ở cấp Tiểu học; 48,5% ở cấp Trung học Cơ sở; 52,6% ở cấp Trung học Phổ thông; và 48,5% ở cấp Đại học Bình đẳng về việc làm

và thu nhập là cũng đạt được những bước tiến quan trọng; trong số lao động mới tăng thêm hàng năm, nữ giới chiếm khoảng 49% Phụ nữ ngày càng bình đẳng hơn trong công tác quản lý lãnh đạo, trong các vị trí đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.lãnh đạo các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, tình trạng bất bình đẳng giới vẫn tồn tại, nhất là tại vùng nông thôn, miền núi Vẫn còn có chêch lệch về trình độ giáo dục giữa nam và nữ ở những người lớn tuổi Phụ nữ vẫn có xu hướng làm

Trang 15

nhiều công việc giản đơn hơn so với năm giới Những định kiến về giới, tư tưởng

“trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại, nam giới được coi trọng và ưu tiên hơn phụ

nữ trong công việc gia đình và xã hội Ở một số nơi, bạo hành gia đình vẫn là vấn

đề khá nghiêm trọng ở Việt Nam, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi

Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em

Sức khoẻ của trẻ em tiếp tục được quan tâm và cải thiện đáng kể Việt Nam đã tiến đến gần Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đối với chỉ tiêu tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi và tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi Dù tốc độ giảm các tỷ suất này có xu hướng chậm lại và không thay đổi trong vài năm gần đây nhưng Mục tiêu MDG4 có thể đạt được với những nỗ lực của Việt Nam đến năm 2015 Chương trình tiêm chủng mở rộng được tiếp tục thực hiện với quy mô rộng hơn và chất lượng hơn, mang lại hiệu quả cao Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm nhiều Trong thời gian tới, thách thức đối với Việt Nam tiếp tục thúc đẩy giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi và dưới 1 tuổi để đạt được Mục tiêu MDG4, trong điều kiện tốc

độ giảm tỷ suất tử vong trẻ em đã chậm lại trong thời gian gần đây Quan trọng hơn nữa là đảm bảo thu hẹp chênh lệch giữa các vùng; giữa thành thị và nông thôn; đặc biệt là đảm bảo việc đạt được các chỉ tiêu này đối với các khu vực khó khăn, các nhóm dân tộc thiểu số

Tăng cường sức khỏe bà mẹ

Tỷ suất tử vong mẹ giảm mạnh trong hai thập kỷ qua: từ 233/100.000 trẻ đẻ sống trong năm 1990 xuống còn 75/100.000 trẻ đẻ sống trong năm 2009 Tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám thai và tiêm phòng đã tăng lên rõ rệt trong thời gian qua Mạng lưới y tế cơ sở về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ được củng cố và nâng cấp Tỷ lệ phụ nữ sinh đẻ được sự trợ giúp của các cán bộ được đào tạo cũng tăng lên Tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49), có chồng và sử dụng biện pháp tránh thai, đặc biệt là các biện pháp hiện đại, tăng lên rõ rệt Sự đồng thuận của các cặp vợ chồng trong việc sử dụng các biện pháp tránh thai, đặc biệt là dùng bao cao su và thuốc uống, tăng lên đáng kể

Đạt được mục tiêu giảm tỷ suất tử vong mẹ từ 58,3/100.000 trẻ đẻ ra sống vào năm 2015 từ mức 75/100.000 trẻ đẻ ra sống năm 2009 là một thách thức đáng

kể Bên cạnh việc đảm bảo đạt được giảm tỷ suất tử vong mẹ trung bình, đảm bảo thu hẹp chênh lệch giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa các nhóm dân tộc là những vấn đề cần phải giải quyết thì mới có thể đạt được thành quả giảm tử vong bà mẹ một cách bền vững Bên cạnh đó, sự nổi lên của hiện trạng nạo phá thai của nhóm dân số vị thành niên đang báo động nguy cơ lớn đối với sức khoẻ

bà mẹ trong tương lai

Trang 16

Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác

Việc thực hiện mục tiêu Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS đã được triển khai dưới nhiều hình thức Đại dịch HIV/AIDS ở Việt Nam đã bước đầu được kiềm chế tốc độ gia tăng và có xu hướng giảm trong hai năm gần đây nhưng xu hướng giảm chưa bền vững, và có thể còn có sai sót nhất định về số liệu thống kê Bệnh sốt rét đang được khống chế và nhiều vùng đã được loại trừ Chương trình phòng chống lao đã thu được những kết quả tích cực, được thế giới đánh giá cao

Tuy nhiên, diễn biễn của HIV/AIDS vẫn còn phức tạp, nguy cơ lây nhiễm cao và phạm vi ngày càng rộng Sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV/AIDS còn cao, cản trở công tác điều trị và hòa nhập cộng đồng của người bệnh Việc tiếp cận được các dịch vụ dự phòng, chăm sóc và điều trị tại các trại giam, trại tạm giam, trung tâm giáo dục lao động xã hội vẫn còn hạn chế

Đảm bảo bền vững về môi trường

Việt Nam triển khai tích cực thực hiện Chương trình Nghị sự 21, thực hiện mục tiêu đảm bảo bền vững về môi trường, và đã đạt được một số kết quả trong lĩnh vực phát triển bền vững: nâng cao độ che phủ của rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái và xử

lý các sự cố môi trường; phục hồi và cải thiện môi trường sinh thái; đẩy lùi tình trạng suy giảm tài nguyên môi trường

Tuy nhiên, nhưng công tác bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế; tài nguyên thiên nhiên vẫn đang bị khai thác lãng phí và sử dụng kém hiệu quả, nhiều nguồn tài nguyên không được bảo vệ tốt, bị suy thoái và hủy hoại Phần lớn các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường đặt ra cho Kế hoạch 5 năm 2006-2010 không đạt được Việt Nam là một trong những nước chịu tác động tiêu cực mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng và thường xuyên bị thiên tai, làm cho việc đảm bảo môi trường bền vững đòi hỏi nỗ lực hơn nhiều trong thời gian tới Việc đảm bảo bền vững về môi trường là thách thức lớn đối với Việt Nam

Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì sự phát triển

Việt Nam đã đạt được những bước tiến lớn trong việc thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển; thực hiện hiệu quả vai trò ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (2008-2009) và vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2010; triển khai thực hiện các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), và nhiều các cam kết tự do hóa thương mại khác Nỗ lực thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu đã giúp Việt Nam huy động được các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), tận dụng các cơ hội của tự do hóa thương mại, thị trường quốc tế cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo

Trang 17

Sau gần 3 năm gia nhập WTO, năng lực cạnh tranh của quốc gia tuy đã được cải thiện song còn chậm, chưa có sự thay đổi đáng kể về cơ cấu xuất khẩu trong khi thâm hụt thương mại đang trở thành vấn đề đáng lo ngại Thách thức lâu dài đối với Việt Nam là xu thế chuyển dịch vốn ODA trong tương lai theo hướng giảm dần

tỷ lệ của viện trợ không hoàn lại và các khoản cho vay có tính ưu đãi cao, thời hạn dài và tăng tỷ lệ các khoản cho vay kém tính ưu đãi hơn Điều này đặt ra thách thức lớn trong việc tiếp tục tiếp tục thu hút, tránh lãng phí và tăng hiệu quả sử dụng vốn ODA Bên cạnh đó, việc đảm bảo giá thuốc ở mức phù hợp với khả năng chi trả của người dân cũng là một thách thức đối với Việt Nam ở phía trước

Thực hiện các Mục tiêu VDG hỗ trợ cho thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

Xây dựng và tổ chức thực hiện các Mục tiêu Phát triển Việt Nam (VDG) thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên

kỷ Xuất phát từ đặc thù của đất nước, một số mục tiêu bổ sung cho các Mục tiêu MDG được nhấn mạnh trong hệ thống các chỉ tiêu VDG như tăng cường cung cấp dịch vụ hạ tầng thiết yếu cho người nghèo; phát triển văn hóa thông tin, cải thiện đời sống tinh thần cho nhân dân; bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số; tăng cường cải cách hành chính và cung cấp trợ giúp pháp lý cho người nghèo Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong thực hiện các mục tiêu bổ sung này Với các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội cho các vùng đồng bào dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn, tiếp cận cơ sở hạ tầng thiết yếu cho người nghèo, xã nghèo đã được cải thiện đáng kể Điều kiện nhà ở cho đồng bào cũng được củng cố Chủ trương giao đất, giao rừng, xóa bỏ tập quán du canh du cư cũng đã mang lại những kết quả quan trọng Trên khía cạnh văn hóa tinh thần, Chương trình Mục tiêu quốc gia về văn hóa đã mang lại những kết quả quan trọng trong bảo tồn các loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể Tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số được chú ý bảo tồn thông qua mở rộng phạm vi dạy tiếng dân tộc, tăng cường nội dung và thời lượng phát sóng các chương trình phát thanh, truyền hình về dân tộc thiểu số Nhiều lễ hội văn hóa giân dan bản sắc của các dân tộc cũng đã được hỗ trợ phục dựng

Sự tham gia của người dân có ý nghĩa quan trọng đối với thành công của nỗ lực thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Triển khai quy chế dân chủ cấp cơ

sở là một bước đi chiến lược, hướng đến huy động sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định và quản lý của chính quyền các cấp Dân chủ cơ sở, cơ chế

“một cửa”, tương tác giữa chính quyền và người dân đòi hỏi hiểu biết về pháp luật của người dân Mục tiêu trợ giúp pháp lý, cung cấp kiến thức cho người nghèo đã được thực hiện tích cực giúp người dân hiểu rõ (hơn) về quyền lợi và trách nhiệm của mình

Trang 18

PHẦN 2: VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG HOÀN THÀNH

CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ

Mục tiêu 1: Xoá bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói

Giới thiệu về Mục tiêu

Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ:

 Giảm một nửa tỷ lệ người dân có mức thu nhập dưới 1 USD/ngày (PPP) trong giai

đoạn từ 1990 đến 2015;

 Tạo ra công ăn việc làm đầy đủ, tử tế, tạo thu nhập tốt cho tất cả mọi người, bao

gồm cả phụ nữ và thanh niên;

 Giảm một nửa tỷ lệ người thiếu đói trong giai đoạn từ 1990 đến 2015

Mục tiêu của Việt Nam trong kế hoạch 5 năm 2006-2010:

 Đến năm 2010 giảm ½ tỷ lệ nghèo theo chuẩn mới (của Việt Nam – nếu đúng

như vậy) so với năm 2005, có nghĩa là giảm từ 22% năm 2005 xuống còn

10-11% vào năm 2010;

 Giảm ¾ tỷ lệ nghèo về lương thực, thực phẩm so với năm 2000, có nghĩa là giảm

từ 12% năm 2000 xuống còn 2-3% vào năm 2010 (theo chuẩn của Việt Nam)

Tóm tắt kết quả thực hiện

Việt Nam thường được xem là một ví dụ điển hình về sự thành công trong việc xóa đói và

giảm nghèo Tính đến cuối năm 2002, Việt Nam đã đạt Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

”giảm ½ tỷ lệ nghèo”, tức là từ 58,1% năm 1993 xuống còn 28,9% năm 2002 Tỷ lệ

nghèo tiếp tục giảm xuống còn 14,5% vào năm 2008 Tỷ lệ người đói, đo lường bằng

chuẩn nghèo lương thực thực phẩm, giảm từ 24,9% năm 1993 xuống còn 10,9% năm

2002 và 6,9 năm 2008 Việc giảm nghèo diễn ra ở tất cả các nhóm dân cư, thành thị,

nông thôn, nhóm đa số và nhóm dân tộc thiểu số, và ở các vùng địa lý

Tuy nhiên, tỷ lệ nghèo còn khá cao ở một số địa bàn, đặc biệt ở vùng Tây Bắc và nhóm

dân tộc thiểu số Cho tới năm 2008, hơn 50% người dân tộc vẫn là người nghèo, chiếm

tới hơn một nửa tổng dân số nghèo Việt Nam Việc giảm nghèo trong nhóm người di cư

từ nông thôn ra thành thị và người nghèo thành thị là một thách thức lớn Sự tập trung

của người nghèo tại những địa bàn đặc thù, đối tượng đặc thù sẽ làm cho nỗ lực tiếp tục

giảm nghèo cho những đối tượng này khó khăn hơn, đòi hỏi cách tiếp cận sáng tạo hơn

trong thời gian tới

Những kết quả đạt được

Việt Nam thường được xem là một ví dụ điển hình về sự thành công trong việc xóa

đói và giảm nghèo Trong hai thập kỷ qua tỷ lệ nghèo của Việt Nam liên tục giảm

Tính đến cuối năm 2002, Việt Nam đã đạt Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ ”giảm

½ tỷ lệ nghèo”, tức là từ 58,1% năm 1993 xuống còn 28,9% năm 2002 Tỷ lệ

nghèo tiếp tục giảm xuống còn 16% năm 2006 và 14,5% vào năm 2008 Tỷ lệ

người đói, đo lường bằng chuẩn nghèo lương thực thực phẩm, giảm từ 24,9% năm

1993 xuống còn 10,9% năm 2002 và 6,9 năm 2008 Nếu dùng chuẩn US$1PPP,

Việt Nam đã vượt xa Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ “giảm 50% tỷ lệ người dân

Trang 19

có mức thu nhập dưới mức US$1PPP/ngày trong giai đoạn 1990 – 2015” Tỷ lệ này

đã giảm được trên 9 lần từ 39,9% năm 1993 xuống còn 4,1% năm 2008

Bảng 1.1 cho thấy việc giảm nghèo diễn ra ở tất cả các nhóm dân cư, thành thị, nông thôn, nhóm đa số, nhóm dân tộc thiểu số, và ở các vùng địa lý Tỷ lệ nghèo

ở khu vực thành thị giảm từ 25,1% xuống 3,3% trong thời kỳ 1993-2008, còn tỷ lệ nghèo ở khu vực nông thôn giảm từ 66,4% xuống còn 18,7% trong cùng kỳ.2

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo VHLSS 1993, 1998, 2002, 2004, 2006 và 2008)

Tỷ lệ nghèo lương thực thực phẩm cũng giảm đi theo thời gian cho cả khu vực thành thị và nông thôn, cũng như cho nhóm đa số và nhóm dân tộc thiểu số Nếu như năm 1993, có tới 29,1% người nông thôn và 7,9% người thành thị thuộc nhóm nghèo lương thực thì đến năm 2008 chỉ có 9,2% người nông thôn và 0,9% người dân thành thị thuộc nhóm nghèo này

2 Trong báo cáo này, tỷ lệ nghèo là tỷ lệ người (dân số) có mức chi tiêu binh quân dưới chuẩn nghèo

Tỷ lệ nghèo LTTP được tính theo chuẩn nghèo LTTP (do TCTK Việt Nam, Ngân hàng Thế giới và các nước sử dụng) tính theo chi tiêu cho giỏ lương thực đủ cung cấp năng lượng tối thiểu là 2100 Kcl/người/ngày Chuẩn nghèo về LTTP của các năm 1993, 1998, 2002, 2004, 2006, và 2008 tương ứng là 750, 1287, 1382, 1500, 1915 và 2607 nghìn đồng/người/năm Chuẩn nghèo chung là mức chi tiêu đủ cho mức lương thực 2100 Kcl/người/ngày cộng thêm một số chi tiêu phi lương thực cơ bản như nhà ở và quần áo Chuẩn nghèo chung cho các năm 1993, 1998, 2002, 2004, 2006, và 2008 tương ứng là 1160, 1790, 1917, 2077, 2560, 3358 nghìn đồng/người/năm

Trang 20

Hình 1.1 Tỷ lệ nghèo lương thực thực phẩm

(đơn vị: %)

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo VHLSS 1993, 1998, 2002, 2004, 2006 và 2008)

Không những số lượng người nghèo giảm đi mà mức độ sâu của nghèo cũng giảm xuống đáng kể Bảng 1.2 trình bày ước lượng của chỉ số khoảng cách nghèo Chỉ

số khoảng cách nghèo càng cao phản ánh mức chênh lệch càng lớn giữa chuẩn nghèo và mức chi tiêu bình quân của người nghèo Chỉ tiêu này còn gọi là chỉ số

đo độ sâu của nghèo Chỉ số độ sâu của nghèo của cả nước giảm đáng kể từ 0.184 năm 1993 xuống 0.035 năm 2008, tương ứng với mức giảm 97% Chỉ số khoảng cách nghèo giảm xuống cho vùng nông thôn, thành thị, nhóm dân tộc thiểu số, các vùng địa lý

Bảng 1.2 Chỉ số khoảng cách nghèo thời kỳ 1993-2008

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo VHLSS 1993, 1998, 2002, 2004, 2006 và 2008)

Bên cạnh sự tăng lên về thu nhập và chi tiêu, mức sống của người dân thể hiện qua tài sản cũng được cải thiện (Bảng 1.3) Trong thời kỳ 1998-2008, tỷ lệ hộ gia

7,9

29,1

18,6 13,6

Trang 21

đình có nhà kiên cố tăng từ 16% đến 28% Tỷ lệ hộ gia đình có xe máy cũng tăng lên từ 40% đến 70% cùng kỳ Các tài sản khác cũng tăng lên đáng kể trong thời kỳ này

Bảng 1.3 Tài sản của hộ gia đình

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo VHLSS 2002, 2004, 2006 và 2008)

Việt Nam chỉ chứng kiến mức tăng nhẹ về mức độ bất bình đẳng chi tiêu Hệ số Gini về chi tiêu tăng nhẹ từ 0.34 năm 1993 lên 0.36 năm 2008 Cách biệt về thu nhập giữa thành thị và nông thôn trong giai đoạn 1999-2008 đã cải thiện rõ ràng: năm 1999 thu nhập bình quân người dân nông thôn bằng 43,5 % thu nhập người dân thành thị, năm 2002 là 44,2%, năm 2004 là 46,4% Giai đoạn 1999 đến năm

2008 tốc độ tăng thu nhập người dân nông thôn cao hơn thành thị: Tốc độ tăng thu nhập của người dân nông thôn năm 2008 tăng 3,4 lần so với năm 1999, trong khi đó tốc độ tăng thu nhập của người dân thành thị là 3,1 lần Tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người ở khu vực Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 1999 - 2008 tăng mạnh nhất (3,8 lần), vùng Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long tăng chậm (tương ứng 2,3 và 2,8 lần)

Thành công về xoá đói giảm nghèo của Việt Nam là kết quả chủ yếu của chính sách phát triển đi đôi với công bằng xã hội của Việt Nam Trong hai thập kỷ qua, Việt Nam luôn là quốc gia có mức tăng trưởng kinh tế cao Bên cạnh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Việt Nam rất chú trọng đẩy mạnh thực hiện các chương trình quốc gia hỗ trợ người nghèo và dân tộc thiểu số Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và đào tạo dạy nghề đã đưa đến những thành tựu về tạo công ăn việc làm cho người dân Tạo công ăn việc làm cũng là một trong những mục tiêu phát triển mà Việt Nam đặt ra (VDG) Trong giai đoạn 2006-2010, Việt Nam đã thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia vêƦ viêƥc laƦm Chương trình đã góp phần tạo việc làm mới cho khoảng 2 triệu lao động Ngoài việc thực hiện các dự án vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm với lãi suất ưu đãi, chương trình còn hướng tới việc phát triển thị trường lao động thông qua nâng cao năng lực và hiện đại hóa 30 - 40 trung tâm giới thiệu việc làm, hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động; nâng số người được tư vấn và giới thiệu việc làm lên 4 triệu người trong 5 năm Dự

án dạy nghề cho người nghèo dạy nghề miễn phí cho khoảng 100 nghìn lao động

Trang 22

nghèo trong ba năm 2007-2009, trong đó trên 60% đã tìm được việc làm, tự tạo việc làm, góp phần tăng thu nhập để giảm nghèo Dự án dạy nghề cho lao động nghèo được các địa phương đánh giá cao, coi đó là hướng để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững

Số lượng lao động đang làm việc cả nước cũng tăng lên hàng năm từ 37609,6 nghìn người vào năm 2000 lên 47743,6 nghìn người vào năm 2009 (trong đó lao động thành thị là 12624,5 nghìn người và lao động nông thôn là 35119,1) (Bảng 1.4) Tỷ lệ lao động trên tổng số người từ 15 tuổi trở lên của cả nước tăng từ 68,3% lên 74,2% Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị cũng giảm từ 6,42% năm 2002 xuống còn 4,65% năm 2008

Bảng 1.4 Số lao động từ 15 tuổi trở lên và tỷ lệ số người lao động trên tổng số người từ 15 tuổi trở lên

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo VHLSS 1993, 1998, 2002, 2004, 2006 và 2008)

Cơ cấu việc làm cũng có sự chuyển biến theo hướng tăng việc làm công, ăn lương, giảm công việc tự làm (Hình 1.2) Trong các công việc tự làm, tỷ lệ việc tự làm trong nông nghiệp có xu hướng giảm đi và tỷ lệ việc tự làm phi nông nghiệp tăng lên Tuy nhiên còn có sự khác biệt rất lớn về cơ cấu việc làm giữa khu vực

39,0 43,1 49,6 52,8 52,5 54,4

20,5 13,4

16,1 13,8 12,9 12,7 40,5 43,5 34,4 33,4 34,6 32,9

Lao động làm công, ăn lương

Lao động tự làm nông nghiệp

Lao động tự làm phi nông nghiệp

10,4 11,4 22,4 24,4 26,5

27,5 80,6 77,4 64,5 62,1 59,6 58,99,1 11,1 13,1 13,5 13,9 13,6

Lao động tự làm nông nghiệp Lao động tự làm phi nông nghiệp

Trang 23

thành thị và nông thôn Năm 2008, tỷ lệ công việc làm công ăn lương ở khu vực thành thị và nông thôn là 54,4% và 27,5% Ở khu vực nông thôn, việc làm nông nghiệp cũng chiếm chủ yếu trong số công việc tự làm

Bên cạnh chính sách việc làm, chính sách cho hộ nghèo vay vốn ưu đãi cũng góp phần tạo việc làm và giảm đói nghèo Trong giai đoạn 2006-2009, đã có khoảng 5 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi với mức vay bình quân khoảng 6-7 triệu đồng/lượt/hộ Trong năm 2008, khoảng 10% hộ gia đình được vay vốn từ Ngân hàng chính sách Việt Nam và có tới 33,5% hộ gia đình vay vốn từ các nguồn khác Tỷ lệ vay vốn từ Ngân hàng chính sách của các hộ gia đình nông thôn và dân tộc thiểu số cao hơn hẳn tỷ lệ hộ gia đình vay vốn ở khu vực thành thị cũng như người Kinh và Hoa Vốn cho vay nhìn chung được hộ nghèo sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả, người nghèo tiếp cận thuận lợi hơn, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo

Hình 1.3 Tỷ lệ hộ vay tín dụng trong năm 2008

(đơn vị: %)

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo VHLSS 2008)

Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam là công cụ đắc lực trong việc hỗ trợ các đối tượng yếu thế, chịu thiệt thòi trong xã hội Năm 2009, có khoảng 1,5 triệu người thuộc đối tượng người có công được hưởng trợ cấp ưu đãi; khoảng 1,26 triệu người được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên, tăng 720 ngàn người so với năm

2005 với mức trợ cấp cho các đối tượng hưởng trợ cấp xã hội tăng bình quân gần 50% so với quy định cũ Các tỉnh, thành phố có điều kiện đã thực hiện mức trợ cấp cao hơn mức quy định của Chính phủ, các tỉnh nghèo được bổ sung ngân sách đảm bảo xã hội để đảm bảo chi trả đầy đủ cho đối tượng theo quy định Có khoảng 40 nghìn được nuôi dưỡng và chăm sóc người tại 450 cơ sở bảo trợ xã hội

Trang 24

thấy tỷ lệ nghèo lương thực ở nông thôn cao hơn 10 lần so với ở thành thị Mức độ nghèo còn rất cao ở vùng Tây Bắc và tốc độ giảm nghèo ở vùng này có xu hướng chậm lại đáng kể trong những năm gần đây

Nhóm dân tộc thiểu số có tỷ lệ nghèo rất cao Cho tới năm 2008, 50% người dân tộc vẫn là người nghèo và có tới 31% người dân tộc là nghèo lương thực Thậm chí mức độ nghèo còn có xu hướng tăng lên trong một số nhóm dân tộc thiểu số (Bảng 1.5) Giảm nghèo mang tính chất kinh niên ở một số nhóm dân tộc thường gặp nhiều khó khăn và cần nhiều biện pháp lâu dài Vào đầu những năm 90, tỷ lệ

hộ nghèo có chủ hộ là người dân tộc thiểu số chỉ có 18%, đến năm 1998 tỷ lệ này

là 29%, năm 2004 tăng lên 39%, và gần đây nhất là 47% vào năm 2006 (sử dụng

số liệu của theo VHLSS của Tổng Cục Thống kê) Chỉ chiếm 14,5% tổng dân số nhưng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đến một nửa dân số nghèo ở Việt Nam Với thực trạng này, đói nghèo sẽ là đặc tính đặc thù của nhóm các đồng bào dân tộc thiểu số trong tương lai

Bảng 1.5 Tỷ lệ nghèo ở các nhóm dân tộc thiểu số

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo VHLSS 1993, 1998, 2002, 2004, 2006 và 2008)

Tỷ lệ nghèo giảm nhưng tốc độ giảm nghèo có xu hướng giảm đi, mức độ cải thiện đời sống của các hộ nghèo còn chậm, nguy cơ tái nghèo cao khi có những cú sốc

về kinh tế như khủng hoảng, thất nghiệp cũng như những cú rủi ro về dịch bệnh,

ốm đau, thiên tai khốc liệt và bất thường do biến đổi khí hậu Bảng 1.6 cho thấy nguy cơ rơi vào nghèo ngày càng cao hơn Trong số 629 hộ nghèo được điều tra trong VHLSS 2006 của Tổng Cục Thống kê thì 170 hộ là không nghèo vào năm

2004, tức là có tỷ lệ bằng 27% Đến năm 2008, thì tỷ lệ hộ không nghèo năm

2006 nhưng rơi vào nghèo năm 2008 trong tổng số hộ nghèo năm 2008 tăng lên đến 32% Để giảm nghèo đói bền vững, Việt Nam không chỉ cần có chính sách giúp hộ thoát nghèo mà cần phải có chinh sách bảo vệ nhưng hộ không nghèo rơi vào nghèo đói

Bảng 1.6 Thay đổi tình trạng nghèo đói

Các hộ gia đình được điều tra trong VHLSS 2004 và

Không nghèo

Trang 25

Nghèo 2004 355 459 814 Nghèo 2006 256 373 629

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo VHLSS 2004, 2006 và 2008)

Mặc dù mức độ bất bình đẳng về chi tiêu của toàn dân số tăng không nhiều, nhƣng mức độ bất bình đẳng lại tăng lên đáng kể ở nông thôn và nhóm dân tộc thiểu số (Bảng 1.7) Bên cạnh đó, bất bình đẳng về thu nhập cao hơn bất bình đẳng về chi tiêu Theo VHLSS 2008 của Tổng Cục Thống kê, chỉ số Gini về thu nhập bằng 0.42 trong năm 2008

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo VHLSS 1993, 1998, 2002, 2004, 2006 và 2008)

Hình 1.4 Tỷ lệ chi tiêu của nhóm 10% giàu nhất và 10% nghèo nhất

Trang 26

Hình 1.4 xem xét mức độ bất bình đẳng chi tiêu bằng tỷ lệ chi tiêu bình quân giữa nhóm 10% dân số có mức chi tiêu cao nhất và 10% dân số có mức chi tiêu thấp nhất Năm 2008, chi tiêu bình quân của nhóm dân số giàu gấp 4,7 lần chi tiêu bình quân ở nhóm dân số nghèo ở khu vực thành thị Ở khu vực nông thôn

tỷ lệ này là 4 lần Mức độ chênh lêch chi tiêu tăng lên nhiều ở khu vực nông thôn cho thấy sự phân hoá giàu nghèo chủ yếu diễn ra trong nội bộ khu vực hơn là giữa các khu vực với nhau

Bên cạnh những thách thức về giảm nghèo ở nhóm dân tộc thiểu số, việc giảm nghèo đói ở khu vực thành thị trong nhóm người di cư từ nông thôn ra thành thị cũng là một khó khăn Nhóm này đang chịu nhiều bất lợi trong tiếp cận các cơ hội

và dịch vụ công, tuy nhiên các nỗ lực trợ giúp khó tiếp cận với nhóm đối tượng này

Suy thoái kinh tế khiến cho tăng trưởng kinh tế thấp, có thể làm tăng nghèo đói Việc gia nhập WTO và tự do hoá thương mại có thể khiến cho một số khu vực kinh

tế như xuất nhập khẩu dễ tổn thương với kinh tế thế giới Nếu bị ảnh hưởng tiêu cực có thể dẫn đến thất nghiệp cho lao động trong một số ngành kinh tế, và làm tăng tỷ lệ nghèo

Trang 27

Mục tiêu 2: Phổ cập Giáo dục tiểu học

Giới thiệu về Mục tiêu

Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ:

- Đảm bảo cho mọi trẻ em, trai cũng như gái, hoàn thành đầy đủ chương trình giáo dục tiểu học vào năm 2015

Mục tiêu của Việt Nam trong kế hoạch 5 năm 2006-2010:

 Tăng tỷ lệ nhập học tiểu học đúng tuổi lên tới 99% năm 2010;

 Hoàn thành việc nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học và tăng số giờ học cả ngày ở cấp tiểu học vào năm 2010;

 Tăng tỷ lệ nhập học trung học cơ sở đúng tuổi lên 90% năm 2010;

 Tăng tỷ lệ học sinh trung học phổ thông trong độ tuổi lên 50% vào năm 2010;

 Phấn đấu xoá mù chữ cho 100% số phụ nữ bị mù chữ ở độ tuổi dưới 40 vào năm

2010

Tóm tắt kết quả thực hiện

Đầu tư cho giáo dục và đào tạo được Nhà nước quan tâm đặc biệt, coi đó là đầu tư cho phát triển Ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo được tăng lên hàng năm, đạt 20% tổng chi ngân sách nhà nước Công tác xã hội hóa trong giáo dục đã thu hút được nhiều nguồn lực trong xã hội, cộng đồng tài trợ quốc tế, và các tầng lớp nhân dân cho phát triển giáo dục Vì vậy, Việt Nam tiếp tục đạt được những thành thành tựu đáng kể về giáo dục, đào tạo, xoá mù chữ Tính đến năm 2000, Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong độ tuổi; có mục tiêu cụ thể cho việc thực hiện mục tiêu phổ cập trung học phổ thông

Dù đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học, thúc đẩy phổ cập giáo dục trung học cơ sở nhưng nâng cao chất lượng giáo dục là thách thức lớn Tỷ lệ nhập học đúng tuổi ở bậc tiểu học vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra Cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ giáo viên của các trường còn nhiều khó khăn, đặc biệt là ở các vùng khó khăn, vùng tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số Vẫn còn có tình trạng chênh lệch trong tiếp cận giáo dục giữa các vùng miền, giữa nông thôn và thành thị, giữa các nhóm dân tộc thiểu số và

về xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang thực hiện phổ cập trung học cơ

sở Đến năm 2009 tỷ lệ nhập học đúng tuổi ở bậc tiểu học là 97% Tỷ lệ đi học đúng tuổi đạt gần 100% ở các TP lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Thái Nguyên

Tỷ lệ biết chữ trong dân số từ 10 tuổi trở lên tăng đáng kể trong thập kỷ qua Tuy nhiên tỷ lệ này không có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây Năm 2008,

Trang 28

tỷ lệ biết chữ chung của cả nước là 93,9%, trong đó thành thị 96%, nông thôn 92% (Bảng 2.1) Tỷ lệ biết chữ của nam giới vẫn cao hơn nữ giới Tỷ lệ biết chữ trong độ tuổi từ 10 đến 40 là 96% Một điều thú vị là tỷ lệ biết chữ trong độ tuổi này là như nhau giữa nhóm nam và nữ

Bảng 2.1 Tỷ lệ biết chữ của dân số từ 10 tuổi trở lên

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo VHLSS 1993, 1998, 2002, 2004, 2006 và 2008)

Năm học 2008-2009, cả nước có gần khoảng 2,8 triệu học sinh mẫu giáo, 15,1 triệu học sinh tiểu học và phổ thông, 1,68 triệu sinh viên Tỷ lệ trẻ em đi học trong

độ tuổi tiểu học tăng lên rõ rệt trong những năm 1990 Bảng 2.2 cho thấy tỷ lệ trẻ

em trong độ tuổi 7-10 đi học tăng từ 90,3% năm 1993 lên đến 97,2% năm 2008 Công bằng xã hội trong giáo dục đã được cải thiện rất nhiều, đặc biệt tăng cơ hội học tập cho trẻ em gái, trẻ em người dân tộc thiểu số Việc miễn, giảm học phí, cấp học bổng và các chính sách hỗ trợ khác đã tạo điều kiện cho đại bộ phận con em các gia đình nghèo, diện chính sách được học tập, trước hết ở các cấp học phổ cập Cùng với chính sách hỗ trợ học sinh nghèo dân tộc thiểu số, trong 4 năm từ 2006 đến 2009 đã có khoảng 8 triệu lượt học sinh nghèo được miễn học phí và 2,8 triệu lượt học sinh nghèo dân tộc thiểu số được hỗ trợ sách giáo khoa (ước thực hiện trong giai đoạn 2006-2010 sẽ có khoảng 10 triệu lượt học sinh nghèo được miễn học phí, đạt 100% kế hoạch 5 năm)

Từ năm học 2007-2008, học sinh học nghề, sinh viên cao đẳng, đại học có hoàn cảnh khó khăn được vay để chi trả cho việc học hành (752 nghìn người được vay với mức tối đa 800.000 đồng/tháng) Bảng 2.2 cho thấy tỷ lệ đi học tăng từ 88,7% vào năm 1993 cho tới 96,6% vào năm 2008 ở khu vực nông thôn Trong thời kỳ này tỷ

lệ đi học của trẻ em dân tộc trong độ tuổi tiểu học đã tăng lên từ 70,1% đến 92,6% Khác biệt về tỷ lệ đi học giữa trẻ em trai và trẻ em gái là không đáng kể

Trang 29

Bảng 2.2 Tỷ lệ đi học trong độ tuổi học tiểu học (7-10 tuổi)

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo VHLSS 1993, 1998, 2002, 2004, 2006 và 2008)

Ghi chú : Ở một số bảng biểu, nguồn số liệu để tính tỷ lệ đi học là VHLSS Khi đó tỷ lệ đi học được tính cho năm thay vì năm học do VHLLS được tiến hành điều tra trong năm thay vì trong năm học Ở Bảng 2.2 tỷ lệ đi học được tính trong độ tuổi 7-10 vì VHLSS được điều tra trong nhiều tháng của năm Năm học thường bắt đầu từ 5/9, nên với các em 6 tuổi được điểu tra trước tháng 9 thì được chưa đi học, còn các em 6 tuổi được điểu tra từ tháng

9 trở đi thì đa phần đi học rồi Để tránh tính toán sai lệch do thời điểm bắt đầu năm học khác nhau, nhóm trẻ em dưới 7 tuổi không được tính trong Bảng 2.2

Tiến bộ về giáo dục cho trẻ em thể hiện rõ nét ở lứa tuổi đi học trung học (Bảng 2.3 và 2.4) Tỷ lệ trẻ em đi học trong độ tuổi 11-14 tăng nhanh chóng từ 72,1% năm 1993 lên đến 86,6% năm 1998 và 91,5% năm 2008 Tỷ lệ đi học tăng cho cả trẻ em nông thôn, thành thị, trẻ em nhóm đa số cũng như trẻ em người dân tộc thiểu số, trẻ em trai và gái

Bảng 2.3 Tỷ lệ đi học trong độ tuổi học trung học cơ sở (11-14 tuổi)

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo VHLSS 1993, 1998, 2002, 2004, 2006 và 2008)

Tỷ lệ đi học trong lứa tuổi trung học phổ thông tăng từ 26,9% lên đến 68,1% trong thời kỳ 1993-2008 Tỷ lệ đi học trong đô tuổi này tăng gấp hơn 3 lần ở khu vực nông thôn và nhóm dân tộc thiểu số

Bảng 2.4 Tỷ lệ đi học trong độ tuổi học trung học phổ thông (15-17 tuổi)

Trang 30

1993 1998 2002 2004 2006 2008

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo VHLSS 1993, 1998, 2002, 2004, 2006 và 2008)

Bên cạnh giáo dục phổ thông, giáo dục mẫu giáo và giáo dục sau phổ thông (cao đẳng và đại học) cũng đạt được nhiều thành tựu Số trẻ em học tiểu học tăng từ 2,4 triệu em năm học 2005-2006 lên 2,8 triệu em năm học 2008-2009 Trong thời

kỳ này, số sinh viên cao đẳng và đại học cũng tăng từ 1,4 triệu lên 1,7 triệu người

Chất lượng giáo dục

Nhà nước không ngừng đẩy mạnh đầu tư cho giáo dục Ngân sách nhà nước đầu

tư cho giáo dục tăng liên tục từ 15,5% năm 2001 lên 20% năm 2007 Trong năm

2007, khoảng 25% tổng chi phí của xã hội cho học tập là đóng góp của người dân Bên cạnh đó, cũng đã huy động được sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị-xă hội và đầu tư nước ngoài Nhờ đó mà mạng lưới trường lớp được phát triển rộng khắp trong toàn quốc Về cơ bản đã xóa được "xã trắng" về giáo dục mầm non Trường tiểu học đã có ở tất cả các xã, trường trung học cơ sở có ở

xã hoặc cụm liên xã, trường trung học phổ thông có ở tất cả các huyện Các cơ sở đào tạo nghề, cao đẳng và đại học được thành lập ở hầu hết các địa bàn dân cư lớn, các vùng, các địa phương, đặc biệt ở vùng chậm phát triển như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ Các tỉnh và nhiều huyện miền núi đã có trường nội trú và bán trú cho con em các dân tộc thiểu số Bảng 2.4 cho thấy số lượng trường học ở tất cả các cấp tăng lên đáng kể trong những năm gần đây

Bảng 2.5 trình bày một số chỉ tiêu liên quan đến chất lượng giáo dục ở bậc tiểu học và THCS Mặc dù tỷ lệ đi học của trẻ em khá cao, nhưng tỷ lệ nhập học đúng

Trang 31

tuổi còn thấp đối với bậc học trung học, ở mức 83,1% vào năm học 2008-2009 (Bảng 2.5) Tỷ lệ hoàn thành bậc học còn khá thấp, bằng 88,5% đối với bậc tiểu học và 77,6% đối với bậc THCS vào năm học 2008-2009

Mặc dù số lượng trường học đã tăng lên trong những năm qua, những vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu tăng lên của học sinh, đặc biệt ở bậc THCS Số học sinh trung bình một lớp tăng từ 24 em năm học 2005-2006 lên 36 em năm học 2008-2009 Tuy nhiên số lượng giáo viên không ngừng tăng lên, góp phần làm giảm tỷ lệ số học sinh bình quân trên một viên, đặc biệt ở bậc THCS

Bảng 2.5 Các chỉ số cơ bản của giáo dục tiểu học

Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo

Chi tiêu cho giáo dục của trẻ em ở hộ gia đình có xu hướng tăng, đặc biệt ở bậc tiểu học (Hình 2.1) Mức chi tăng cả ở khu vực thành thị và nông thôn Tuy nhiên ở bậc THCS, mức chi cho giáo dục của gia đình ở khu vực thành thị không có xu hướng tăng lên Biểu đồ này cũng cho thấy chênh lệch về chi tiêu giáo dục cho trẻ

em giữa khu vực thành thị và nông thôn là tương đối lớn, và chênh lệch này không

có xu hướng giảm đi theo thời gian

Hình 2.1 Tổng chi phí của hộ gia đình cho việc đi học

(đơn vị: nghìn đồng, giá 2002)

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo VHLSS 2002, 2004, 2006 và 2008)

Trang 32

Những tồn tại và thách thức

Mặc dù mục tiêu thiên niên kỷ về phổ cập giáo dục tiểu học đã được hoàn thành, việc thực hiện mục tiêu của Việt Nam trong kế hoạch 5 năm 2006-2010 còn gặp nhiều thách thức Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới Sự phát triển quy mô giáo dục ở các cấp học, ngành nghề và trình độ đào tạo trong những năm qua đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân, nhưng chất lượng giáo dục vẫn còn nhiều hạn chế Tỷ lệ nhập học đúng tuổi ở bậc tiểu học vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra Việc tăng tỷ lệ nhập học tiểu học đúng tuổi lên tới 99% vào năm 2010 có thể không đạt được vì còn rất nhiều địa phương có tỷ lệ nhập học tiểu học đúng tuổi rất thấp (Bảng 2.6) Một điều đáng báo động là tỷ lệ hoàn thành bậc tiểu học rất thấp, tại một số tỉnh tỷ lệ này dưới 70% (Bảng 2.7) Điều này có nghĩa là nhiều em nhỏ sẽ phải học lại học ngừng học khi ở độ tuổi nhỏ Tình trạng bỏ học ở học sinh đang là một vấn đề đáng ngại trong giáo dục Tính đến tháng 12/2007, tổng số HS THCS bỏ học trên cả nước là

63729 - chiếm tỷ lệ 1,1% so với tổng HS của bậc học này; tổng số HS cấp THPT bỏ học là 50309 (tỷ lệ 1,66%)

Trang 33

Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo

Tỷ lệ nhập học bậc học THCS đúng tuổi tăng khá chậm những năm gần đây từ 81% năm học 2006-2007 lên 83% năm học 2008-2009 Tăng tỷ lệ nhập học trung học cơ sở đúng tuổi lên 90% năm 2010 là một thách thức vì chất lượng giáo dục

và trình độ học sinh không dễ dàng nâng cao trong một thời gian ngắn

Xoá mù chữ cho phụ nữ cũng như nam giới dưới 40 tuổi vào năm 2010 cũng là một mục tiêu khó khăn khi mà tỷ lệ biết chữ trong độ tuổi này chỉ có 96% vào năm

2008 Tỷ lệ biết chữ tuy tăng theo thời gian nhưng tốc độ rất chậm những năm gần đây Điều này phản ánh là có một số người không được tham gia các lớp xoá

mù chữ hoặc có thể có những người bị tái mù chữ

Cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường còn thiếu thốn và lạc hậu Mặc dù tình hình cơ

sở vật chất kỹ thuật nhà trường trong những năm gần đây đã có nhiều cải thiện rõ rệt nhưng tính đến năm 2007 vẫn còn 11% số lớp học ở tình trạng lớp học tạm, phòng học cấp 4 cũ nát, nhất là ở vùng sâu, vùng xa; thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và các phương tiện dạy học còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở các trường đại học

Cuối cùng, tình trạng chênh lệch trong tiếp cận giáo dục giữa các vùng miền, giữa nông thôn và thành thị, giữa các nhóm dân tộc thiểu số và nhóm đa số vẫn còn

Tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi và tỷ lệ hoàn thành tiểu học còn rất thấp ở một số tỉnh như Sóc Trăng, Bạc Liêu (Bảng 2.6 và 2.7) Tỷ lệ người dân biết chữ ở vùng Tây Bắc và nhóm dân tộc thiểu số thấp hơn nhiều so với người dân ở vùng đồng bằng, dân tộc Kinh Chi tiêu của hộ gia đình cho trẻ em cũng thấp hơn ở vùng nông thôn và miền núi

Trang 34

Mục tiêu 3: Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ

Giới thiệu về Mục tiêu

Mục tiêu Phát triển Thiên nhiên kỷ:

- Phấn đấu xoá bỏ chênh lệch giữa nam và nữ ở bậc tiểu học và trung học năm

2005 và ở tất cả các cấp học năm 2015

Mục tiêu của Việt Nam trong kế hoạch 5 năm 2006-2010:

 Giảm dần chênh lệch về giới ở cấp giáo dục tiểu học và trung học của các dân tộc thiểu số vào năm 2010;

 Tăng số đại biểu phụ nữ trong các cơ quan dân cử các cấp;

 Tăng thêm 3-5% số phụ nữ tham gia trong các cơ quan, các ngành (kể cả các

Bộ, cơ quan Trung ương, các doanh nghiệp) ở tất cả các cấp trong 10 năm tới;

 Thực hiện quy định ghi tên của cả chồng và vợ trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

 Giảm mức độ dễ bị tổn thương của phụ nữ trước các hành vi bạo hành trong gia đình

Tóm tắt kết quả thực hiện

Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về tăng cường bình đẳng giới và nâng cao

vị thế của phụ nữ So với các quốc gia có cùng mức độ phát triển và thu nhập, Việt Nam

có các chỉ số về bình đẳng giới khá cao Việt Nam đã xoá bỏ được những khác biệt về giới trong giáo dục Bình đẳng về việc làm và thu nhập là cũng đạt được những bước tiến quan trọng; trong số lao động mới tăng thêm hàng năm, nữ giới chiếm khoảng 49% Phụ

nữ ngày càng bình đẳng hơn trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; vị trí lãnh đạo của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp

Bên cạnh những thành tựu đạt được, bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại ở một số vùng nông thôn, miền núi Vẫn còn có chêch lệch về trình độ giáo dục giữa nam và nữ ở những người lớn tuổi Phụ nữ vẫn có xu hướng làm nhiều công việc giản đơn hơn so với năm giới Những định kiến về giới, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại, nam giới được coi trọng và ưu tiên hơn phụ nữ trong công việc gia đình và xã hội Ở một số nơi, bạo hành gia đình vẫn là vấn đề khá nghiêm trọng ở Việt Nam, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi

Những kết quả đạt được

Thành tựu chung

Cho đến nay Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ So với các quốc gia có cùng mức độ phát triển và thu nhập, Việt Nam có các chỉ số về bình đẳng giới khá cao Theo Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008 của Liên hiệp quốc, trong số 177 quốc gia, chỉ số Phát triển con người (HDI) của Việt Nam đứng thứ 105 nhưng chỉ số Phát triển liên quan đến giới (GDI) của Việt Nam đứng thứ 92 Giá trị tuyệt đối của GDI cũng liên tục tăng trong thời qua: năm 1998 là 0,668, năm 2004 là 0,689, và

Trang 35

năm 2005 là 0,732.3 Cũng theo báo cáo này, Việt Nam đứng thứ 52 về chỉ số Vai trò của giới (GEM) trong số 93 nước xếp hạng

Việt Nam được xem là quốc gia có tốc độ thu hẹp khoảng cách về giới nhanh nhất trong khu vực Đông Nam Á Hầu như không có sự khác biệt về việc tiếp cận giáo dục giữa trẻ em nam và nữ ở Việt Nam Phụ nữ tích cực tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội Việt Nam là nước có tỷ lệ phụ nữ là đại biểu Quốc hội cao nhất trong khu vực châu Á Quỹ Phát triển Phụ nữ Liên hiệp quốc (UNIFEM) đánh giá rằng Việt Nam đã đạt được bình đẳng về giới trong giáo dục phổ thông Tại Hội nghị thượng đỉnh Phụ nữ toàn cầu năm 2008, các đại biểu quốc tế đều ca ngợi những kết quả tăng cường bình đẳng giới mà Việt Nam đạt được, và công nhận Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế xã hội cao trong khu vực Trong Báo cáo chung toàn cầu năm 2007 của Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Việt Nam được nhận định là quốc gia đạt được những thành tựu to lớn về bình đẳng giới trong những năm gần đây

Bình đẳng trong giáo dục và đào tạo

Có thể nói Việt Nam đã xoá bỏ được những khác biệt về giới trong công tác giáo dục và đào tạo Tất cả các tổ chức quốc tế đều nhất trí rằng hầu như không có khoảng cách trong việc tiếp cận các dịch vụ về giáo dục giữa các trẻ em nam và

nữ Bảng 1 cho thấy tỷ lệ học sinh nữ ở các cấp không ngừng tăng lên Tỷ lệ học sinh nữ ở các cấp trung học phổ thông, cao đẳng và đại học tăng lên nhanh chóng Chẳng hạn tỷ lệ học sinh nữ ở bậc đại học tăng từ 38,1% năm học 1996-1997 lên đến 55% năm học 2006-2007

Bảng 3.1 Tỷ lệ học sinh nữ ở các cấp học qua các năm học

(đơn vị: %) 1997-98 2001-02 2003-04 2004-05 2005-06 2006-07 2007-08 2008-09

Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2008

Hình 3.1 ước tính tỷ lệ đi học trong độ tuổi 6 đến 14 (tương đương cấp học tiểu học và trung học) cho trẻ em trai và gái sử dụng số liệu từ các cuộc điều tra VHLSS của Tổng Cục Thống kê Mục đích của việc ước tính này là nhằm kiểm tra thông tin

về tiếp cận giáo dục của trẻ em bằng một nguồn số liệu khác Kết quả cho thấy tỷ

lệ trẻ em đi học tương đối ổn định trong những năm gần đây và sự khác biệt về tỷ

lệ đi học giữa trẻ em nam và nữ là rất nhỏ Theo VHLSS 2008, tỷ lệ trẻ em đi học trong nhóm nam và nữ đều xấp xỉ khoảng 92%

3 2005 là năm gần đây nhất mà chỉ số GDI được ước tính cho Việt Nam

Trang 36

Hình 3.1 Tỷ lệ trẻ em đi học ở độ tuổi 7-14

(đơn vị: %)

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo 2002, 2004, 2006 và 2008)

Một thành tựu nữa về bình đẳng giới trong tiếp cận giáo dục là thu hẹp khoảng cách giới trong giáo dục ở các dân tộc thiểu số Hình 3.2 cho thấy tỷ lệ đi học tiểu học và trung học ở trẻ em trai và gái trong nhóm dân tộc thiểu số là gần như nhau trong năm 2008, thậm chí tỷ lệ đi học của trẻ em nữ còn con hơn tỷ lệ đi học trẻ

em trai một chút

Một vấn đề quan trọng nữa là bình đẳng giới trong chất lượng giáo dục Các nghiên cứu xã hội đều chỉ ra rằng việc quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội đối với trẻ em nam và nữ là như nhau (tất nhiên có những trường hợp trẻ em nam được quan tâm nhiều hơn, nhưng đấy chỉ là mang tính chất thiểu số) Theo VHLSS 2008 cho thấy chi tiêu giáo dục bình quân của hộ gia đình cho trẻ em nam

và nữ là tương đương nhau Trung bình, hộ gia đình chi khoảng 1408 nghìn/năm cho giáo dục cho trẻ em nam Trong khi đó, con số này cho trẻ em nữ là 1412 nghìn/năm

Hình 3.2 Tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số đi học ở độ tuổi 7-14

89 86

Trang 37

Bình đẳng giới trong lao động và việc làm

Bình đẳng về việc làm và thu nhập là một điều kiện tiên quyết để đảm bảo vị thế của phụ nữ Nhà nước, các cơ quan đoàn thể và doanh nghiệp cũng góp phần đảm bảo việc làm cho các lao động nữ Trong số lao động mới tăng thêm hàng năm, nữ giới chiếm khoảng 49% Bảng 3.2 cho thấy tỷ lệ tham gia lao động của nữ giới thấp hơn khoảng 4 điểm phần trăm so với tỷ lệ của nam giới Tổng số giờ làm việc bình quân cả năm của phụ nữ cũng xấp xỉ tổng số giờ làm việc của nam giới Ví dụ như trong năm 2008, số giờ làm việc bình quân của nam giới là 1565, trong khi đó con số này của phụ nữ là 1453 Tiền công giữa nam giới và phụ nữ cũng không có

sự khác biệt lớn Năm 2008, tiền lương bình quân một giờ lao động của nam và nữ tương ứng là 10,8 và 10 nghìn đồng

Bảng 3.2 Việc làm và tiền lương của những người trong độ tuổi lao động

(nam: 15-60, nữ: 15-55) Nghề nghiệp Nam 2002 Nữ Nam 2004 Nữ Nam 2006 Nữ Nam 2008 Nữ

Tổng số giờ làm việc trong năm 1570 1519 1533 1493 1557 1496 1565 1453

Lương t/bình năm (nghìn VND) 7056 6104 10697 9475 14368 12456 21394 18702

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo 2002, 2004, 2006 và 2008)

Bảng 3.3 xem xét cơ cấu ngành nghề của việc làm chính cho nhóm nam và nữ Tỷ

lệ nữ giới tham gia các công việc quản lý, nhà chuyên môn, thư kí và nhân viên tương tự như tỷ lệ nam giới Tuy nhiên nữ giới có xu hướng làm việc trong nông nghiệp và công việc giản đơn cao hơn nam giới Ngược lại, tỷ lệ lao động kỹ thuật trong nam giới cao hơn nữ giới Năm 2008, tỷ lệ lao động kỹ thuật có tay nghề cao trong nam giới là 20%, trong khi con số này đối với phụ nữ là khoảng 10%

Bảng 3.3 Cơ cấu ngành nghề phân theo việc làm chính

(đơn vị: %)

Quản lý, nhà chuyên môn,

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (theo 2002, 2004, 2006 và 2008)

Bình đẳng giới trong công tác quản lý, lãnh đạo

Phụ nữ ngày càng bình đẳng hơn trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; vị trí lãnh đạo của các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp Trong khối các Bộ, cơ quan ngang Bộ, công chức

nữ chiếm 23,9%; khối cơ quan thuộc Chính phủ chiếm 24,8%; khối Tổng cục thuộc Bộ và tương đương chiếm 24,6%; khối cơ quan Cục thuộc Bộ và tương

Trang 38

đương chiếm 22,6%; khối cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chiếm tỷ lệ 18,95%

Với số lượng cán bộ, công chức nữ trong các cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện tới trung ương chiếm khoảng 31,1%, trong đó, nữ lãnh đạo chiếm khoảng 18,4%, phụ nữ ngày càng có cơ hội bình đẳng với nam giới trong việc xây dựng và thực hiện quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức Tương tự như vậy, ở cấp xã, cán bộ chuyên trách là nữ chiếm 16,27% trong tổng số cán bộ chuyên trách, do đó phụ nữ đã có tiếng nói trong quá trình hình thành và triển khai thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng

Tỷ lệ nữ tham gia trong các cơ quan dân cử (Hội đồng nhân dân các cấp) không ngừng tăng lên theo thời gian (Hình 3.3) Đặc biệt ở cấp xã, tỷ lệ đại biểu nữ trong HĐND đã tăng lên gần 4 điểm phần trăm từ 16,6% dến 20,1% qua 2 nhiệm kỳ 1999-2004 và 2004-2009

Hình 3.3 Tỷ lệ nữ trong đại biểu HĐND các cấp

(đơn vị: %)

Nguồn: Uỷ Ban Quốc Gia vì sự Tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam

Việt Nam vẫn là quốc gia có tỷ lệ phụ nữ là đại biểu Quốc hội cao nhất châu Á với 25,8% khoá 2007-2011 Trình độ của đại biểu Quốc hội nữ ngày càng được nâng cao Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội có trình độ học vấn từ đại học trở lên đã tăng từ 30,3% (khoá 1992-1997) lên 44,9% (khoá 1997-2002), và đạt mức 50,2% (khoá 2002-2007) và 59,1% (khoá 2007-2011)

Trang 39

Hình 3.4 Tỷ lệ đại biểu Quốc hội nữ

(đơn vị: %)

Nguồn: Văn phòng Quốc hội

Bình đẳng trong tiếp cận đối với đất đai

Đảm bảo quyền sử dụng đất là vấn đề rất quan trọng đối với phụ nữ, vì đất đai gắn liền với đời sống của phụ nữ Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai sửa đổi năm

2003, trong đó quy định rõ đất đai là tài sản chung của vợ và chồng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi rõ cả họ tên của vợ và chồng Năm 2008, tỷ lệ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên cả vợ và chồng thay đổi khá nhiều giữa các loại đất Tỷ lệ cao nhất thuộc về đất (mặt nước) nuôi trông thuỷ sản, với 91,1% số giấy chứng nhận ghi tên cả vợ và chồng Thấp nhất là nhóm đất sản xuất nông nghiệp, chỉ có 10,9% số giấy chứng nhận sử dụng đất ghi tên cả hai vợ chồng Đối với đất ở, 18,2% giấy đất ở nông thôn và 29,8% giấy đất ở thành thị

có ghi tên cả hai vợ chồng

Những tồn tại và thách thức

Mặc dù không còn khoảng cách về giới trong tiếp cận giáo dục đối với trẻ em hiện nay, nhưng chêch lệch trình độ giáo dục giữa nam và nữ ở những người lớn tuổi vẫn còn Theo VHLSS 2008 của Tổng cục Thống kê, cho thấy tỷ lệ biết đọc ở nam giới và nữ giới trên 10 tuổi tương ứng là 96% và 91% Tuy nhiên ở những người trên 50 tuổi thì những con số này là 94% và 79% Chênh lệch về tỷ lệ biết chữ giữa nam và nữ trong nhóm dân tộc thiểu số rất cao Năm 2006, tỷ lệ biết chữ ở nam và nữ trên 50 tuổi tương ứng là 77% và 49% Tỷ lệ nam giới và nữ giới trên

22 tuổi không có bằng cấp giáo dục vào khoảng 18% và 31% vào năm 2008 Nguyên nhân là nam giới thường có trình độ học vấn cao hơn nữ giới ở nhóm những người lớn tuổi do bất bình đẳng về giới ở trong quá khứ Với xu thế giáo dục bình đẳng về giới như hiện nay, khoảng cách về trình độ giáo dục giữa nam

và nữ trong toàn bộ dân số trong tương lai sẽ không còn nữa

1992-Khoá 2002

1997-Khoá 2007

2002-Khoá 2011

Trang 40

2007-Nữ giới vẫn chịu một số thiệt thòi hơn nam giới trong lao động và việc làm Tỷ lệ phụ nữ làm công việc giản đơn vẫn cao hơn so với nam giới Theo kết quả của các cuộc điều tra VHLSS của Tổng Cục Thống kê, phụ nữ có thời gian làm việc nhà gấp

2 lần đàn ông (chỉ tính cho nhóm đang đi làm việc), và sự chênh lệch này là không đổi trong thời kỳ 2002-2008

Bên cạnh những thành tựu đạt được, bình đẳng giới trong công tác quản lý và lãnh đạo vẫn còn nhiều vấn đề còn tồn tại Tỷ lệ phụ nữ trong quốc hội khoá 2007-2011 giảm đi so với khoá 2002-2007 từ 27,3% xuống 25,8% Tỷ lệ nữ giới là Bộ trưởng

và tương đương giảm từ 12% khoá 2002-2007 xuống còn 4,5% khoá 2007-2010 Bạo hành gia đình, chủ yếu là đối với phụ nữ và trẻ em vẫn là vấn đề nghiêm trọng

ở Việt Nam, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa Những vụ bạo hành gia đình được các cơ quan thông tin đại chúng đưa tin và pháp luật xử lý

có xu hướng gia tăng Trong số những vụ bạo hành thì 90% nạn nhân là phụ nữ, còn lại đa phần là trẻ em và người già Số vụ xâm hại hại trẻ em cũng gia tăng mạnh trong thời gian qua Theo Cục Bảo vệ - Chăm sóc trẻ em (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội), các vụ bạo lực và xâm hại trẻ em được phát hiện và xử lý tăng gấp 3 lần trong thời kỳ 2005-2007 Trong 3 năm này, trên cả nước đã xảy ra

5070 vụ xâm hại trẻ em, trong đó xâm hại tình dục chiếm tới 56,3%, gây thương tích chiếm 19,9%

Buôn bán phụ nữ và trẻ em mới xuất hiện ở Việt Nam khoảng 10 năm trở lại đây, nhưng đã gây nhiều hậu quả nghiêm trọng cho nạn nhân và gia đình người bị hại Tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em có xu hướng gia tăng Từ năm 1998 đến

2007 đã có trên 6680 phụ nữ và trẻ em bị buôn bán, và trên 21000 phụ nữ và trẻ

em vắng mặt lâu ngày có nghi ngờ bị buôn bán ra nước ngoài Điều đáng quan tâm là con số này có thể chỉ là một phần so với con số thực tế

Những định kiến về giới, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại và khá nặng nề, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” dẫn đến việc nam giới được coi trọng

và ưu tiên hơn phụ nữ trong công việc gia đình và xã hội Tỷ lệ chủ hộ là nữ - chủ được định nghĩa là người có quyền quyết định chủ yếu trong hộ gia đình – còn rất thấp, đặc biệt ở nhóm dân tộc thiểu số Năm 2008, tỷ lệ chủ hộ là nữ của cả nước

là 26%, còn của nhóm dân tộc thiểu số chỉ là 12% Hơn nữa, các chủ hộ là nữ thường là các mà nữ giới độc thân Chẳng hạn, cũng theo VHLSS 2008, trong số các hộ có chủ hộ là nữ thì có tới 62% là chủ hộ nữ độc thân

Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” còn thể hiển ở chỗ nhiều phụ nữ phải sống cảnh goá bụa hay độc thân do ly hôn hơn so với nam giới Phụ nữ có thể chấp nhận kết hôn với đàn ông đã từng có gia đình một cách không khó khăn Ngược lại những rào cản về tâm lý, văn hoá và gia đình làm cho đàn ông khá khó khăn khi muốn

Ngày đăng: 27/11/2022, 17:09

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w