Luận văn : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam_ chương 3
Trang 1Chơng III - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác thẩm định dự án đầu t tại Ngân hàng Đầu t và phát triển Việt Nam
I Quan điểm chỉ đạo của Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam về công tác thẩm định dự án đầu t:
Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam là doanh nghiệp nhà nớc hạng
đặc biệt, giữ vị thế là một trong những ngân hàng lớn nhất tại Việt Nam, giữ vai trò chủ đạo về lĩnh vực đầu t và phát triển
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc trong đó vị trí của đầu t phát triển rất quan trọng đợc Đảng và Nhà nớc hết sức quan tâm, Ngân hàng đầu
t và phát triển Việt Nam là ngân hàng phục vụ trong lĩnh vực này Vì vậy đây là một thuận lợi lớn, một thời cơ quan trọng cho Ngân hàng
Nhu cầu vốn phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc rất lớn, đòi hỏi vốn dài hạn để phục vụ cho các dự án đầu t Mà trong điều kiện hiện nay điều đó mâu thuẫn với khả năng vốn sẵn có của Ngân hàng Điều này
đặt ra cho Nân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam phải sử dụng nguồn vốn đầu t sao cho và có hiệu quả trong những t tởng quan điểm chỉ đạo trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng:
- Ngân hàng đầu t và phát triển Việt Nam cố gắng cao nhất, đáp ứng có hiệu quả và thông minh nhất đòi hỏi về vốn và dịch vụ ngân hàng cho
đầu t phát triển Mục đích này đợc đề ra nhằm tiếp tục giữ vững và củng cố vị trí, vai trò của Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam trong đầu t phát triển
- Tranh thủ thời cơ, thuận lợi đa mọi hoạt động của toàn hệ thống tăng trởng, phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, hiệu quả hơn
- Phát huy yếu tố nội lực, chủ động sáng tạo tìm giải pháp, tìm lối ra trong điều kiện khó khăn
- Có bản lĩnh cốt cách trong kinh doanh ngân hàng, có thái độ, quan
điểm rõ ràng trớc những hiện tợng kinh tế, trong việc đánh giá về hiệu quả của các dự án đầu t phát triển; đồng thòi tăng cờng sự hợp tác, phối
Trang 2hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành để cùng tháo gỡ khó khăn cho sản xuất và cùng với ngân hàng chấp hành đúng quy định của pháp luật
Để đạt đợc điều này công tác thẩm định luôn phải có những quan điểm
và t tởng chỉ đạo xuyên suốt trong hệ thống Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam
Trong năm 2001- 2002, Ngân hàng luôn đặt ra việc nâng cao năng lực nhận biết đánh giá khách hàng, đánh giá dự án, phơng án vay vốn, năng lực dự báo các rủi ro tiềm ẩn; đặc biệt trong công tác thẩm định, xem xét phán quyết cho vay , tiếp tục đổi mới công nghệ thẩm định xét duyệt phán quyết, ký hợp
đồng tín dụng và nâng cao chất lợng tín dụng:
- Tập trung năng lực, trí tuệ của toàn bộ hệ thống, tiếp tục đổi mới cách thẩm định, xem xét, duyệt phán quyết, ký hợp đồng tín dụng nhanh, chất lợng tốt, giải ngân nhanh, kiểm tra sử dụng vốn đúng mục
đích đối với những dự án then chốt, trọng điểm của nền kinh tế quốc dân có sự chỉ đạo của Nhà nớc
- Quán triệt thực hiện có hiệu quả ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tớng Chính phủ Phan Văn Khải trong hội nghị 6 tháng đầu năm 1997 của Ngân hàng Nhà nớc về việc cho vay của Ngân hàng phục vụ sản xuất cần giải quyết có trọng tâm, trọng điểm và theo 3 tiêu chuẩn:
+ Làm ăn có hiệu quả, có lãi
+ Sản phẩm tiêu thụ đợc
+ Doanh nghiệp có thể nộp nghĩa vụ với ngân sách
- Kiên quyết từ chối những dự án, khoản vay không có hiệu quả, không
đủ điều kiện trả nợ gốc và lãi vay ngân hàng
- Tiếp tục đổi mới cách nắm thực chất d nợ tín dụng các loại trong hoạt
động của Ngân hàng đầu t và phát triển Việt Nam từ cơ sở đến toàn bộ
hệ thống, bao gồm: thực chất d nợ, thực chất nợ quá hạn, nợ khó đòi của từng khách hàng, từng khoản vay, từng dự án vay; nguyên nhân và
kế hoạch, giải pháp xử lý
Trang 3II Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu t của Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam:
Nền kinh tế nớc ta đang trong thời kỳ tăng trởng mạnh có khả năng thu hút vốn đầu t rất lớn để hiện đại hoá kết cấu hạ tầng, hiện đại hoá sản xuất, thu hút đợc việc làm cho hàng chục triệu lao động
Theo dự báo của nhà nớc trong kế hoạch 2001 - 2005 nhu cầu về vốn đầu
t lên tới 49- 51 tỷ USD với mức tăng thêm:
Năm 2001: 12 tỷ USD
Năm 2002: 13 tỷ USD
Năm 2003: 15 tỷ USD
Năm 2004: 16 tỷ USD
Năm 2005: 17 tỷ USD
Những con số thống kê ở trên thể hiện nhu cầu về đầu t là: 50% trong nớc
và 50% ngoài nớc Với nhu cầu về vốn đầu t lớn nh vậy, đòi hỏi Ngân hàng Đầu
t và Phát triển Việt Nam phải có một nguồn vốn lớn và cấp bách cho các dự án sắp tới Điều này lại càng khẳng định vai trò quan trọng và cần thiết của công tác thẩm định đầu t tín dụng ngân hàng Để nâng cao hiệu quả của công tác này, phải có những giải pháp thoả đáng để kịp thời giải quyết vấn đề trên
1 Đối với Ngân hàng:
1.1 Hoàn chỉnh về tổ chức bộ máy thẩm định cũng nh việc điều hành và quy chế thẩm định:
Hiện nay khi một dự án xin vay vốn chuyển từ dới các chi nhánh lên Ngân hàng Đầu t và Phát triển Trung Ương (TW) thì việc xem xét, đánh giá dự án là công việc của 3 phòng: Phòng Thẩm định - T vấn đầu t; Phòng nguồn vốn kinh doanh và tiếp thị; Phòng tín dụng, trong đó phòng Thẩm định - T vấn đầu t giữ vai trò chủ chốt và ra quyết định chính
Để cho việc thẩm định dự án thật sự có hiệu quả, đảm bảo khả năng sinh lời và độ an toàn cho đồng vốn, quá trình thẩm định dự án phải đợc chú trọng ở cả 3 phòng trên Sau khi xem xét xong dự án, cả 3 phòng phải có bản báo cáo thẩm định trình lên ban lãnh đạo xem xét giải quyết Thông qua 3 bản báo cáo
Trang 4trên ban lãnh đạo có thể rút ra đợc kết luận chung nhất, đúng đắn nhất về dự án
có khả thi hay không
Qua thực tế của mô hình tổ chức, có thể thấy quy chế điều hành tín dụng của Ngân hàng Đầu t và Phát triển TW đã áp dụng trong thời gian qua cần đợc phát huy:
- Chuyển hẳn hoạt động của bộ máy Ngân hàng Đầu t và Phát triển TW hớng về cơ sở, bám sát cơ sở nhằm phục vụ tốt, chỉ đạo sát trực tuyến, nắm tình hình thông tin và xử lý thông tin, nghiệp vụ nhanh nhạy, tập trung kịp thời
- Hớng hoạt động của bộ máy Ngân hàng Đầu t và Phát triển TW vào việc phục
vụ quản lý các đối tợng: Chi nhánh Ngân hàng đầu t và phát triển các tỉnh, thành phố, các khách hàng lớn và khách hàng chủ yếu của ngân hàng (Các Tổng công
ty Nhà nớc có dự án vay vốn lớn và các tổng công ty xây lắp vay cả vốn đầu t dài hạn, trung hạn, ngắn hạn )
- Thực hiện nguyên tắc mỗi đồng vốn của Ngân hàng Đầu t và Phát triển cho vay
đều có ngời chịu trách nhiệm từ cơ sở đến Ngân hàng Đầu t và Phát triển TW với những giác độ và cấp độ khác nhau, có ngời trực tiếp phục vụ và theo dõi quản lý chịu trách nhiệm tại cơ sở, có ngời gián tiếp phục vụ và theo dõi quản lý chịu trách nhiệm tại Ngân hàng Đầu t và Phát triển TW
Cũng nh cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định tại Ngân hàng Đầu t và Phát triển TW nên phân công quản lý địa bàn và quản lý Tổng công ty
+ Cán bộ quản lý địa bàn: Cần chú trọng việc nắm vững toàn bộ nhiệm vụ, khối
lợng nghiệp vụ của chi nhánh, cũng nh nắm thật vững những khách hàng chủ yếu của chi nhánh Vì vậy khi chi nhánh chuyển dự án xin vay từ dới lên thì trên trung ơng cùng với chi nhánh thẩm tra trình duyệt cho vay và theo dõi thu nợ các
dự án
+ Cán bộ quản lý Tổng công ty: Mỗi cán bộ thuộc nhóm này sẽ thẩm định, trình
duyệt các khoản vay, dự án đầu t (trong và ngoài kế hoạch) của Tổng công ty mình phụ trách, hạn mức tín dụng ngân hàng đối với từng đơn vị thành viên Kiểm tra thực hiện cho vay thu nợ dự án của Tổng công ty Đồng thời thông tin kịp thời về Tổng công ty, quản lý an toàn hệ thống
Trang 5Tính pháp lý, tính đúng dắn, tính chính xác, tính hiện thực phải đợc đặt ra xuyên suốt trong việc thẩm định các khoản vay dự án vay, không chỉ đối với chuyên gia tín dụng, mà cả đối với ngời lãnh đạo trớc khi ra quyết định cuối cùng Mọi việc phán quyết cho vay đều phải qua khâu thẩm định, tuyệt đối cấm việc “khóan trắng“ hoặc hiểu sai lệch lẫn lộn khái niệm “một cửa“ với việc phán quyết cho vay do một cá nhân định đoạt quyết định
Một vấn đề quan trọng nữa để nâng cao chất lợng công tác thẩm định dự
án đầu t đó là việc gắn liền với trách nhiệm của cán bộ thẩm định Ngân hàng nên có những quy định cụ thể về trách nhiệm của mỗi ngời cán bộ thẩm định
tr-ớc những đánh giá của mình đa ra về dự án Làm nh vậy mới nâng cao đợc hiệu quả của công tác thẩm định và công tác thẩm định mới có cơ sở để tin cậy
1.2 Nâng cao trình độ kiến thức của đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định:
Thực tế các ngân hàng hiện nay cán bộ tín dụng chủ yếu chỉ chuyên sâu
về cách tính các chỉ tiêu tài chính, còn việc nghiên cứu thị trờng đánh giá hiệu quả dự án đối với toàn xã hội và đặc biệt là các vấn đề liên quan đến kỹ thuật rất
ít khi đợc đề cập đến Nhng quá trình công tác thẩm định đòi hỏi cán bộ thẩm
định phải vận dụng các kiến thức ở trình độ cao về kinh tế, pháp luật trong và ngoài nớc, về công nghệ kỹ thuật sản xuất kinh doanh, về thông tin thị trờng, kiến thức về quản lý tài chính - tín dụng, ngoại hối và thanh toán quốc tế, hải quan, bảo hiểm, kiểm dịch, giám định có liên quan đến các phơng diện của dự
án Nhng thực tế sẽ không có cán bộ nào đáp ứng đợc đủ những tố chất trên Để
đạt đợc điều này ngân hàng cần có những biện pháp cụ thể:
- Để đảm bảo cho chất lợng của công tác thẩm định ngân hàng cần phải nâng cao trình độ của cán bộ tín dụng kết hợp với việc xin ý kiến của các chuyên gia đối với các vấn đề chuyên môn khó
- Ngân hàng thờng xuyên thực hiện đào tạo và đào tạo lại cán bộ tín dụng, mở các cuộc kiểm tra trình độ cán bộ một cách thờng xuyên, tổ chức các buổi trao đổi kinh nghiệm trong nội bộ ngân hàng và với các ngân hàng bạn, tìm các nguồn tài liệu tham khảo của nớc ngoài
Những vấn đề trên thực sự là cần thiết và cấp bách trong thực tế hiện nay khi mà ngày càng có nhiều dự án đầu t lớn và phức tạp Việc đào tạo cán bộ và
Trang 6nâng cao trình độ cán bộ thẩm định là công việc có thể làm đợc và phải làm th-ờng xuyên
1.3 Hoàn thiện hệ thống văn bản và các chỉ tiêu đánh giá dự án:
Các Ngân hàng đều có ban hành những văn bản hớng dẫn thẩm định các
dự án đầu t trung, dài hạn của ngân hàng, trong các văn bản này nội dung thẩm
định đã đợc trình bày tơng đối đầy đủ, rõ ràng Nhng thực tế, trong báo cáo thẩm
định mà ngân hàng đang làm còn thấy quá sơ sài về việc đánh giá các dự án
Vì vậy việc hoàn thiện, chi tiết hoá những vấn đề cần thiết trong các văn bản hớng dẫn thẩm định cũng nh các báo cáo thẩm định là điều cần thiết Các văn bản hớng dẫn thẩm định có đầy đủ chi tiết thì cán bộ thẩm định mới thực sự
đánh giá đúng đắn chi tiết từng mặt của dự án Báo cáo thẩm định phải đầy đủ thì Ban lãnh đạo mới nắm bắt đợc vấn đề cần xem xét khi phê duyệt cho vay đối với dự án Bên cạnh việc hoàn thiện các văn bản thẩm định, các chỉ tiêu đánh giá
dự án đầu t cũng cần đợc hoàn thiện và lựa chọn khi thẩm định dự án
Trong công tác thẩm định tài chính nên sử dụng các chỉ tiêu có tính đến giá trị của đồng tiền (NPV và IRR) Ta có thể thấy vai trò của các chỉ tiêu đánh giá qua ví dụ sau:
Theo dự án mua thiết bị thi công đờng bộ của công ty vật t thiết bị giao thông mà Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt nam đã xét duyệt cho vay ta có thể
sử dụng chỉ tiêu NPV để đánh giá dự án nh sau:
- Tính NPV của dự án:
1999 2000 2001 2002 2003 2004 Chi phí hàng năm (triệu đồng) 1500 1500 1500 1500 1500 t Lợi nhuận thuần (triệu đồng)
Đơn vị: triệu đồng
Trang 7L nhuận thuần 257 257 257 257 257
Giá trị hiện tại ròng của dự án (NPV ) đợc xác định:
-1500 + 257 + 257 + 257 + 257 + 1757
NPV =
(1+0,1) (1+0,1) 2 (1+0,1) 3 (1+0,1) 4 (1+0,1) 5
=-1.500 + 233,6 + 212,4 + 193,1 + 175,5 + 1.091
=405,5>0
(Với lãi suất chiết khấu r=0,1)
Nh vậy: dự án trên có NPV >0 nghĩa là dự án tạo ra nhiều tiền hơn lợng cần thiết
để trả nợ và cung cấp một lãi suất yêu cầu cho chủ đầu t Số tiền vợt quá đó thuộc về chủ đầu t Ngân hàng có thể cho vay vì dự án không chỉ trả đợc nợ mà còn mang lại lợi nhuận cho chủ dự án
Khi xem xét một dự án thì nếu chỉ tiêu NPV > 0 hoặc có IRR > r : chi phí của vốn đợc sử dụng để tài trợ cho dự án thì dự án sẽđợc chấp nhận
Nếu xét 2 dự án loại trừ nhau thì nên dùng chỉ tiêu NPV, điều này có thể
lý giải qua đồ thị sau:
400
NPV dự án B
300
NPV dự án A
IRRA= 15% 7,5% IRRB = 12% r (%) Với chi phí vốn r = 7,5% hai dự án A và B cho cùng kết quả NPV (NPVA = NPVB ) Nếu A và B là 2 dự án độc lập thì tiêu chuẩn tính NPV và IRR luôn đa
ra cùng một kết luận Tuy nhiên đây là 2 dự án loại trừ nhau nên chúng ta có thể chọn 1 trong 2
Theo đồ thị ta thấy nếu chi phí vốn r > 7,5% thì NPVA > NPVB đồng thời IRRA > IRRB Do đó với r > 7,5% 2 phơng pháp sẽ cho cùng một kết luận về việc lựa chọn dự án Tuy nhiên với r < 7,5% thì phơng pháp tính NPV xếp hạng
Trang 8dự án B trớc trong khi phơng pháp tính IRR xếp hạng dự án A cao hơn Logic gợi ý rằng phơng pháp tính NPV thích hợp hơn vì nó chọn dự án nào làm tối đa
sự giàu có của ngời chủ sở hữu của Công ty
Hiện nay, khi xét duyệt thẩm định dự án đầu t tại Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam, cán bộ thẩm định hầu nh không dùng đến chỉ tiêu NPV để đánh gía Trong khi chỉ tiêu NPV phản ánh đợc chi phí cho dự án, lợi nhuận thu đợc của dự án quy về giá trị hiện tại cần xem xét để so sánh đánh giá Vì vậy, việc dùng chỉ tiêu NPV để đánh giá dự án là hết sức quan trọng và cần thiết
Nếu cán bộ thẩm định chỉ chú trọng đến chỉ tiêu thời gian trả nợ của dự án
nh hiện nay, không xem xét đánh gía đợc toàn diện dự án Hơn nữa, mục tiêu của Ngân hàng không chỉ là cho vay sao thu hồi đợc vốn mà còn phải thu đợc một khoản lãi của số vốn đã bỏ ra và độ an toàn của đồng vốn cho vay đó
Do đó, dùng chỉ tiêu NPV không xem xét tính khả thi của từng dự án cụ thể mà còn có sự so sánh các dự án với nhau, để Ngân hàng quyết định đầu t vào
đầu thì an toàn và đạt kết quả nhất
1.4 Đổi mới hoàn thiện quá trình thu thập thông tin và xử lý thông tin :
Một trong những yêu cầu của công tác thẩm định nhằm tiếp cận khả năng trả nợ và bảo đảm an toàn vốn vay là phải có đầy đủ thông tin về đơn vị xin vay vốn Nguyên nhân của hiệu quả công tác thẩm định dự án đầu t cha cao là do yếu
tố này quyết định Hiện nay, nguồn thông tin duy nhất mà ngân hàng có đợc là
do khách hàng cung cấp nhng nguồn này lại không chính xác
Do đó ngân hàng có thể lấy thông tin bằng cách:
- Phỏng vấn trực tiếp ngời xin vay và điều tra trực tiếp cơ sở sản xuất kinh doanh Khi phỏng vấn phải biết làm rõ những thông tin về: mục đích, yêu cầu vay vốn, tính chân thật và khả năng trả nợ của ngời vay, vị thế của doanh nghiệp trên thị trờng
- Tiến hành thu thập thông tin từ những nguồn từ bên ngoài do bộ phận thông tin phòng ngừa rủi ro cung cấp; sử dụng thông tin từ việc điều tra trực tiếp các đơn
vị có liên quan trong hoạt động của doanh nghiệp
Trang 9 Ngân hàng nên thiết lập mối quan hệ với khách hàng lâu dài thì chi phí tập hợp thông tin và xử lý thông tin để đa ra các kết luận cho vay chính xác sẽ giảm
Khi thông tin thu đợc, Ngân hàng phải có cách xử lý kịp thời, đúng
đắn Điều này đòi hỏi ngân hàng phải hiểu rõ hiểu đúng việc sử dụng phơng pháp hiện đại thẩm định dự án
Tóm lại thông tin là vấn đề sống còn của hiệu quả công tác thẩm định Nâng cao chất lợng thẩm định không thể tách rời với việc nâng cao chất lợng thông tin Do đó cán bộ tín dụng phải triệt để tận dụng các nguồn có khả năng cung cấp
- Hệ thống lu trữ thông tin, dữ liệu rời rạc, thông tin thiếu độ tin cậy, không đủ
độ nóng, làm cho công tác thẩm định tín dụng nhiều khi thiếu chính xác
- Cần xây dựng một hệ thống thông tin dữ liệu đầy đủ, chi tiết, chính xác với độ tin cậy cao, đủ độ nóng để phục vụ cho công tác thẩm định nói riêng và các công việc của Ngân hàng nói chung
- Việc xây dựng hệ thống lu trữ thông tin dữ liệu có thể dựa trên cơ sở thông tin dữ liệu sẵn có hiện nay của Ngân hàng
- ở nội bộ Ngân hàng để xây dựng một hệ thống thông tin tín dụng hoàn hảo bằng cách tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vi tính để phân tích dự
án, đặc biệt là sự lu trữ các thông tin kinh tế kỹ thuật của các công trình xây dựng cơ bản trong cả nớc tại phòng thẩm định của Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam Với mục đích để thông qua mạng vi tính các Ngân hàng cơ sở có thể khai thác những dữ liệu cần thiết mà trong phạm vi một Ngân hàng địa phơng khó có thể cập nhật đợc
2 Một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nớc:
2.1 Đối với Nhà nớc:
2.1.1 - Việc thiết lập một hệ thống chính sách vĩ mô đầy đủ, đồng bộ và hợp lý đi
đôi với khung pháp luật hoạt động hiệu quả là vấn đề đầu tiên và cần giải quyết:
Cùng với hớng phát triển của nền kinh tế và khu vực, Việt Nam có nhu cầu lớn về đầu t, cả về đầu t cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng lẫn đầu t cho các
dự án khác Bên cạnh một số dự án do Nhà nớc đảm nhiệm còn các dự án khác thì luôn đặt ra vấn đề: Nguồn đầu t ở đâu? Khu vực kinh tế t nhân đang gặp khó khăn khi đầu t ở các khâu bởi các quy chế, các đòi hỏi có liên quan đến cơ chế
Trang 10giấy phép Đầu t nớc ngoài cũng gặp khó khăn về việc phân biệt với đầu t trong nớc
Việc có quá nhiều quy chế cũng nh việc để các quan chức địa phơng tùy tiện áp dụng các quy chế không những tạo cơ hội tham nhũng rộng khắp mà còn gây trở ngại cho việc tăng đầu t Những quy định, những điều khoản mập mờ cũng tạo cho cán bộ tín dụng rất khó khăn trong việc đánh giá tính pháp lý của
hồ sơ xin vay Điều này dẫn đến nạn tham nhũng, ô dù khi một số dự án t nhân không đủ giấy tờ thì một số khác do quen biết lại xin đợc các chứng nhận cần thiết rõ ràng Vì vậy cán bộ thẩm định mà chỉ nhìn vào con dấu và chữ ký thôi, thì có thể sẽ đa ra những kết luận sai lầm
Mặc dù trên danh nghĩa các thành phần kinh tế đợc bình đẳng nh nhau
nh-ng thực tế các quy chế đuực đa ra lại tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp quốc doanh trong khi các doanh nghiệp t nhân và nớc ngoài vẫn còn bị phân biệt đối xử Điều này làm cho doanh nghiệp quốc doanh không phát huy hết nỗ lực khả năng của mình để cải tiến sản xuất cũng nh cơ cấu hoạt động
Môi trờng kinh doanh bất bình đẳng cũng ảnh hởng không nhỏ đến hiệu quả công tác thẩm định dự án đầu t bởi nó tạo ra tâm lý thiên vị cho các doanh nghiệp quốc doanh của cán bộ tín dụng Đôi khi các doanh nghiệp có làm ăn thua lỗ thì vẫn có thể tìm đến các thể chế chính trị xin tự cấp để tiếp tục hoạt
động hay trả nợ ngân hàng Nh vậy một cách gián tiếp cán bộ tín dụng đã bỏ qua những dự án có khả năng sinh lời cao hơn cuả các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và vì thế nguồn vốn đã bị sử dụng lãng phí
Để giảm đợc tình hình trên, Nhà nớc cần xem xét lại các quy chế chính sách của mình tạo cho đợc môi trờng kinh doanh bình đẳng đó là “ sân chơi
đồng nhất “ Bên cạnh đó Việt Nam còn cần một hệ thống cơ chế chính sách ổn
định, một mặt tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hiện có hoạt động một mặt thu hút thêm vốn đầu t trong nớc cũng nh từ nớc ngoài Nhất là trong điều kiện nền kinh tế nớc ta hiện nay rất cần các dự án lớn có thời hạn dài để phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc, do đó việc ổn định về cơ chế chính sách cho đầu t là vấn đề hàng đầu cần đợc quan tâm