TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH CÂU TƯỜNG THUẬT TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÀN (xét trên bình diện cấu trúc) BIÊN HÒA, THÁNG 8/2022 TRƯỜNG[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH CÂU TƯỜNG THUẬT TRONG
TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÀN (xét trên bình diện cấu trúc)
BIÊN HÒA, THÁNG 8/2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH CÂU TƯỜNG THUẬT TRONG
TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÀN (xét trên bình diện cấu trúc)
BIÊN HÒA, THÁNG 8/2022
Trang 3Trước tiên, để ngày hôm nay có cơ hội thực hiện bài nghiên cứu này em chân thành cảm
ơn ban giám hiệu trường Đại học Lạc Hồng, mặc dù đại dịch covid đã gây ra nhiều khó khăn nhưng nhà trường vẫn tạo điều kiện học tập tốt cho chúng em trong suốt 4 năm qua.
Tiếp đó, em xin cảm ơn quý thầy cô khoa Đông Phương, quý thầy cô ngành Hàn Quốc học đã truyền đạt cho em nhiều kiến thức chuyên ngành cũng như kiến thức hữu ích trong cuộc sống Hơn nữa, xin cảm ơn thầy cô đã dành thời gian hướng dẫn, hỗ trợ em trong quá trình học tập, thực tập và tốt nghiệp.
Ngoài ra, để hoàn thành được nghiên cứu này em xin chân thành cảm ơn cô Hoàng Thị Trang, giảng viên ngành Hàn Quốc Học tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Cảm ơn cô đã dành nhiều thời gian, tâm sức, định hướng, hướng dẫn và góp ý để em có thể hoàn thành được nghiên cứu một cách tốt nhất.
Lời cuối cùng em xin kính chúc ban giám hiệu trường Đại học Lạc Hồng, quý thầy cô khoa Đông Phương, cũng như quý thầy cô ngành Hàn Quốc học và cô luôn mạnh khỏe, thành công trong việc giảng dạy.
Sinh viên thực hiện
Trang 4PHẦN DẪN LUẬN 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu và nguồn tài liệu 4
6 Bố cục 5
PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CÂU TƯỜNG THUẬT TRONG TIẾNG VIỆT 7
1.1 Khái niệm và phân loại câu tường thuật trong tiếng Việt 7
1.1.1 Khái niệm câu tường thuật trong tiếng Việt 7
1.1.1.1 Khái niệm và phân loại câu 7
1.1.1.2 Khái niệm câu tường thuật 8
1.1.2 Phân loại câu tường thuật trong tiếng Việt 9
1.1.2.1 Câu tường thuật khẳng định 9
1.1.2.2 Câu tường thuật phủ định 11
1.2 Đặc trưng của câu tường thuật trong tiếng Việt 13
1.3 Cấu trúc câu tường thuật trong tiéng Việt 16
1.3.1 Cấu trúc câu trong tiếng Việt 16
1.3.2 Cấu trúc câu tường thuật 16
Kết luận chương 1: 21
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT CÂU TƯỜNG THUẬT TRONG TIẾNG HÀN 22
2.1 Khái niệm câu tường thuật trong tiếng Hàn 22
2.1.1 Khái niệm câu 22
2.1.2 Khái niệm câu tường thuật 22
2.2 Phân loại và đặc trưng câu tường thuật trong tiếng Hàn 24
2.2.1 Phân loại câu tường thuật trong tiếng Hàn 24
2.2.1.1 Thể 하십시오-thể kính ngữ cao nhất 25
2.2.1.2 Thể 하오-thể kính ngữ bình thường 26
Trang 52.2.1.4 Thể 해라-thể kính ngữ hạ thấp đối phương 27
2.2.1.5 Thể 해-thể kính ngữ không đề cao đối phương 28
2.2.1.6 Thể 해요-thể đề cao đối phương ở mức thông thường 28
2.2.2 Đặc trưng câu tường thuật trong tiếng Hàn 29
2.3 Cấu trúc câu tường thuật trong tiếng Hàn 30
2.3.1 Thể 하십시오 30
2.3.2 Thể 해요 32
Kết luận chương 2 37
CHƯƠNG 3 SO SÁNH CÂU TƯỜNG THUẬT TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT 38
3.1 Điểm tương đồng 39
3.2 Điểm khác biệt 42
Kết luận chương 3 47
KẾT LUẬN 48
TÓM TẮT BẰNG TIẾNG CHUYÊN NGÀNH 50
Trang 6Số hiệu bảng Tên bảng Trang
<Bảng 1.1> Cấu tạo ngữ pháp của câu khẳng định 10
<Bảng 3.1> “<표 6> 한국어와 베트남어 문장 유형 대조표” 38
<Bảng 3.2> <Bảng 6>: Bảng đối chiếu kiểu câu tiếng Hàn và tiếng Việt 39
<Bảng 3.3> Bảng đối chiếu câu tường thuật trong tiếng Việt và tiếng Hàn 45 ~ 46
Trang 7PHẦN DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Theo như nghiên cứu của các nhà khoa học, lời nói tức ngôn ngữ đã được hình thànhcách đây hơn 35.000 năm Như chúng ta đã biết, từ sự ra đời của những ngôn ngữ sơkhai thời bấy giờ, thì dần dần ngôn ngữ đã được con người phát triển thành hệ thốngphức tạp như ngày nay Với sự đa dạng của ngôn ngữ, thì việc trao đổi học tập, tìm hiểungôn ngữ trở thành yếu tố quan trọng trong xã hội toàn cầu hóa Vì vậy ngày nay, ngônngữ học đã được nhiều sinh viên lựa chọn trở thành chuyên ngành học và gắn bó lâu dài.Trong khi những ngôn ngữ như Anh, Pháp, Trung Quốc đã được phổ biến từ trước, thìhiện nay, khi trào lưu Hallyu (Hàn Lưu) đang du nhập vào nhiều quốc gia trên thế giới,theo đó ngôn ngữ Hàn Quốc đang dần chiếm được nhiều ưu thế hơn so với các ngônngữ khác Và ngôn ngữ Hàn đang trở thành chuyên ngành được nhiều bạn sinh viên ưutiên chọn học và gắn bó lâu dài
Trong đa số các ngôn ngữ trên toàn thế giới, ngữ pháp được định nghĩa là một hệthống các quy tắc tiềm ẩn bắt buộc để hình thành nên một ngôn ngữ Vì vậy việc học vàtìm hiểu một ngôn ngữ, thì cấu trúc ngữ pháp đóng vai trò vô cùng quan trọng Điều nàycũng tương đương trong ngôn ngữ Hàn, việc nắm rõ ngữ pháp trong quá trình học và sửdụng tiếng Hàn là nhiệm vụ bắt buộc mà sinh viên ngành ngôn ngữ này cần phải có Cóthể thấy trong các ngữ pháp từ sơ cấp đến cao cấp trong tiếng Hàn, có rất nhiều cấu trúccần được các bạn sinh viên nắm chắc Đặc biệt trong đó, cấu trúc câu tường thuật đượcxem là cấu trúc phổ biến và rất quan trọng trong tiếng Hàn
Ngoài ra, trong suốt quá trình tham gia học tập, tìm hiểu về ngôn ngữ Hàn Quốc suốthơn 3 năm tại ngành Hàn Quốc học, trường Đại học Lạc Hồng, người nghiên cứu nhậnthấy cấu trúc câu tường thuật là cấu trúc được sử dụng thường xuyên trong tiếng Hàn.Ngoài ra, trong công việc thông dịch, cấu trúc câu tường thuật được sử dụng rất nhiều
để truyền đạt qua lại lời nói giữa người Hàn và người Việt Về cơ bản có thể thấy đây làmột cấu trúc tương đối đơn giản, nhưng khi trực tiếp sử dụng câu tường thuật trong họctập cũng như trong công việc thì nhiều sinh viên vẫn còn gặp nhiều khó khăn và sai xót
Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu về cấu trúc câu tường thuậttrong tiếng Hàn, từ đó giúp sinh viên ngành Hàn Quốc có thể khắc phục những khókhăn khi sử dụng câu tường thuật
Trang 82 Mục đích nghiên cứu
Hiện tại, ở Việt Nam các đề tài nghiên cứu về câu tường thuật trong tiếng Hàn chưađược phổ biến Vì vậy, việc tìm hiểu và mô tả câu tường thuật là một trong những điềuquan trọng cần làm rõ, nhằm mục đích giúp người học, cũng như người sử dụng tiếngHàn có cái nhìn tổng quát, logic về câu tường thuật trong tiếng Hàn Nghiên cứu nàynhư một nguồn cung cấp thông tin tổng hợp, ngắn gọn và cụ thể về câu tường thuật,dành cho những người tìm hiểu tiếng Hàn nói chung và những người có quan tâm vềcâu tường thuật trong tiếng Hàn nói riêng
Đồng thời, thông qua nghiên cứu, việc sử dụng câu tường thuật bằng tiếng Hàn sẽkhông còn là vấn đề khó khăn, mà ngược lại, nó sẽ trở thành công cụ hữu ích cho ngườihọc tiếng Hàn nói chung và sinh viên ngành Hàn Quốc tại Đại học Lạc Hồng nói riêng
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ lâu, cấu trúc câu trong các nghiên cứu ngôn ngữ học tại Việt Nam đã nhận đượcnhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ Trong đó, câu tường thuật cũng được nhiềunhà ngôn ngữ học quan tâm trong các nghiên cứu về cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt Tuynhiên, trong các nghiên cứu này, các nhà ngôn ngữ học chỉ đề cập đến câu tường thuậtnhư một phần phụ nhằm làm sáng tỏ cấu trúc câu nói chung trong tiếng Việt Nổi bậttrong số đó là các nghiên cứu về câu tường thuật nằm trong câu được phân loại theomục đích nói
Trong các quyển sách ngữ pháp tiếng Việt, các tác giả chỉ giới thiệu khái quát về câutường thuật Có thể thấy như trong quyển “Ngữ pháp tiếng Việt, 2015” của tác giả DiệpQuang Ban, cấu trúc câu tường thuật được tác giả khai thác nhằm làm rõ các loại câutrong tiếng Việt Cụ thể hơn thì câu tường thuật ở đây được tác giả giới thiệu sơ lượcnhằm làm rõ cho các loại câu được phân loại theo mục đích nói Tương tự, quyển
“Nghiên cứu về ngữ pháp Tiếng Việt, 1997” của tác giả Nguyễn Kim Thản, cũng đãkhái quát về câu tường thuật chỉ để làm rõ các loại câu trong tiếng Việt Các khái niệm
và phân loại câu tường thuật chỉ được giới thiệu sơ lược, chưa đi sâu vào phân tích vàcấu trúc là mặt hạn chế mà cả các tác giả đều chưa đề cập đến
Nổi bật nhất về mặt cấu trúc câu tường thuật có lẽ là trong quyển “Tiếng Việt sơ thảongữ pháp và chức năng, 2004”, tác giả Cao Xuân Hạo đã nêu cấu trúc tường thuật Tuynhiên, mục đích tác giả hướng đến trong sách là làm rõ cấu trúc Đề - Thuyết theo
Trang 9phương diện cấu trúc câu tường thuật, nên thực chất cấu trúc câu tường thuật vẫn chưađược tác giả khai thác cụ thể.
Cũng như sách về câu tường thuật, các luận văn, nghiên cứu khoa học về câu tườngthuật còn khá ít Tiêu biểu có luận văn thạc sĩ “Câu trần thuật khẳng định và phủ địnhtrong tiếng Việt và tiếng Anh (bình diện dụng học), 2006” của Thạc sĩ Nguyễn TuyếtMai, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố HồChí Minh Trong luận văn này, thạc sĩ đã có giới thiệu về khái niệm, phân loại và cấutrúc câu trần thuật Tuy nhiên, luận văn chỉ giới hạn câu trần thuật trong tiếng Việt vàtiếng Anh, cho nên tiếng Hàn hoàn toàn không được đề cập đến trong luận văn này.Ngoài ra cũng có luận văn của tiến sĩ Tô Minh Thanh “Cấu trúc câu trần thuật trongtiếng Việt và tiếng Anh (theo chức năng tiếp cận), 2005”, tuy nhiên tương tự như quyển
“Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp và chức năng, 2004” của tác giả Cao Xuân Hạo, luận vănchỉ đề cập đến cấu trúc câu trần thuật dựa theo cấu trúc Đề - Thuyết Về mặt mở rộngngôn ngữ, luận văn chọn tiếng Anh làm đối tượng so sánh
Về lịch sử nghiên cứu tại Hàn Quốc, bởi vì các nguồn tài liệu còn hạn chế nên tiêubiểu nhất có thể kể đến là quyển “한국어의 문장 유형과 용법, 2011” – “Loại câu vàcách sử dụng tiếng Hàn, 2011” của tác giả Lim Dong-hoon hay trong quyển “한국어 표
준 문 법, 2018” – “Ngữ pháp tiếng Hàn tiêu chuẩn, 2018”, của nhóm tác giả YooHyung-kyung, thì câu tường thuật cũng đã được định nghĩa và phân loại chi tiết
Về luận văn, tiêu biểu có luận văn bằng tiếng Hàn của Thạc sĩ Đỗ Mai Trường Ca,
“한국어와 베트남어의 문장구성 대조연구, 2019” – “Nghiên cứu đối chiếu cấu tạocâu của tiếng Hàn và tiếng Việt, 2019”, trong nghiên cứu tác giả có đề cập đến địnhnghĩa câu tường thuật và so sánh đối chiếu vị trí của thành phần câu tường thuật trongtiếng Hàn và tiếng Việt
Từ những lịch sử nghiên cứu trên, chúng ta có thể thấy cấu trúc câu tường thuật đãsớm trở thành đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, để đi sâu và nghiên cứu phân tích cấutrúc thì còn khá ít nghiên cứu đề cập đến
Trong nghiên cứu này, cấu trúc câu tường thuật tiếng Việt sẽ được tổng hợp cụ thể từcác nghiên cứu trước đó nhằm giúp những người quan tâm đến câu tường thuật có thểtổng hợp lại toàn bộ kiến thức về loại câu này Hơn nữa, nghiên cứu tập trung phân tíchtổng hợp câu tường thuật trong tiếng Hàn, nhằm tổng hợp toàn bộ lại khái niệm, phân
Trang 10loại, đặc trưng và cấu trúc của câu tường thuật trong tiếng Hàn Về mặt ngôn ngữ đốichiếu, tiếng Hàn được sử dụng để đối chiếu trong nghiên cứu.
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp trọng tâm trong nghiên cứu là phân tích và tổng hợp, phương pháp này
sử dụng tập trung tại chương 1 và chương 2:
Tại chương 1, phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích và tổng hợp giúp chongười đọc có thể hiểu rõ về khái niệm, phân loại, đặc trưng và cấu trúc của đối tượngnghiên cứu trong tiếng Việt
Tại chương 2, người nghiên cứu sẽ phân tích khái niệm, phân loại cũng như đặc trưngcủa đối tượng nghiên trong tiếng Hàn Và đặc biệt, tại mục 3 ở chương 2, phương phápnghiên cứu được sử dụng tập trung để phân tích chuyên sâu cấu trúc tường thuật trongtiếng Hàn nhằm giúp người đọc, hơn nữa là sinh viên chuyên ngành Hàn Quốc học nắmbắt rõ câu tường thuật
Ngoài ra, phương pháp so sánh cũng được áp dụng mở rộng trong nghiên cứu tạichương 3 Tại chương 3 có sự so sánh đối chiếu đối tượng nghiên cứu trong hai ngônngữ Việt – Hàn Thông qua đó, có thể thấy được sự tương đồng cũng như điểm khácbiệt của đối tượng nghiên cứu ở hai ngôn ngữ
5 Phạm vi nghiên cứu và nguồn tài liệu
Phạm vi nghiên cứu:
Trước hết về đề tài, “PHÂN TÍCH CẤU TRÚC CÂU TƯỜNG THUẬT TRONGTIẾNG HÀN”, đã có thể thấy rõ nghiên cứu thực hiện trong phạm vi ngôn ngữ HànQuốc Tuy nhiên đây là nghiên cứu hướng đến đối tượng sinh viên tại Việt Nam, nênphạm vi ngôn ngữ sẽ được mở rộng đến tiếng Việt
Về đối tượng nghiên cứu của nghiên cứu là câu tường thuật trong tiếng Việt và câutường thuật trong tiếng Hàn Vì trong tiếng Hàn câu tường thuật được phổ biến bởi haidạng là văn nói và văn viết, tuy nhiên phạm vi đối tượng trong nghiên cứu chỉ giới hạntrong câu tường thuật ở dạng văn nói
Trang 11Về phạm vi không gian: nghiên cứu được giới hạn trong các sách và các nghiên cứu
về câu tường thuật tại Việt Nam và Hàn Quốc
Nguồn tài liệu:
Các tài liệu bằng tiếng Việt được thu thập dựa trên các bài luận văn thạc sĩ, tiến sĩngôn ngữ học và từ sách của các tác giả ngành ngôn ngữ học
Ngoài ra, nguồn tài liệu tiếng Việt được lấy từ:
1 Thư viện trường Đại học Lạc Hồng
2 Cơ sở dữ liệu, lý luận ngôn ngữ học của trường Đại học Khoa học Xã hội vàNhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
3 Thư viện số tài liệu nội sinh, lý luận cơ sở ngôn ngữ học của Đại học Quốc gia
1 RISS – 한국교육학술정보원 ( Viện thông tin học thuật giáo dục Hàn Quốc)
2 KISS – 한국학술정보 ( Thông tin học thuật Hàn Quốc)
3 “국립국어원 표준국어대사전” – “Từ điển Quốc ngữ tiêu chuẩn của Viện ngônngữ Quốc gia”
4 Naver – “국어사전” (Từ điển Quốc ngữ)
6 Bố cục
Không thuộc về chính văn của nghiên cứu là: Lời cảm ơn (1 trang), Mục lục (2 trang),Danh mục các bảng (1 trang), Tài liệu tham khảo (2 trang), còn lại là phần chính văncủa nghiên cứu gồm (52 trang)
Nghiên cứu được hình thành dựa trên 3 chương chính:
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CÂU TƯỜNG THUẬT TRONG TIẾNG VIỆT
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT CÂU TƯỜNG THUẬT TRONG TIẾNG HÀN
Trang 12CHƯƠNG 3: SO SÁNH CÂU TƯỜNG THUẬT TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆTTại chương 1 (15 trang), nhằm giúp người đọc có thể nắm rõ câu tường thuật trongtiếng Việt, khái niệm, phân loại, đặc trưng và cấu trúc của câu tường thuật trong tiếngViệt sẽ được trình bày rõ ràng cụ thể trong 3 mục nhỏ.
Tương tự, tại chương 2 (16 trang), câu tường thuật trong tiếng Hàn cũng được làm rõbằng 3 mục là khái niệm, phân loại, đặc trưng và cấu trúc
Tại chương 3 (10 trang), câu tường thuật trong tiếng Việt và tiếng Hàn sẽ trở thànhđối tượng so sánh nhằm làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt của hai đối tượng
so sánh
Ngoài 3 chương chính với các nội dung chủ chốt thì nghiên cứu còn có: Phần dẫnluận (6 trang), Kết luận (2 trang) và Tóm tắt bằng tiếng chuyên ngành (3 trang)
Trang 13PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CÂU TƯỜNG THUẬT TRONG TIẾNG VIỆT
1.1 Khái niệm và phân loại câu tường thuật trong tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm câu tường thuật trong tiếng Việt
1.1.1.1 Khái niệm và phân loại câu
Từ những thế kỉ III - II trước Công nguyên, học phái ngữ pháp Alêcxangđria đã có
định nghĩa về câu như sau: “Câu là sự tổng hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn
vẹn” Định nghĩa này cho đến ngày nay vẫn được sử dụng rất phổ biến Tuy nhiên đến
hiện tại, theo nghiên cứu khoa học, có rất nhiều định nghĩa về câu mà chúng ta không
dễ dàng gì có thể thống kê lại Định nghĩa về câu ngày nay thường được hình thành dựatrên 4 yếu tố: “hình thức, nội dung, chức năng và lĩnh vực nghiên cứu” (x.Diệp QuangBan 2015, tr 106)
Dựa trên 4 yếu tố này tác giả Diệp Quang Ban (2015) đã có định nghĩa về câu trongquyển Ngữ pháp tiếng Việt như sau:
Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài)
tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩ tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ (Diệp Quang Ban 2015, tr.106)
Về việc phân loại câu trong tiếng Việt rất phức tạp và theo từng quan niệm khác nhau
sẽ có cách phân loại khác nhau
Tác giả (Diệp Quang Ban, 2015), đã phân loại câu theo 3 mặt như sau: Cấu tạo ngữpháp, tác dụng giao tiếp cơ bản và mục đích nói của câu và cấu tạo dạng phủ định củacâu
Trong khi đó, tác giả (Nguyễn Kim Thản, 1977) lại phân loại câu thành hai loại: kếtcấu ngữ pháp và theo mục đích nói
Trong đó câu được phân loại theo mục đích nói của câu (mục đích phát ngôn), sẽđược tiếp tục phân loại như sau: câu tường thuật (câu kể, câu trần thuật), câu nghi vấn,câu cầu khiến, câu mệnh lệnh, câu cảm thán
Trang 14Tuy nhiên trong giới hạn của nghiên cứu này, chúng ta chỉ tìm hiểu chuyên sâu vềcâu tường thuật (câu kể, câu trần thuật) thông qua những phân tích về khái niệm, phânloại, đặc trưng và cấu trúc dưới đây.
1.1.1.2 Khái niệm câu tường thuật
Một số tác giả nhận định câu tường thuật thông qua những định nghĩa như sau:
“Câu tường thuật được dùng để kể, xác nhận (là có hay không có), mô tả một vật với các đặc trưng (hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ) của nó, hoặc một sự kiện với các chi tiết nào đó Nó là hình thức biểu hiện thông thường của một phán đoán tuy rằng không phải câu nào cũng có nội dung là một phán đoán.” (Diệp Quang Ban, 2015
tr.225)
Hay tác giả (Hoàng Trọng Phiến 1980) có định nghĩa về câu kể như sau:
“Nội dung cơ bản của câu là nêu lên, nói về các sự kiện, các hiện tượng, các tình trạng hoặc hành động Các ý kiến nêu lên không đòi hỏi người nghe đáp lại mà để người nghe biết và đồng tình hoặc tư duy cùng với mình.” (Hoàng Trọng Phiến 1980,
tr.269)
“Nhằm mục đích kể về hoạt động, trạng thái, tính chất hay chủng loại của đối tượng, câu tường thuật là hình thức biểu hiện thông thường nhất của phán đoán và được dùng rộng rãi nhất Mục đích của câu tường thuật có liên quan với loại hình kết cấu của câu
và ngược lại Câu tường thuật về chủng loại thường có vị ngữ do thể từ đảm nhiệm; những câu khác thường có vị ngữ do vị từ đảm nhiệm Nhờ có hệ thống trợ từ rất phong phú, câu tường thuật trong tiếng Việt có nhiều phương tiện biểu thị sắc thái tình cảm hay thái độ, v.v ” (Nguyễn Kim Thản 1997, tr.595)
Hay trong sách “Ngữ pháp tiếng Việt”, tác giả Đỗ Thị Kim Liên đã cho rằng “Câu
trần thuật dùng để xác nhận về sự tồn tại của sự vật hay các đặc trưng, hoạt động, trạng thái của sự vật.
Đây là loại câi được dùng rộng rãi nhất Về hình thức biểu hiện, loại này thường có ngữ điệu kết thúc câu đi xuống, trên chữ viết có dấu chấm (.) Về nội dung, có thể có hai nhóm: câu tường thuật khẳng định và câu tường thuật phủ định.” (Đỗ Thị Kim Liên
1999, tr131.)
Từ những định nghĩa trên của các tác giả về câu tường thuật (câu kể, câu trần thuật),
ta có đúc kết như sau: Câu tường thuật (câu kể, câu trần thuật), là loại câu phổ biến và
được dùng để kể, xác nhận hoặc mô tả chi tiết cho người nghe biết về một sự vật, hiện
Trang 15tượng, đối tượng nào đó mà không cần người nghe phải đáp lại Câu tường thuật là phương tiện phổ biến nhất và cơ bản nhất để thể hiện tư duy trong giao tiếp Về phân loại có thể chia làm hai loại chính: câu tường thuật phủ định và câu tường thuật khẳng định.
Ví dụ:
- (1a) Lúc bấy giờ trời đầy mù từ ngoài biển bay vào (Nguyễn Minh Châu 1985)
- (1b) Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõngnước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi (Tô Hoài,1952)
1.1.2 Phân loại câu tường thuật trong tiếng Việt
Căn cứ vào sách nghiên cứu về câu tường thuật của các tác giả như: Hoàng TrọngPhiến, Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban thì câu tường thuật được chia thành hai loại:câu tường thuật khẳng định và câu tường thuật phủ định
1.1.2.1 Câu tường thuật khẳng định
Câu tường thuật khẳng định nhằm khẳng định sự vật, hiện tượng, đối tượng là có tồntại Về mặt hình thức, những câu nói bình thường không có ý nghĩa phủ định chính lànhững câu khẳng định và không chứa các từ phủ định như: không, chưa, chẳng, chẳng phải, Trong câu khẳng định thường có các từ nhấn mạnh khẳng định như: có, khẳng định, cũng, thì, là, cái này, tin chắc, chắc chắn,
Ví dụ:
- (2a) Tôi chắc chắn lần này tôi sẽ thành công.
- (2b) Thằng bé Heng lớn lên cũng ít nói như những người dân làng Xô-man này.
(Nguyễn Trung Thành 1965)
Từ những ví dụ trên, câu tường thuật với mục đích kể về sự vật, hiện tượng, conngười, nhưng không chứa bất kì yếu tố, từ ngữ phủ định nào, thì đó chính là câu tườngthuật khẳng định
Trang 16Tuy nhiên, cũng tồn tại những dạng câu khẳng định nhưng chứa yếu tố phủ định Tácgiả (Hoàng Trọng Phiến 1980) đã đề cập đến cấu tạo ngữ pháp của câu khẳng địnhtrong quyển Ngữ pháp tiếng Việt thông qua bảng dưới đây:
<Bảng 1.1>: Cấu tạo ngữ pháp của câu khẳng định
Ví dụ:
- (3a) Anh ấy nóikhông thể không đến đây → Anh ấy nói nhất định đến đây.
- (3b) Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương (Nguyễn
Trung Thành 1965) → cả rừng xà nu hàng vạn cây, cây nào cũng bị thương
Thông qua ví dụ (3a) và (3b), chúng ta có thể thấy trong câu chứa yếu tố phủ định,tuy nhiên, nghĩa của câu lại là câu khẳng định Với cấu trúc này, phương pháp “phủđịnh của phủ định” đã giúp cho câu tồn tại dưới dạng khẳng định nhưng ở mức độ caohơn Hơn nữa, đối tượng trong câu cũng được nhấn mạnh nhiều hơn
Trong ngôn ngữ nói hàng ngày, câu khẳng định còn chứa các trợ từ nhấn mạnh như:
đây, đấy, ấy, vậy, đấy à,
Ví dụ:
- (4a) Ngày mai là đám cưới của cô ấy rồiđấy.
- (4b) Thầy giáo bảo học bài ngày mai kiểm traấy.
Ngoài ra, có loại câu khẳng định chứa các từ như:không, chẳng, không phải, chẳng phải
Ví dụ:
- (5a)Chẳng rành rành ra trước mắt rồi còn gì → (Rành rành ra trước mắt).
C
không thể khôngkhông khỏi khôngkhông phải là không
V
không C
không phải C
khôngkhông
VV
Trang 17- (5b) Mặc như thế chẳng phải là đẹp hơn nhiều hay sao → (Mặc như thế đẹp
hơn nhiều)
Tóm lại, câu tường thuật khẳng định được sử dụng dưới nhiều hình thức nhưng vẫnhướng đến mục đích xác nhận sự tồn tại của sự vật, hiện tượng, đối tượng mà câu đangnhắm đến
1.1.2.2 Câu tường thuật phủ định
Câu tường thuật phủ định là câu xác nhận sự vắng mặt của sự vật, hiện tượng, đốitượng trong câu
Ví dụ:
- (6a) Tôi không thấy anh ấy ở đâu cả.
- (6b) Tôi không nhớ chuyện đó.
Về mặt hình thức câu phủ định cơ bản chứa các từ như: không, chưa, chẳng, chả, chưa hề, chẳng hề, không hề, không bao giờ Những từ này được đặt phía trước các
thành phần bị phủ định để biểu thị ý nghĩa tường thuật
Ví dụ:
- (7a) Mẹ dỗ dành mãi mà nó vẫn chẳng chịu ăn.
- (7b) Ngày Mai mất và Tnú ra đi, nó còn là một cô bé không có áo mặc, đêm
lạnh không ngủ, đốt lửa ngồi cho đến gà gáy rồi đi giã gạo thay chị (Nguyễn
Trung Thành 1965) → ví dụ là câu tường thuật, kể về nhân vật trong câu, sựphủ định tồn tại chỉ ra rằng nhân vật không có áo để mặc, đêm không ngủ.Trong câu phủ định người ta lại tiếp tục phân thành hai loại là: câu phủ định bộ phận
và câu phủ định toàn bộ
a Câu phủ định bộ phận
Câu phủ định bộ phận hiểu đơn giản là câu có nghĩa phủ định chỉ liên quan đến một
bộ phận trong câu Trong câu này, từ phủ định thường sẽ đứng trước thành phần cầnphủ định, có thể là vị ngữ, trạng ngữ hoặc bổ ngữ,
Ví dụ:
Trang 18- (8a) Từ năm nào, cô không nhớ, cũng không ai nhớ (Tô Hoài 1953).
- (8b) Hắn định nói với thị một vài câu rõ tình tứ màchẳng biết nói thế nào (Kim
Lân 1962)
b Câu phủ định toàn bộ
Câu phủ định toàn bộ là câu có ý nghĩa phủ định bao trùm lên toàn bộ câu nội dụngcủa câu Trong câu phủ định toàn bộ, từ phủ định thường đứng trước bộ phận chính củacâu
Ví dụ:
- (9a)Không có ai ở đấy cả.
- (9b) Ông ấykhông bao giờ chịu khuất phục.
Ngoài ra thì câu phủ định còn được thêm các từ để mang ý nghĩa phủ định tuyệt đối:
Thêm những từ như: hoàn toàn, tuyệt đối, nhất định
Ví dụ:
- (10a) Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ (Hồ Chí Minh, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến).
- (10b) Tôihoàn toàn không biết.
Đặt các từ như: không, chẳng, không (chẳng) bao giờ, không (chẳng) đời nào, không (chẳng) ai (hay: người nào), không (chẳng) hề vào vị trí vị ngữ hoặc ở
đầu câu
Ví dụ:
- (11a)Chẳng có ai muốn con mình phải sống khổ sở đâu.
- (11b)Không đời nào tôi xin lỗi trước đâu.
Thêm các từ bổ ngữ cho vị ngữ như:một tí (gì), một chút (nào), gì sốt (cả),
Ví dụ:
Trang 19- (12a) Tôikhông uống rượu dù chỉ một chút.
- (12b)Không nên thử dù chỉ một lần.
Trong ngôn ngữ nói hàng ngày còn có cách nói phủ định như sau:
- (13a) Có trời mà biết được → Không biết
- (13b) Làm gì có → Không có
- (13c) Tưởng dễ lắm à → Không dễ
Tóm lại, câu tường thuật phủ định dù xuất hiện dưới dạng phủ định bộ phận hay phủđịnh toàn bộ cũng thể hiện chung mục đích là nhấn mạnh việc không tồn tại của các sựvật, hiện tượng, đối tượng trong câu
Thông qua khái niệm và phân loại câu tường thuật chúng ta có thể thấy câu tườngthuật là loại câu rất phổ biến trong tiếng Việt Ngoài là phương tiện cơ bản nhất để thểhiện được suy nghĩ, tư duy của người nói thì câu tường thuật còn thể hiện được từng sắcthái riêng theo từng ngữ điệu khác nhau
1.2 Đặc trưng của câu tường thuật trong tiếng Việt
Như đã đề cập trên phần “Khái niệm và phân loại câu”, câu trong tiếng Việt đượcphân loại chủ yếu theo cấu tạo ngữ pháp và mục đích nói của câu Các câu sẽ được sắpxếp vào từng loại khác nhau tùy vào đặc trưng riêng của câu Câu tường thuật cũng cónhững đặc trưng tiêu biểu để xếp loại và nhận diện như sau:
Có kết thúc câu là dấu chấm (.):
Trong quyển “Ngữ pháp tiếng Việt” (Đỗ Thị Kim Liên, 1999), tác giả có đề cập rằng:
câu tường thuật trong văn viết thường có kết thúc câu bằng dấu chấm (.) Trong khi câu
nghi vấn luôn kết thúc câu bằng dấu chấm hỏi (?), câu cầu khiến, mệnh lệnh hay câucảm thán thường được nhận biết thông qua dấu chấm than (!), thì câu tường thuật đượcđặc trưng bởi dấu chấm (.) Đây hoàn toàn có thể coi là đặc trưng của câu tường thuậttrong tiếng Việt so với các loại câu khác
Ví dụ:
- (14a) Câu tường thuật: Cả nhà tôi tràn ngập tiếng cười.
- (14b) Câu nghi vấn: Bao giờ thì cậu làm xong báo cáo này?
- (14c) Câu mệnh lệnh: Chào cờ! Chào!
Trang 20- (14d) Câu cầu khiến: Đợi mình với!
- (14e) Câu cảm thán: Trời ơi!
Thông qua những ví dụ trên chúng ta có thể nhận biết câu tường thuật thông qua đặttrưng tiêu biểu này
Thể hiện được thái độ người nói đối với nghe:
Câu tường thuật được biểu hiện thông qua các trợ từ hoặc thán từ1, giúp chúng ta cóthể hiểu được thái độ của người nói đối với người nghe Hoặc việc thêm các trợ từ2chỉnhằm mục đích giúp cho câu văn được hoàn chỉnh hơn Chẳng hạn như 2 từ dưới đâydùng ngoài ngữ cảnh nên vẫn chưa thể trở thành bất kì loại câu nào:
- Con biết!
Muốn câu trên trở thành câu, chúng ta cần sử dụng một ngữ điệu nào đó hoặc rõ hơncần phải thêm một trợ từ phù hợp, vừa giúp nó trở thành câu và có thể thể hiện đượcthái độ của người nói
Ví dụ:
- (15a) Con biết rồiạ (Kính trọng)
- (15b) Con biếtmà (Thân mật)
Nhờ có hệ thống trợ từ rất phong phú, câu tường thuật trong tiếng Việt có nhiềuphương tiện biểu thị sắc thái tình cảm hay thái độ khác nhau
Ví dụ:
- (16a) Tôi về rồiạ → (Kính trọng).
- (16b) Tôi can tâm chịu vậy → (Miễn cưỡng).
- (16c) Cậu Vàng của ông ngoanlắm → (Thân mật)
1Thán từ: Thán từ (cảm từ) là những từ dùng làm tiếng gọi, tiếng đáp, tiếng than hay làm dấuhiệu biểu thị cảm xúc của con người, thí dụ: ôi, a, trời, đất, chao ôi, than ôi, ô hay, dạ, vâng,ơi, (Nguyễn Hữu Quỳnh 2001, tr.169)
2 Trợ từ: Trợ từ là những từ chuyên dùng để nhấn mạnh thêm nghĩa của từ và của câu, hoặcdùng để biểu thị thái độ của người nói, thí dụ chính, thì, là, ư, à, nhỉ, (còn gọi là từ đệm) Trợ
từ thuộc loại tình thái từ (Nguyễn Hữu Quỳnh 2001, tr.167)
Trang 21 Không đòi hỏi người nghe phải đáp lại:
Đa số các tác giả khi đề cập đến câu tường thuật đều nhấn mạnh rằng, câu tườngthuật không cần người nghe phải trả lời
Khác với câu nghi vấn, chờ đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận nội dung,câu mệnh lệnh yêu cầu người nghe làm theo, câu cầu khiến rủ rê người nghe, thì câutường thuật khi được phát ngôn ra chỉ cần người nghe biết, đồng tình hoặc tư duy cùngvới người nói
Cả hai câu ví dụ đều đang kể lại sự việc diễn ra, chỉ cần người nghe lắng nghe khôngyêu cầu người nghe đáp lại
Là hình thức biểu hiện thông thường của một phán đoán:
Trong quyển “Ngữ pháp tiếng Việt” (Diệp Quang Ban, 2015), tác giả đã định nghĩa
về câu tường thuật như sau “Nó là hình thức biểu hiện thông thường của một phán đoán
tuy rằng không phải câu nào cũng có nội dung là một phán đoán.” Và ông đã giải
thích rằng, “Logic học cổ điển coi kiểu câu tường thuật là hình thức câu duy nhất (đối
chiếu với ba kiểu câu còn lại 3 ) có khả năng biểu thị một phán đoán logic với tính chân thực hay không chân thực Ba kiểu câu còn lại không có năng lực biểu hiện hai đặc trưng này của phán đoán logic.”.
Qua nhận định trên của tác giả Diệp Quang Ban chúng ta có thể thấy, câu tường thuật
có khả năng thể hiện được tư duy, phán đoán của người nói mà các kiểu câu nghi vấn,mệnh lệnh, cảm thán không thể làm được
Ví dụ:
3Ba kiểu câu còn lại: câu nghi vấn, câu mệnh lệnh, câu cảm thán
Trang 22- (18a) Ớt nào mà ớt chẳng cay (Ca dao) → đây là câu phán đoán khẳng định.
- (18b) Sông Mê Kông không phải là con sông dài nhất thế giới → đây là câuphán đoán phủ định
Với bốn đặc trưng chính: có kết thúc câu là dấu chấm (.); thể hiện được thái độ ngườinói đối với nghe qua các trợ từ; đòi hỏi người nghe phải đáp lại; là hình thức biểu hiệnthông thường của một phán đoán Như vậy, câu tường thuật trong tiếng Việt cũng cónhững nét đặc trưng nổi bật riêng, là dấu hiệu đặc biệt giúp người nghe, người đọc nhậnbiết nó
1.3 Cấu trúc câu tường thuật trong tiéng Việt
1.3.1 Cấu trúc câu trong tiếng Việt
Cấu trúc câu là những thành phần cấu tạo nên câu cùng với chức năng, mối quan hệ
và sự tổ chức của các đối tượng trong câu Trong tiếng Việt, câu được cấu tạo từ haithành phần lớn: thành phần chính (thành phần nồng cốt) và thành phần phụ
Thành phần chính (thành phần nồng cốt) là thành phần cơ bản bắt buộc phải có trongmột câu Thành phần chính bao gồm hai thành phần nhỏ là chủ ngữ và vị ngữ (C-V).Trong đó, chủ ngữ (gọi tắt là C) là một từ hay cụm từ với vai trò là thành phần chínhtrong câu nhằm đề cập đến đối tượng trong câu, thì vị ngữ (gọi tắt là V) là phần quantrọng đứng thứ hai trong câu, nêu lên hoạt động, trạng thái của sự vật, sự việc hoặcngười đã được đề cập trong phần chủ ngữ Chủ ngữ và vị ngữ có thể là danh từ, cụmdanh từ hoặc đại từ thay thế cho danh từ, động từ, cụm động từ hoặc tính từ, cụm tính từ,
số từ, từ chỉ vị trí hoặc các cụm từ cố định, cụm từ đẳng lập, hoặc chủ ngữ có có thể làcụm chủ vị
Thành phần phụ trong câu tiếng Việt rất đa dạng gồm: trạng ngữ, định ngữ, bổngữ, Các thành phần phụ không bắt buộc tồn tại trong câu
1.3.2 Cấu trúc câu tường thuật
Trong tiếng Việt cấu trúc câu thể hiện thông qua quan hệ chủ ngữ - vị ngữ (C-V).Tương tự vậy, câu tường thuật trong tiếng Việt cũng được cấu tạo bởi quan hệ chủ - vị
Trong quyển “Ngữ pháp tiếng Việt” (Hoàng Trọng Phiến, 1980), tác giả cho rằng: “So
với câu hỏi và câu cầu khiến thì câu kể có cấu trúc bình thường Tất cả các câu đơn,
Trang 23câu ghép về cơ bản là thuộc cấu trúc câu kể.” Tức là, cấu trúc câu tường thuật bao gồm
các loại câu ghép và cả câu đơn Cũng trong quyển này, tác giả có nêu vài cấu trúc cơbản của câu tường thuật theo quan hệ chủ - vị như sau:
1 C - V
2 C - V ấy, đấy
3 C (không thể không) V
4 C (không phải là) không V
5 C không V (hoặc: Không C - V)
6 C không V lắm, (cơ, cả) thật, vậy
Căn cứ theo các cấu trúc câu tường thuật tác giả Hoàng Trọng Phiến đã nêu, trongnghiên cứu này người nghiên cứu phân tích các cấu trúc câu dựa theo những dạng trênnhư sau:
1 Chủ ngữ + vị ngữ
2 Chủ ngữ + vị ngữ + ấy, đấy
3 Chủ ngữ + (không thể không) + vị ngữ
4 Chủ ngữ + (không phải là) không + vị ngữ
5 Chủ ngữ + không + vị ngữ (hoặc: Không chủ ngữ + vị ngữ)
6 Chủ ngữ + không + vị ngữ + lắm, (cơ, cả) thật, vậy
Cấu trúc đầu tiên là cấu trúc cơ bản nhất trong tiếng Việt nói chung cũng như câutường thuật nói riêng Ở cấu trúc này chỉ bao gồm hai thành phần chính là chủ ngữ và vịngữ đã có thể hình thành nên câu:
Trang 24Không gói gọn chủ ngữ và vị ngữ chỉ bởi danh từ và động từ, như đã nêu ở phần1.3.1 Cấu trúc câu trong tiếng Việt, thì chủ ngữ và vị ngữ có thể là những cụm danh từ,cụm động từ,
từấy, đấy, vào cuối câu để nhấn mạnh câu nói:
nhưng ở câu (21b) khi sử dụng từ đấy ở cuối câu thì nội dung câu (21b) được nhấn mạnh hơn Từ ấy cũng có ý nghĩa tương đương như vậy.
Ngoài hai từ ấy, đấy trong tiếng Việt còn có các trợ từ nhấn mạnh có thể dụng trong câu tường thuật như: kia, đây,
Cấu trúc thứ 3, đã được đề cập đến trong phần phân loại câu tường thuật, là cấu trúckhẳng định chứa yếu tố phủ định:
3 Chủ ngữ + (không thể không) + vị ngữ
Trang 255 Chủ ngữ + không + vị ngữ (hoặc: Không chủ ngữ + vị ngữ)
Trang 26Cấu trúc thứ 6 là cấu trúc câu tường thuật phủ định với các trợ từ nhấn mạnh ở cuốicâu:
6 Chủ ngữ + không + vị ngữ + lắm (cơ, cả, thật, vậy, )
Trang 27Kết luận chương 1:
Thông qua chương 1 của nghiên cứu, nhìn chung khái quát về câu tường thuật trongtiếng Việt đã được phân tích cụ thể thông qua khái niệm, phân loại, đặc trưng và cấutrúc
Trong đó câu tường thuật (câu kể, câu trần thuật) được khái niệm là một trong nhữngloại câu phổ biến nhất và được dùng để kể, xác nhận hoặc mô tả chi tiết cho người nghebiết về một sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó mà không cần người nghe phải đáp lại.Câu tường thuật là phương tiện phổ biến nhất và cơ bản nhất để thể hiện tư duy tronggiao tiếp
Về mặt phân loại, câu tường thuật trong tiếng Việt được phân thành 2 loại chính: câutường thuật khẳng định và câu tường thuật phủ định Trong khi câu tường thuật khẳngđịnh nhằm khẳng định sự tồn tại của sự vật, sự việc, hiện tượng, đối tượng trong câu; thìcâu tường thuật phủ định nhấn mạnh rằng sự vật, sự việc hiện tượng, đối tượng khôngtồn tại trong câu Ngoài ra, câu tường thuật phủ định còn bao gồm câu phủ định bộphận và câu phủ định toàn bộ
Về đặc trưng, câu tường thuật có bốn đặc trưng chính nổi bật so với các loại câu khácgồm: có kết thúc câu là dấu chấm (.); thể hiện được thái độ người nói đối với nghe quacác trợ từ; là câu không đòi hỏi người nghe phải đáp lại; là hình thức biểu hiện thôngthường của một phán đoán
Về mặt cấu trúc, cấu trúc câu tường thuật được hình thành dựa trên quan hệ chủ - vị.Cấu trúc câu tường thuật tồn tại dưới nhiều hình thức đa dạng, trong đó bao gồm cấutrúc khẳng định, cấu trúc khẳng định nhấn mạnh, cấu trúc phủ định của phủ định dùng
để khẳng định, cấu trúc phủ định và cấu trúc phủ định nhấn mạnh
Trang 28CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT CÂU TƯỜNG THUẬT TRONG TIẾNG HÀN
2.1 Khái niệm câu tường thuật trong tiếng Hàn
2.1.1 Khái niệm câu
Có rất nhiều khái niệm về câu trong tiếng Hàn, trong đó quyển “한국어의 문장 유형
과 용법” – “Loại câu và cách sử dụng tiếng Hàn” (Lim Dong-hoon, 2011), tác giả đã
định nghĩa về câu như sau: “문장 유형은 화행와 관습적으로 연관된 문법적 형식에
Nghĩa là: Câu được thể hiện trong định dạng ngữ pháp liên quan đến đến hành động
ngôn từ 4 và tập quán Câu có đặc trưng là chắc chắn, tạo thành hệ thống nhất định và mang tính độc quyền lẫn nhau Trong tiếng Hàn, hai tiêu chuẩn phân loại chính của câu là, liệu chúng có thể xuất hiện trong mệnh đề trích dẫn gián tiếp hay không và liệu chúng có xuất hiện trong 3 mức độ đối tượng ngôn ngữ (kính ngữ) là: kính ngữ, thân mật và trống không hay không? Theo đó câu trong tiếng Hàn được chia thành 4 loại cơ bản là câu trần thuật (câu tường thuật), câu nghi vấn, câu mệnh lệnh, câu đề nghị Trong tiếng Hàn, có những câu được sử dụng cho người nghe không được cá nhân hóa, đối với câu trần thuật là “-다”, câu hỏi là “-ㄴ가”, câu mệnh lệnh là “-으라”.
2.1.2 Khái niệm câu tường thuật
Trong tiếng Hàn, câu tường thuật được gọi là “평서문” hay “서술문” Trong “국립국어원 표준국어대사전” – “Từ điển Quốc ngữ tiêu chuẩn của Viện ngôn ngữ Quốc
4Hành động ngôn từ: là nhấn mạnh bản chất của câu nói, khi ta nói một câu nghĩa là ta đã thựchiện một hành động nào đó Chẳng hạn như thông báo, khuyên, chúc mừng, tuyên bố, hứahẹn, (Bùi Thị Kim Tuyến 2013, tr.12)
Trang 29gia” định nghĩa “평서문” cũng như “서술문” như sau: “화자가 사건의 내용을 객관
Nghĩa là: Hình thức tường thuật là câu mà người nói trình bày khách quan nội dung
của sự việc, kết thúc câu bằng vĩ tố của loại hình tường thuật.
Trong quyển từ điển “한국어 표준 문법” – “Ngữ pháp tiếng Hàn tiêu chuẩn” (Yoo
Hyung-kyung, 2018) nhóm tác giả cũng có định nghĩa về câu tường thuật như sau: “평
Nghĩa là: Câu tường thuật (Declarative sentence) là câu truyền đạt tương đối khách
quan thông tin trong câu mà người nói biết nhưng người nghe thì không biết và nó được thực hiện bởi các vĩ tố kết thúc của loại hình tường thuật Câu tường thuật là câu cơ bản nhất trong tất cả các loại câu và nó có đặc điểm là câu không có chủ đích Ngữ điệu của câu tường thuật đơn giản thường thể hiện sự nhẹ nhàng và có tính chất xác thực Có nhiều vĩ tố kết thúc của câu tường thuật và các vĩ tố này có sự phân bố đa dạng theo cách nói đề cao Có trường hợp vĩ tố tường thuật bị hạn chế theo đặc trưng ý nghĩa của chúng tuy nhiên so với các loại câu khác thì chúng ít bị hạn chế nhất.
Nói về đặc điểm là câu tường thuật không có chủ đích thì tác giả Lim Dong-hoon
cũng định nghĩa về câu tường thuật như sau: “한국어에서는 평서문은 다른 문형에
5평서형: 용언 및 서술격 조사 ‘이다’의 활용형의 하나 ‘-다’, ‘-오’ 따위의 예사로운
종결 어미가 붙어, 있는 사실을 그대로 진술하는 문장 형태이다.(Dịch: loại hình tườngthuật: là một trong những hình thức ứng dụng của ‘이다-là’, trong việc điều tra cách dùng từ
và cách diễn đạt Loại hình câu là loại hình trình bài đúng tuyệt đối sự thật được gắn vĩ tố kếtthúc ‘-다’, ‘-오’.) (x.“국립국어원 표준국어대사전” – “Từ điển Quốc ngữ tiêu chuẩncủa Viện ngôn ngữ Quốc gia”)
Trang 30비해 무표적이지 않으며 반말체에서는 담화 참여자 간의 담화적 관계에 따라 세
Nghĩa là: Trong tiếng Hàn, câu tường thuật không có chủ đích nói so với các loại câu
văn khác, và trong thể loại văn nói trống không, nó được chia thành hai loại tùy thuộc vào mối quan hệ đối thoại giữa những người tham gia trò chuyện.
Thông qua các khái niệm trên về câu tường thuật trong tiếng Hàn, ta rút ra định nghĩa
về câu tường thuật như sau: Câu tường thuật là câu mà người nói truyền đạt suy nghĩ
của bản thân hoặc thông tin về một sự thật hay hiện tượng nào đó cho người nghe Câu tường thuật thường không có mục đích nói cụ thể so với các câu khác Biểu hiện đặc trưng của câu là vĩ tố kết thúc câu.
2.2 Phân loại và đặc trưng câu tường thuật trong tiếng Hàn
2.2.1 Phân loại câu tường thuật trong tiếng Hàn
Trong các nghiên cứu tại Hàn Quốc, phân loại câu tường thuật không được quy định
cụ thể như trong tiếng Việt Vì vậy, có nhiều cách phân loại khác nhau Tiêu biểu trongquyển “한국어의 문장 유형과 용법” – “Loại câu và cách sử dụng tiếng Hàn” (LimDong-hoon, 2011), tác giả đã phân loại câu tường thuật như sau:
tr.333)
Nghĩa là: Câu trần thuật ngoài các câu trần thuật có nghĩa hẹp thì còn bao gồm các
câu cảm thán, câu cảnh giác, câu hứa hẹn Các câu cảm thán, câu cảnh giác và câu hứa hẹn được mô tả trong câu trần thuật, điều này được mô tả bởi vì có đặc điểm là chúng có thể kết hợp từ trích dẫn gián tiếp “다” của câu trần thuật.
Tại nghiên cứu này tác giả Lim Dong-hoon đã phân loại câu tường thuật thành 3 kiểucâu nhỏ là: câu cảm thán, câu cảnh giác, câu hứa hẹn Trong khi đó trong quyển từ điển
“한국어 표준 문법” – “Ngữ pháp tiếng Hàn tiêu chuẩn” (Yoo Hyung-kyung, 2018)nhóm tác giả đã phân loại câu tường thuật theo vĩ tố kết thúc câu như sau: