1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Một số giá trị văn hóa hàn quốc qua hình tượng con vật trong thành ngữ tục ngữ

48 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giá trị văn hóa Hàn Quốc qua hình tượng con vật trong thành ngữ - tục ngữ
Người hướng dẫn Ths. Phạm Thị Bích Hằng
Trường học Trường đại học Lạc Hồng
Chuyên ngành Ngôn ngữ học, Văn hóa học
Thể loại Báo cáo nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Biên Hòa
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. DẪN LUẬN (6)
    • 1.1. Lý do chọn đề tài (6)
    • 1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (7)
      • 1.2.1 Mục đích nghiên cứu (7)
      • 1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu (8)
    • 1.3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (8)
    • 1.4. Phương pháp nghiên cứu (10)
    • 1.5. Phạm vi nghiên cứu (11)
    • 1.6. Bố cục của bài nghiên cứu (12)
  • B. NỘI DUNG (13)
  • CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ (13)
    • 1.1. Khái niệm tục ngữ, thành ngữ (13)
    • 1.2. Sự khác nhau giữa thành ngữ, tục ngữ (14)
    • 1.3. Một số biện pháp tạo nghĩa biểu trưng của tục ngữ Hàn Quốc (16)
    • 1.4. Nghĩa biểu trưng của tục ngữ Hàn Quốc (20)
  • CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG HÌNH ẢNH CON VẬT TRONG TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ (22)
    • 2.1. Khái quát chung thành ngữ, tục ngữ nói về động vật (22)
    • 2.2. Nguồn gốc sử dụng hình ảnh con vật trong tục ngữ, thành ngữ (22)
    • 2.3. Hình ảnh biểu trưng một số con vật tiêu biểu trong tục ngữ Hàn Quốc (24)
    • 2.4. Bảng thống kê các con vật có trong thành ngữ, tục ngữ Hàn Quốc và Việt Nam (26)
    • 2.5. Tổng quát các hình ảnh con vật đã được nêu trong thành ngữ, tục ngữ Hàn – Việt (28)
      • 2.5.1. Thành ngữ tục ngữ liên quan đến con bò, con trâu (28)
      • 2.5.2. Thành ngữ tục ngữ liên quan đến con ngựa (29)
      • 2.5.3. Thành ngữ tục ngữ liên quan đến con hổ (30)
      • 2.5.4. Thành ngữ tục ngữ liên quan đến con chuột (30)
      • 2.5.5. Thành ngữ tục ngữ liên quan đến con mèo (31)
  • CHƯƠNG 3: VĂN HÓA HÀN ĐƯỢC THỂ HIỆN QUA HÌNH TƯỢNG CON VẬT TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ (32)
    • 3.1. Giá trị giáo dục (32)
    • 3.2. Giá trị chuyển tải kinh nghiệm (36)
    • 3.3. Giá trị phê phán, châm biếm (37)
    • 3.4. Khen ngợi (40)
    • C. KẾT LUẬN (42)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ TÀI MỘT SỐ GIÁ TRỊ VĂN HÓA HÀN QUỐC QUA HÌNH TƯỢNG CON VẬT TRONG THÀNH NGỮ TỤC NGỮ TP BIÊN HÒA,07/2022[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ GIÁ TRỊ VĂN HÓA HÀN QUỐC QUA

HÌNH TƯỢNG CON VẬT TRONG

THÀNH NGỮ - TỤC NGỮ

TP.BIÊN HÒA,07/2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ GIÁ TRỊ VĂN HÓA HÀN QUỐC QUA

HÌNH TƯỢNG CON VẬT TRONG

THÀNH NGỮ - TỤC NGỮ

Giáo viên hướng dẫn khoa học

TP.BIÊN HÒA,07/2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau bốn năm học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Lạc Hồng, với sự cố gắng

và nỗ lực không ngừng nghỉ của bản thân, bằng sự biết ơn và kính trọng, tác giả xin trân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, các phòng, các khoa thuộc Trường Đại học Lạc Hồng đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và làm luận văn

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô Ths.Phạm Thị Bích Hằng người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả hoàn thành luận văn này một cách hoàn chỉnh Tác giả xin chân thành cảm ơn cô đã tận tình truyền đạt những kiển thức quý báu cho tác giả trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và đến khi thực hiện đề tài luận văn

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng đã đọc, nhận xét và đóng góp ý kiến về luận văn

Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị em và các bà

bè đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tác giả rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học một cách hoàn chỉnh và động viên tác giả rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn này

Dù tác giả đã cố gắng rất nhiều trong quá trình viết luận văn, nhưng không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, tác giả rất mong nhận được sự thông cảm, chỉ dẫn, giúp

đỡ và ý kiến đóng góp quý giá của các nhà khoa học, quý thầy cô, và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

A.DẪN LUẬN 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

1.2.1 Mục đích nghiên cứu 2

1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

1.3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 5

1.5 Phạm vi nghiên cứu 6

1.6 Bố cục của bài nghiên cứu 7

B NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ 8

1.1 Khái niệm tục ngữ, thành ngữ 8

1.2 Sự khác nhau giữa thành ngữ, tục ngữ 9

1.3 Một số biện pháp tạo nghĩa biểu trưng của tục ngữ Hàn Quốc 11

1.4 Nghĩa biểu trưng của tục ngữ Hàn Quốc 15

CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG HÌNH ẢNH CON VẬT TRONG TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ 17

2.1 Khái quát chung thành ngữ, tục ngữ nói về động vật 17

2.2 Nguồn gốc sử dụng hình ảnh con vật trong tục ngữ, thành ngữ 17

2.3 Hình ảnh biểu trưng một số con vật tiêu biểu trong tục ngữ Hàn Quốc 19

2.4.Bảng thống kê các con vật có trong thành ngữ, tục ngữ Hàn Quốc và Việt Nam 21

2.5 Tổng quát các hình ảnh con vật đã được nêu trong thành ngữ, tục ngữ Hàn – Việt 23

2.5.1 Thành ngữ tục ngữ liên quan đến con bò, con trâu 23

2.5.2 Thành ngữ tục ngữ liên quan đến con ngựa 24

2.5.3 Thành ngữ tục ngữ liên quan đến con hổ 25

2.5.4 Thành ngữ tục ngữ liên quan đến con chuột 25

Trang 5

2.5.5 Thành ngữ tục ngữ liên quan đến con mèo 26

CHƯƠNG 3: VĂN HÓA HÀN ĐƯỢC THỂ HIỆN QUA HÌNH TƯỢNG CON VẬT TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ 27

3.1 Giá trị giáo dục 27

3.2 Giá trị chuyển tải kinh nghiệm 31

3.3 Giá trị phê phán, châm biếm 32

3.4 Khen ngợi 35

C KẾT LUẬN 37

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

TÓM TẮT LUẬN VĂN BẰNG TIẾNG HÀN 41

Trang 6

A.DẪN LUẬN

1.1 Lý do chọn đề tài

Thành ngữ, tục ngữ là những sáng tạo dân gian mang đậm bản chất dân tộc, do đó khi nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa của bất cứ quốc gia nào trên thế giới, người ta không thể không nhắc đến thành ngữ, tục ngữ Văn hóa Hàn Quốc đến nay đã được nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận phát triển mạnh mẽ và càng ngày có sức ảnh hưởng tới văn hóa quốc gia của các nước Theo đó tiếng Hàn, phong tục, tập quán mang nét đặc trưng văn hóa Hàn Quốc, những câu chuyện cổ tích, thần thoại hay tuc ngữ, thành ngữ của Hàn Quốc cũng nhận được sự quan tâm của mọi người

Ngôn ngữ là một phương thức giao tiếp không thể thiếu trong nền văn minh nhân loại, được phản ánh trong ý thức cộng đồng và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Tùy vùng miền, nơi cư trú, lịch sử dân tộc mà ngôn ngữ ở mỗi nơi được hình thành khác nhau Tuy nhiên, trong nhiều tình huống giao tiếp, chúng ta lại không dùng những

từ ngữ rõ ràng hay những câu nói trực tiếp biểu đạt ý của mình, mà lại sử dụng sử dụng hình thức diễn đạt thông qua những câu thành ngữ, tục ngữ Có thể thấy sự vận dụng

qua câu “Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước” để thể hiện kinh nghiệm về việc dự đoán mưa, tục ngữ “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” để nói lên tình nhân ái, tình yêu thương vừa nói đến sự đoàn kết trong một tập thể hay câu.“Cáo chết ba năm quay đầu

về núi” ngụ ý không quên nguồn gốc đến tuổi già thì mỗi người lại nhớ về quê cha đất

tổ, người ta còn mượn hình ảnh con sói “Lòng lang dạ sói” để nói đến ngững người độc

ác, nham hiểm, tâm địa độc ác, những người xấu trong xã hội, tương tự tục ngữ Hàn

cũng có câu “Tháo yên ngựa của người khác”( 남의 말에 안장 지운다) chỉ lòng tham

vô đáy, thành ngữ tiếng Hàn biểu hiện”Bán kiếm mua bò”(매검매우) ám chỉ cuộc sống

sung túc, an bình không cần đên gươm giáo, không có chiến tranh Không những vậy, khi muốn ám chỉ những chuyện không may liên tiếp xảy ra hay liên tiếp phạm phải

những sai lầm thì người Hàn dùng hình ảnh “Trượt chân chó vì bãi phân bò, mũi lại

chạm vào đống phân chó”(소똥에 미끄러져 개똥에 콧방아 찧는다) Để thể hiện ý

nghĩa này tiếng Việt cũng có câu “Họa cô đơn chí” Tương tự câu trên dù biết bản thân

không thể làm hết tất cả mọi việc nhưng vẫn muốn gom việc cho bản thân làm, dẫn đến

kết quả xấu giống “Ngựa gầy ham chở nặng” (야원 말이 짐 탐한다), lòng tham vô

Trang 7

đáy khi “Cưỡi ngựa còn muốn có cả người giữ ngựa” (말 타면 견마 잡히고), thậm chí mưu hại bằng cách “Tháo yên ngựa của người khác” (남의 말에 안장 지운다)

phê phám lối sống nhỏ nhen, hà tiện bắt rồi bò trên đảo (섬 속에서 소를 잡아 먹겠다)

Nghiên cứu ngôn ngữ liên qua đến thành ngữ, tục ngữ Hàn Quốc trong những năm gần đây đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu cới nhiều góc độ khác nhau liên quan đến thế giới động vật, các hiện tượng tự nhiên, nhận thức của con người về mọi mặt cuộc sống Thành ngữ, tục ngữ có yếu tố chỉ con vật là những câu ngắn gọn mà con người dùng nhãn quan sự cảm nhận, khai thác hình ảnh con vật để phục vụ cho những diễn đạt khác

Lý do tác giả chọn đề tài “ Một số đặc trưng” vì tác giả muốn cho độc giả thấy rằng trong văn hóa, đời sống người Hàn Quốc thành ngữ, tục ngữ được sử dụng trong giao tiếp hằng ngày khá rộng và phổ biến, đồng thời tác giả muốn truyền đạt đến độc giả những giá trị đặc trưng của người Hàn, để chúng ta có thể hiểu hơn về nền văn hóa Hàn Quốc Qua những câu thành ngữ, tục ngữ mà tác giả đã tìm được trong bài sẽ cho độc giả biết được những giá trị đặc trưng của người Hàn được coi trọng nhất

1.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của đề tài “Một số đặc điểm văn hóa Hàn Quốc thể hiện qua hình

tượng con vật trong thành ngữ - tục ngữ” là làm sáng tỏ đặc điểm ngữ nghĩa của các

câu thành ngữ liên quan đến con vật trong tiếng Hàn Qua đó các đặc điểm văn hóa của Hàn Quốc sẽ được làm rõ, góp phần xác định đặc điểm văn hóa Hàn Kết quả nghiên cứu góp phần đóng góp vào kho tư liệu nghiên cứu về tục ngữ Hàn Quốc, giúp đọc giả hiểu về mảng đề tài, có thêm nguồn tài liệu nghiên cứu, từ đó so sánh với quan điểm về thành ngữ của các nhà nghiên cứu Việt Nam, đưa ra quan điểm của mình về thành ngữ tiếng Hàn nhằm xác định đối tượng nghiên cứu, đồng thời tạo tiền đề nghiên cứu về thành ngữ tiếng Hàn trong tương lai Và đọc giả có thể sử dụng linh hoạt các câu tục ngữ về loài vật để giải thích sâu hơn về nên tảng văn hóa Hàn Quốc Và ứng dụng chúng như là một dạng ngoại ngữ giao tiếp Đồng thời thúc đẩy dự hiểu biết của người đọc về tục ngữ cũng có thể kích thích sự quan tâm của người học, làm sâu sắc hơn trong việc học tiếng Hàn

Trang 8

1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, chúng tôi hướng đến những nhiệm vụ sau:

- Thống kê, phân loại các câu tục ngữ có yếu tố chỉ con vật trong tiếng Hàn

- Phân tích các tầng ý nghĩa và giá trị biểu trưng của các thành ngữ, tục ngữ Hàn Quốc về động vật

- Định nghĩa, so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến động vật

- Tìm và phân tích nguồn gốc tộc người, các yếu tố để người Hàn vận dụng hình ảnh con vật vào câu thành ngữ, tục ngữ

1.3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở Hàn Quốc, có rất nhiều công trình nghiên cứu về mảng thành ngữ, tục ngữ Có các công trình tiêu biểu như công trình nghiên cứu về sự biểu hiện tình cảm của thành ngữ tiếng Hàn qua tác phẩm 한국어 감정표현 관용어 연구 (Nghiên cứu thành ngữ biểu hiện tình cảm trong tiếng Hàn) bài nghiên cứu này có ý nghĩa rất lớn đến sự giao tiếp thường ngày của người Hàn Quốc, qua những câu thành ngữ giao tiếp hằng ngày để mọi người có cái nhìn khách quan hơn về biểu hiện tình cảm với người khác, đồng thời chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về đối phương muốn thổ lộ tình cảm Qua những câu thành ngữ

mà tác giả đã đưa ra trong bài đã góp phần cho bài nghiên cứu này đến độc giả hiểu rõ hơn về các câu thành ngữ biểu hiện tình cảm trong giao tiếp thường ngày Nghiên cứu

về mảng đề tài này cũng có công trình 관용어 사전을 중심으로 관용어 사용의 실재와 개선방안 (Thực trạng và sử dụng thành ngữ và giải pháp cải thiện khả năng sử dụng thành ngữ dựa vào từ điển thành ngữ) của hai tác giả Park Young và Choi Kyoung Bong biên soạn, qua bài nghiên cứu này cho chúng ta thấy rằng ngày càng ít người Hàn

sử dụng thành ngữ trong giao tiếp thường ngày, do đó bài nghiên cứu này đưa ra kĩ năng

sử dụng thành ngữ, đồng thời đưa ra cho chúng ta những giải pháp, cho chúng ta tiếp cận thành ngữ qua nhiều cách sử dụng khác nhau

한국어 기쁨 표현 관용어의 의미연구 (Nghiên cứu về ý nghĩa của các thành ngữ biểu đạt niềm vui trong tiếng Hàn) của tác giả Cho Geun-Hak, bài nghiên cứu này cho chúng ta thấy được cách biểu đạt niềm vui trong cuộc sống qua nhiều cách khác nhau, đưa ra chúng ta thấy nhiều dẫn chứng cụ thể qua các câu thành ngữ biểu đạt niềm

Trang 9

vui Ngoài ra tác giả còn cho ta thấy được ý nghĩa của các câu thành ngữ qua cách truyền đạt cảm xúc đến người khác, làm sáng tỏ được giá trị của các câu thành ngữ biểu đạt cảm xúc đến đối phương qua nhiều cách truyền đạt 한~중 감정표현 관용어의 환유

양상 대비 연구 (Nghiên cứu so sánh phép hoán dụ của các thành ngữ biểu đạt tình cảm Hàn- Trung) của hai tác giả Chen, Shinhan được biên soạn năm 2019, bài nghiên cứu này cho chúng ta biết rõ hơn về cách biểu đạt tình cảm, đồng thời đưa ra những dẫn chứng cụ thể, để diễn đạt ý một cách trọn vẹn hơn với đối phương qua cách biểu đạt tình cảm đến đối phương Liên quan đến mảng đề tài có 문화적 배경을 활용하는 한국어 관용어 교육 방법에 대한 연구 (Nghiên cứu về phương pháp giáo dục thành ngữ Hàn Quốc sử dụng trong bối cảnh mang dậm nét văn hóa) của Kim Y Sim, bài nghiên cứu này cho ta biết được những phương pháp giáo dục của người Hàn Quốc, đồng thời cho chúng ta biết được tầm quan trọng của việc giáo dục, cho ta thấy việc người Hàn coi trọng giáo dục, họ luôn cho nền giáo dục đi đầu Qua các câu tục ngữ tục ngữ thành ngữ liên quan đến giáo dục, để chúng ta hiểu rõ phần nào về nét văn hóa giáo dục người Hàn Quốc đã và đang áp dụng trong đất nước Hàn Quốc của họ

Hiện tại các công trình nghiên cứu về mảng tục ngữ Hàn Quốc trong nước Việt Nam cũng được xuất hiện nhiều trên các mặt báo, luận văn, sách xuất bản, công trình nghiên cứu Bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoa đề cập đến giải nghĩa một số vấn đề liên quan đến tiếng Hàn, hay nghiên cứu đối chiếu thành ngữ Hàn - Việt có yếu tố chỉ tên gọi động vật (Nhìn từ góc độ ngôn ngữ- văn hóa) của tác giả Lê Thị Hương, bài báo chất liệu thẩm mĩ trong tục ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt dựa trên ngữ liệu tục ngữ có yếu

tố chỉ con giáp của Hoàng Thị Yến Những mảng đề tài này đến bây giờ vẫn nhận được nhiều sự quan tâm Song mảng đề tài về đặc trưng văn hóa Hàn Quốc liên quan đến nguồn gốc hình thành tục ngữ có yếu tố chỉ con vật còn khá ít và chỉ được các học giả người Hàn nghiên cứu nên tài liệu tham khảo cho các độc giả Việt còn cũng còn hạn chế

Bài báo cáo này sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến một số đặc điểm văn hóa Hàn Quốc dựa trên nguồn ngữ liệu thành ngữ, tục ngữ có yếu tố chỉ các loài động vật trong tiếng Hàn Mối quan hệ giữa tục ngữ và văn hóa được giải thích dưới gốc độ nhận thức văn hóa Ở phần dẫn luận tác giả giới thiệu lý do, mục đích, phương pháp, phạm vi, sự cần thiết và ý nghĩa của nghiên cứu, đưa ra các dẫn chứng, tài liệu

Trang 10

tham khảo Trong chương một tác giả giới thiệu khái niệm, phân tích một số biện pháp tạo nghĩa biểu trưng của tục ngữ Hàn Quốc Sau đó đến chương hai tác giả làm sáng tỏ nguồn gốc hình ảnh biểu trưng con vật trong văn hóa Hàn Quốc thông qua việc phân tích nguồn gốc tộc người Hàn, đối chiếu nguồn gốc với tộc Việt, đặc trưng hình ảnh động vật trong văn hóa người Hàn, tìm hiểu hình ảnh biểu trưng con vật trong các câu tục ngữ Từ đó đưa ra một số giá trị được thành ngữ, tục ngữ chuyển tải qua hình tượng con vật, giá trị giáo dục, đúc kết kinh nghiệm, phê phán, châm biếm, khen ngợi Trong quá trình phân tích các giá trị nêu trên tác giả sử dụng các câu tục ngữ Việt Nam làm phương tiện so sánh, đối chiếu, phân tích cụ thể để tìm sự khác biệt văn hóa hai nước, làm bậc nét đặc trưng văn hóa Hàn

Những công trình nghiên cứu về thành ngữ có yếu tố chỉ con vật cũng chiếm một

số lượng khá nhiều Chẳng hạn như: luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu so sánh tục ngữ giữa Hàn Quốc và Mông Cổ thông qua tục ngữ liên quan đến con ngựa” của Th.s Babbachereng Biddolga, “So sánh ngôn ngữ và văn hóa của tục ngữ động vật Hàn Quốc

và văn hóa Anh và Mỹ” của John Mar D Minguillan Liên quan đến mảng đề tài này thì phải kể đến “Nghiên cứu so sánh tục ngữ có từ chỉ động vật của Hàn Quốc và Trung Quốc - trọng tâm là những tục ngữ liên quan đến con “chó” của Choi Sang Jin(2010)

Những câu tục ngữ trong số đó cũng mang biểu trưng đặc biệt in sâu vào văn hóa đại chúng của người dân Hàn Quốc, cũng tác động đến nhận thức của bạn bè ngoài nước Cho đến nay thành ngữ, tục ngữ đã được mọi người ứng dụng một cách rộng rãi trong giao tiếp Tục ngữ, thành ngữ là sự kết tinh của những sáng tạo, năng lực trí tuệ của dân gian mang đậm bản sắc dân tộc, được cô đọng thành một câu nói ngắn gọn nhưng chứa đầy hàm ý Do đó khi nghiên cứu nét văn hóa đặc trưng của quốc gia nào đó người ta không thể không nhắc đến những tục ngữ liên quan giá trị văn hóa của riêng dân tộc đó Hơn hết những bài học được đúc kết từ những câu tục ngữ còn phản ánh một số vấn đề liên quan đến mối quan hệ nhân sinh của con người để họ rút ra được những kinh nghiệm, bài học đồng thời cũng răn dạy con cháu đời sau Thể hiện tính cách con người thông qua các hình ảnh biểu trưng, tiêu biểu là hình ảnh của một số con vật

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu cụ thể nêu trên, đề tài sử dụng phương pháp thống kê nhóm thành ngữ chỉ hình dáng loài vật, chỉ hoạt động của loài vật trong tiếng Hàn, thống

Trang 11

kê các thành ngữ động vật Việt Nam liên quan đến con vật có ý nghĩa đối xứng, phi đối xứng với thành ngữ tiếng Hàn, phương pháp khảo sát, phương pháp phân tích, phương pháp giảng giải để tìm ra nét đặc trưng văn hóa của Hàn Quốc Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu, để làm rõ đối tượng nghiên cứu, chúng tôi cũng sử dụng một số đặc điểm của câu tục ngữ tiếng Việt để so sánh, đối chiếu, thống kê các câu thành ngữ, tục ngữ Các câu thành ngữ, tục ngữ đặc trưng trong tiếng Việt được chúng tôi coi như là phương tiên nghiên cứu nhưng không nghiên cứu chúng song song trong câu trình nghiên cứu này Chúng tôi nghiên cứu tục ngữ, thành ngữ Hàn Quốc dựa theo cấu trúc hình thái và ngữ nghĩa

Luận văn này tác giả nghiên cứu câu thành ngữ, tục ngữ liên quan đến hình ảnh con vật được tác giả nhắc đến trong bài, bò, chuột, hổ, mèo, ngựa có trong luận văn thường xuất hiện nhiều trong cuộc sống đời thường Những câu tác giả tìm được đều tính giá trị trong cuộc sống, mỗi câu đều thể hiện một trong bốn phía cạnh như giáo dục, đúc kết kinh nghiệm, châm biếm phê phán, khen ngợi Mỗi câu tục ngữ, thành ngữ đều chứa đựng được bài học của ông cha ta đã để lại trong cuộc sống, cho chúng ta được bài học qua những câu thành ngữ, tục ngữ trên

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn được sử dụng 67 câu tục ngữ, thành ngữ Hàn Quốc nói về động vật, bên cạnh đó luận văn còn tham khảo một số câu tục ngữ, thành ngữ tiếng Việt trong cuốn” Biểu trưng trong tục ngữ người Việt” có ngữ nghĩa tương tự với thành ngữ, tục ngữ Hàn Quốc làm cho luận văn thêm phần phong phú

Trang 12

1.6 Bố cục của bài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài còn chia thành

3 chương tương ứng với các nội dung như sau:

Chương 1 Khái quát về tục ngữ, thành ngữ

Chương 2 Sử dụng hình ảnh con vật trong tục ngữ, thành ngữ

Chương 3 Một số giá trị được thành ngữ, tục ngữ chuyển tải qua hình tượng con vật

Trang 13

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ

1.1 Khái niệm tục ngữ, thành ngữ

Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn hoàn chỉnh, có ý nghĩa hàm súc giàu vần điệu, hình ảnh, do nhân dân lao động sáng tạo ra và lưu truyền qua nhiều thế kỉ Tục ngữ diễn đạt trọn vẹn một ý mang nội dung nhận xét quan hệ xã hội, truyền đạt kinh nghiệm sống, cho bài học luân lý hay phê phán sự việc Nó thể hiện kinh nghiệm của cha ông ta đúc kết từ mọi mặt tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội và được nhân dân vận dụng vào đời sống, từ suy nghĩ, lời ăn tiếng nói Do đó một câu tục ngữ có thể được coi

là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh vì nó mang trong mình cả ba chức năng cơ bản của văn học là chức năng nhận thức, chức năng thẩm mỹ và chức năng giáo dục

Thành ngữ là loại cụm từ có cấu tạo cố định, biểu thị một số ý nghĩa hoàn chỉnh, bóng bẩy về nội dung ý nghĩa, được sử dụng khá rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày Thành ngữ là kho tàng quý giá của dân tộc, tích lũy những kinh nghiệm sống, phản ánh những quan niệm về thế giới tự nhiên, về các quan niệm xã hội, những giá trị tinh thần, đạo đức, nhân sinh quan của nhân dân Nghĩa của thành ngữ có thể bắt nguồn trực tiếp

từ nghĩa đen của các từ tạo nên nó nhưng thường thông qua một số phép chuyển nghĩa

ẩn dụ, so sánh.[1]

Tại Hàn Quốc có một điều đáng chú ý là, vì cách quan niệm của các học giả không hoàn toàn trùng nhau nên trong dịch thuật, để biểu thị khái niệm tương đương với thuật ngữ “thành ngữ” người ta có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn thành ngữ, quán dụng ngữ, quán ngữ, thậm chí là cách biểu đạt quán dụng, những lời nói quen thuộc hay lời nói thường xuyên sử dụng

Tuy nhiên dù có nhiều nghĩa khác nhau về thành ngữ nhưng nhìn chung lại: đó là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó Ăn vóc học hay, nồi nào úp vung nấy,

ái nhân như kỉ, ăn cây nào rào cây nấy Trong hệ thống thành ngữ tiếng Hàn “Như chó

với mèo” (개 고양이 듯) lời nói chỉ hình ảnh quan hệ rất xấu nên chỉ tìm cơ hội gây hại

Trang 14

nhau “Như bò nhìn gà” (소 닭 보듯) hình ảnh đối với cái nào đó một cách vô tâm “Mèo

giấu vuốt” (고양이가 발톱을 감춘다) người có tài thường khiêm tốn

1.2 Sự khác nhau giữa thành ngữ, tục ngữ

Thành ngữ tục ngữ là các đối tượng nghiên cứu khoa học, cả hai đều được sử dụng khá phong phú và đa dạng trong đời sống hằng ngày của nhân dân Nếu thành ngữ là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học nói chung, từ vựng học nói riêng thì tục ngữ chủ yếu là đối tượng nghiên cứu của văn học dân gian Thành ngữ và tục ngữ là những khái niệm có nhiều điểm tương đồng và khác biệt, việc phân biệt chúng một cách rạch ròi là điều không hề dễ dàng Chúng ta có thể thấy việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ một cách rạch ròi với các tiêu chí cụ thể vẫn chưa đi đến điểm dừng Điều này hiện nay vẫn đang được các nhà nghiên cứu tìm hiểu, quan tâm

Về cấu tạo: Thành ngữ có cấu tạo là một cụm từ cố định, giữa các thành tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó là một bộ phận của câu

Ví dụ trong tiếng Việt: ăn cháo đá bát, trong tiếng hàn “Như chó với mèo” (개 고양이 듯) Hay “Bắt bò trong bồ” (섬 속에서 소를 잡아 먹겠) chỉ người nhỏ nhen hà tiện, “Đọc kinh tai bò” (소귀에 경읽기)đàn gẩy tai trâu

Tục ngữ là câu hoàn chỉnh, đưa ra trọn vẹn một nhận định, phán đoán và quan hệ

giữa các thành tố trong tục ngữ là quan hệ tự do, cú pháp Trong tiếng hàn “như thể gà

ngó bò, như thể bò ngó gà” (닭 소 보듯, 소 닭 보득),hay “nơi ngựa đi cũng là nơi

bò đến” (가는데 소도 간다) “Giống như bò bị bỏng lửa ở bờ sông” (불난 강변에서

덴 소 날뛰듯 하다), ám chỉ người lúng túng trong lúc nguy cấp, trong tiếng Việt đói cho sạch , rách cho thơm

Về chức năng: Thành ngữ là các cụm từ cố định, tương đương với từ, giữa các thành tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó đóng vai trò là một thành phần câu nên thường làm thành phần cấu tạo câu, hoặc chèn thêm vào các câu nói Vì vậy thành ngữ

có chức năng cấu tạo câu Còn tục ngữ là một độc lập một phán đoán, thực hiện chức năng thông báo

Về ngữ nghĩa: Thành ngữ thường thể hiện những hình ảnh sinh động, biểu cảm, giàu tính hình tượng Ngoài ra thành ngữ thường dùng nghệ thuật tu từ,ẩn dụ, hoán dụ

Trang 15

Nghĩa của thành ngữ là nghĩa biểu trưng, khái quát, cô đọng và hình ảnh bóng bẩy Do

đó tạo cho thành ngữ những ấn tượng mạnh mẽ đối với người nghe, người đọc tạo tính hiệu diễn đạt cao Trong tiếng việt: trứng khôn hơn vịt(hoán dụ), thùng rỗng kêu to (ẩn

dụ) trong tiếng hàn “Vẽ hổ thành mèo” (호랑이를 그리려다가 고양이를 그린다) ẩn

않는다) ẩn dụ về người nghèo khó thì siêng năng , còn người có tiền thì lười biếng

“Con chuột chở một hòn đảo muối trong đêm” (쥐가 하루밤에 소금 한 섬을 나른다)

câu nói ẩn dụ rằng nếu chúng ta kiên trì từ những việc nhỏ thì có thể đạt được những điều to lớn

Tục ngữ thường diễn đạt một ý trọn vẹn, một phán đoán Nghĩa câu tục ngữ thường rút ra kinh nghiệm của con người lao động, sản xuất, đấu tranh sinh tồn trong tự nhiên Tục ngữ là những câu nói có vần điệu, cân đối, dễ nhớ, phản ánh những bài học, kinh nghiệm sống, nhận định mối quan hệ giữ người với người với nhau, quan hệ giữa người

với tự nhiên và xã hội Trong tiếng hàn “Mèo ngoan leo trước lên giàn bếp” (점잖은 고양이 부뚝막에 먼저 올라간다 Về số lượng âm tiết thành ngữ có 4 âm tiết: Bút sa

gà chết, có chí thì nên Trong tiếng Hàn “Như mèo rửa mặt” (고양이 세수하듯 한다) làm việc qua loa đại khái “Như chó với mèo”(개 고양이 듯) là lời nói chỉ hình ảnh

quan hệ rất xấu nên chỉ tìm cơ hội gây hại nhau Cũng có khi có 3 âm tiết: hiền như bụt,

đen như mực Thành ngữ trong tiếng Hàn “Đọc kinh tai bò” (소귀에 경읽기),“Mèo

giấu vuốt”(고양이가 발톱을 감춘다)chỉ người có tài thường khiêm tốn “Con bò nằm” (누위 뜨는 소) ngụ ý chỉ người rất chậm chạp hoặc hành động dai dẳng Tương

tự như thành ngữ Việt Nam “Đàn gẩy tai trâu” Ngược lại thì tục ngữ có 6 âm tiết trở lên như câu tục ngữ việt nam “Ăn có nhau nói có nghĩ” tương đương với câu tiếng hàn

“Chuột có lỗ chạy mới sống được” (쥐도 도망갈 구멍이 있어야 산다 “Con chuột chở một hòn đảo muối trong đêm” (쥐가 하루밤에 소금 한 섬을 나른다) câu nói

ẩn dụ rằng nếu chúng ta kiên trì từ những việc nhỏ thì có thể đạt được những điều to

lớn “Giống như ăn thịt bò bị sét đánh vậy”(벼락 맞은 소 뜯어 먹듯) có vẻ như

phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ dựa vào các tiêu chí mang tính chất tương đối vì trong

Trang 16

thực tế vẫn có những đơn vị “tương đồng” có thể quan niệm thành ngữ hay tục ngữ đều được.[2]

1.3 Một số biện pháp tạo nghĩa biểu trưng của tục ngữ Hàn Quốc

Tục ngữ, thành ngữ có nhiều biện pháp, hình thức để tạo nên nghĩa biểu trưng

Thứ nhất là biểu trưng dựa mối quan hệ liên tưởng như: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ

Thứ hai là biểu trưng dựa vào mối quan hệ kết hợp như điệp ngữ, tương phản Tuy nhiên trong luận văn tập trung chủ yếu vào ba biện pháp đó là: so sánh , ẩn dụ, hoán dụ

Biện pháp so sánh: phép so sánh là biện pháp đối chiếu sự vật, sự việc, hiện tượng này với các sự vật, sự việc hiện tượng khác, có nét tương đồng để tăng thêm sự lôi cuốn, gợi cảm gợi hình cho biểu đạt Biện pháp này được sử dụng rất phổ biên trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, nó giúp người nghe có thể hiểu điều mình muốn truyền đạt một cách nhanh chóng hơn

Tác dụng của biện pháp so là dùng để miêu tả đối tượng bằng những hình ảnh cụ thể, giải thích, đánh giá và biểu lộ tình cảm Có thể nói phép so sánh là biện pháp chính được sử dụng trong thành ngữ, tục ngữ Ví dụ tính gợi hình của phép so sánh (tâm hồn tôi là những buổi trưa hè, tỏa nắng xuống dòng sông lấp lánh) Hay (가랑잎에 불 붙듯)

có ý nghĩa là “như lửa bén lá khô” chỉ người hẹp bụng, nóng tính khi người khác chạm vào, nóng như Trương Phi

Phép so sánh có 2 kiểu so sánh: so sánh ngang bằng, dấu hiệu (trong câu xuất hiện các từ: như, tựa như, chẳng khác gì…) nhanh như chớp, chậm như rùa, ngu như bò, khỏe như voi, thân em như tấm lụa đào, thương người như thể thương thân Hay câu thành ngữ (가물에 콩 나듯) có ý nghĩa là “giống như đậu mọc mùa hạn”, ám chỉ sự vật sự việc, đồ vật hiếm có Hay câu (가을 바람에 새털 날듯) có nghĩa “giống như chim lông bay trong lá thu”, mô tả hành động, cử chỉ thật nhẹ nhàng

So sánh hơn kém: dấu hiệu trong câu xuất hiện các từ như: hơn, chẳng bằng…( học thầy không tày học bạn, cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn, thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi Hay câu (개미 한 잔등이만큼 걸린다) có ý nghĩa “chỉ bằng cái lưng kiến”, hàm ý thời gian, tiền bạc tốn chẳng đáng là bao nhiêu Hoặc là câu

Trang 17

(개는 잘 짖는다고 좋은 개가 아니다) có ý nghĩa là “chó sủa hay chẳng phải là chó tốt”, người nói hay không bằng người làm việc hiệu quả

Sau đây cùng phân tích một số câu thành ngữ, tục ngữ để hiểu rõ hơn về nghĩa, biện pháp so sánh đã được sử dụng trong câu

Thành ngữ “Khỏe như voi” là thành ngữ để nói những có sức khỏe, thành ngữ đó

đã lấy hình ảnh con voi tượng trưng cho sự to cao mạnh mẽ đẻ so sánh một người làm

việc không biết mệt và sức khỏe cường tráng “ Đen như than” hàm ý nói những người

đen thui, làm mọi cách nhưng vẫn đen, hàm ý nói cục than màu đen huyền bí , đen thui

vậy mà chúng ta đen ngang ngửa như cục than “Ngang như cua” dùng để ám chỉ những

người có hành động ngang ngược, hay cãi ngang, bàn bùi câu chuyện, cãi bướng, nói chuyện vào ngõ cụt Những người đó được so sánh với con cua vì con cua bò ngang, ám

chỉ như tính cách ngang ngược Thành ngữ “Câm như hến” hình ảnh con hến rất khó

nạy khi người ta dùng mọi thứu để cạy miệng nó, ám chỉ những người dù có nố chuyện đến họ hay có việc gì cần đến thì họ vẫn im lặng và không nói chuyện, cho dù có cạy

miệng cũng không nói “Cứng như đá” là chỉ những vật rất cứng không dễ làm vỡ được

Dùng hình ảnh so sánh, đá rất cứng nên muốn nói sự cứng cỏi của đá Câu tục ngữ “Công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” câu nói này nói rằng tình cảm cha mẹ và mọi thứ cha mẹ dành cho mình đều cao cả, luôn dành hết cho con cái, tình cảm và công lao cha mẹ dành cho con như ngọn núi, nước trong nguồn thì không bao giờ hết chảy cũng như cha mẹ không bao giờ hết thương con Hay câu (걸레 씹는 맛) có nghĩa “như nhai giẻ rách”, chán chường khi phải làm việc mình không thích (검둥개 멱감기듯) có nghĩa là “giống như chó đen quấn rong biển”, người xấu cố chấp, không thể nhận ra cái sai của mình

Biện pháp ẩn dụ: Ẩn dụ là một biện pháp tu từ dùng tên gọi của sự vật, hiện tượng này bằng tên của sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng giữa hai đối tượng về mặt nào đó (như tính chất, trạng thái, màu sắc, ) sử dụng biện pháp ẩn dụ nhằm mục đích chính là tăng khả năng gợi hình, gợi cảm Xét về mặt cấu trúc, ẩn dụ có các dạng, ẩn dụ bằng danh từ, ẩn dụ bằng tính từ, ẩn dụ bằng tính từ, ẩn dụ cả câu Xét về mặt liên tưởng thì ẩn dụ cũng có đa dạng loại, lấy cái cụ thể biểu thị cái trừu tượng, lấy cái cụ thể biểu thị cái cụ thể, lấy cái trừu tượng biểu thị cái trừu tượng, lấy cái trừu tượng biểu thị cái

Trang 18

cụ thể Ngoài ra cách nói ẩn dụ cũng được ví như cách nói ví von, không nêu rõ đối tượng nên ẩn dụ, thường có tính phiếm chỉ hoặc ám chỉ, cách nói ẩn dụ có phần bóng gió, xa xôi, chính vì thế mà ẩn dụ có thể đặt trong nhiều hoàn cảnh khác nhau mà vẫn phù hợp

Trong tiếng Hàn khi muốn nói, chúng ta xử lý công việc trôi chảy, làm việc thuận

lợi thì dùng biểu hiện “Như mèo lăn trứng” (고양이 달걀 굴리듯) xử lý công việc

trôi chảy hay khi muốn nói hàm ý nói kẻ khờ dại thật thà tin tưởng vào kẻ bất lương, kẻ

ác “Như mèo giữ chum thức ăn” (고양이 보고 반찬가게 지키라는 격) giao trứng

cho ác Hoặc câu nói hình ảnh của một người nào đó làm việc việc đại khái, không có

đầu đuôi làm cho có “Như mèo rửa mặt” (고양이 세수하듯 한다) làm việc qua loa

đại khái

Ẩn dụ có bốn hình thức chính:

Ẩn dụ hình thức: Phổ biến trong tiếng Việt, ẩn dụ có nhiều dạng và có nhiều chức năng khác nhau Phép ẩn dụ có thể sử dụng cùng với các biện pháp khác như so sánh, nhân hóa, để nâng cao hiệu quả biểu đạt ẩn dụ hình thức có thể được hiểu như sau, người hành văn dựa vào các điểm tương đồng hoặc các điểm giống nhau giữa các sự vật hiện tượng Và khi dùng ẩn dụ hình thức cũng là cách nói dấu đi một phần nghĩa Ví dụ (고와도 내 님이요, 미워도 내 님이다) có nghĩa là “tốt cũng là chồng tôi, xấu cũng là chồng tôi”, tạm dịch “chồng em áo rách em thương, chồng người áo gấm xông hương mặc người”, hình ảnh người chồng ẩn dụ cho dù chồng mình có xấu như nào vẫn sẽ mãi

là chồng của mình Hay câu (고운 사람 미운 데 없고 미운 사람 고운데 없다) có nghĩa

là “người đẹp không có chỗ xấu, người xấu không có chỗ đẹp”, tạm dịch là “thương nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau thì quả bồ hòn cũng méo”, hình ảnh ẩn dụ thương nhau thì có chuyện gì cũng thương, đã ghét nhau dù làm mọi thứ tốt đẹp cũng không hài lòng

Ẩn dụ cách thức: Là hình thức đặt ra vấn đề theo nhiều cách, ẩn dụ này hỗ trợ người nói diễn đạt hàm ý vào câu Ví dụ (곡식은 사람 목숨을 맡고 있다) có nghĩa là

“lương thực nuôi mạng người”, tạm dịch là “bưng bát cơm đầy nhớ ơn người cày cấy”, hình ảnh ẩn dụ phải luôn nhớ ơn người nông dân, người đã tạo ra lương thực cho chúng

ta ăn

Trang 19

Ẩn dụ phẩm chất: Là cách dùng các đặc tính và phẩm chất tương đồng của một sự vật và hiện tượng này đi cùng một sự vật hiện tượng khác Hay nói cách khác, ẩn dụ phẩm chất là dựa vào sự tương đồng về phẩm chất giữa sự vật, hiện tượng bày với sự vật, hiện tượng khác Ví dụ (까마귀도 내 땅 까미귀라면 반갑다) có ý nghĩa là “tuy là quạ nhưng quạ trên đất mình thì mừng” tạm dịch là “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục

ao nhà vẫn hơn”, ẩn dụ dù tốt hay xấu, những gì của quê hương mình thì cũng đều đáng quý

Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: là hình thức tu từ dựa trên các đặc tính riêng biệt của

sự vật nhất định Được nhận biết bằng một giác quan tuy nhiên lại được đặc tả bằng câu

từ cho các giác quan khác nhau Nói cách khác, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác là dựa trên

sự giống nhau về cảm giác Chuyển đổi từ hình thái cảm giác này sang hình thái cảm

giác khác “Trời nắng giòn tan” nói đến trời nắng to có thể làm khô mọi vật

Cũng giống như thành ngữ, tục ngữ trong Tiếng Việt thì thành ngữ tục ngữ trong

Tiếng Hàn cũng sử dụng biện pháp ẩn dụ như là “Xây cửa đỏ trên hang chuột”(쥐구멍에

홍살문 세우겠다) việc không đáng làm nhưng vẫn làm một cách không có suy nghĩ Hay

câu nói “Con chuột chở một hòn đảo muối trong đêm”(쥐가 하루밤에 소금 한 섬을

나른다) câu nói ẩn dụ rằng nếu chúng ta kiên trì từ những việc nhỏ thì có thể đạt được những điều to lớn Hoặc câu nói “Nhìn chuột thì thấy có khóa”(쥐도 한몫 보면 락이 있다) một câu nói ẩn dụ rằng sẽ có lúc bạn thành công nếu dồn hết tâm huyết vào một con đường

Biện pháp hoán dụ: là một biện pháp tạo hình dựa trên mối quan hệ liên tưởng, gọi tên hiện tượng, sự vật, khái niệm này bằng tên của một hiện tượng, sự vật khác có quan

hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng tính gợi hình gợi cảm cho diễn đạt Hoán dụ dựa vào mối quan hệ có thực, liên tưởng loggic, khách quan giữa các đối tượng

Về hình thức, biện pháp hoán dụ cũng giống như ẩn dụ là phô bày một vế Về nội dung, hoán dụ hình thành dựa trên cơ sở liên tưởng về mối quan hệ loggic khách quan giữa đối tượng biểu hiện và đối tượng được biểu hiện Về mặt lý thuyết, nếu có bao nhiêu mối quan hệ loggic khách quan là có bấy nhiêu khả năng cấu tạo biện pháp tu từ hoán dụ Trong thực tế, biện pháp này thường được cấu tạo dựa trên những mối quan hệ

Trang 20

sau: quan hệ logic khách quan giữa các bộ phận và toàn thể, giữ chủ thể và vật sở thuộc, giữa hành động và chủ thể

Khi đề cập đến biểu trưng của tục ngữ, người ta thường chú ý đến biện pháp ẩn dụ, nhưng có một bộ phận khá lớn được cấu bằng biện pháp hoán dụ

Có bốn kiểu hoán dụ chính thường được dùng:

Hoán dụ lấy bộ phận để chỉ toàn bộ phận, ví dụ (손도 안 대고 코 풀려고 한다)

có ý nghĩa là “không động tay mà chỉ muốn hỉ mũi”, lấy hình ảnh tay, mũi hoán dụ không muốn dùng sức mà chỉ muốn được lợi

Hoán dụ lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng, ví dụ (태산을 넘으면 평지를 본다) có ý nghĩa là “vượt qua dãy núi Thái là tới đồng bằng”, hoán dụ lấy hình ảnh núi vượt qua gian khổ sẽ đến lúc được sung sướng

Hoán dụ lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật, ví dụ (바늘 가는데 실 간다) có ý nghĩa là “kim đi đâu, chỉ đi đó” hình ảnh kim và chỉ hoán dụ là mối quan hệ mật thiết giữa hai người, hai sự vật Gắn bó như môi với răng, như hình với bóng

Hoán dụ lấy cái cụ thể để gọi trừu tượng, ví dụ (입으로 예의가 아닌 말은 하지 않아야 한다) có ý nghĩa là “đừng nói lời vô lễ, khi nói phải biết tôn trọng người nghe”, tạm dịch là lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau, hình ảnh cái miệng hoán dụ nếu chúng ta biết lựa lời nói thì mọi chuyện sẽ trở nên giải quyết dễ dàng hơn [3][4]

1.4 Nghĩa biểu trưng của tục ngữ Hàn Quốc

Quan niệm về nghĩa biểu trưng: Hiện nay có nhiều luồng quan điểm khác nhau về nghĩa biểu trưng của thành ngữ và tục ngữ nhưng phàn lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng, thành ngữ, tục ngữ có hai loại đó là nghĩa đen và nghĩa bóng

Nghĩa đen chính là một từ hoặc một câu thường là ý nghĩa ban đầu trong câu Nghĩa chính được cho là nghĩa gốc hoặc nghĩa đen của câu Những câu tục ngữ có nghĩa đen là những câu tục ngữ đơn thuần chỉ đúc kết kinh nghiệm thuộc về lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, hay các hiện tượng tự nhiên đề cập đến các đặc điểm địa phương Ví dụ

Trang 21

(삼년 먹여 기른 개가 주인 발등 문다) có nghĩa là “chó nuôi ba năm cắn chân chủ” nghĩa đen chính là “nuôi ong tay áo” mình giúp đỡ hết mình nhưng quay lại hại mình Nghĩa bóng là nghĩa mà được suy ra từ nghĩa đen của từ hay câu Hay còn gọi là nghĩa sau đó Thông thường phải đặt vào hoàn cảnh cụ thể mới có thể tìm được chính

xã nghĩa bóng trong câu

Chẳng hạn như “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Nghĩa đen chính là “ăn” là hoạt động

cơ miệng “Trồng” là hành động gieo hạt để cây phát triển và “quả” là thành quả đạt được, khi ăn những trái ngon cần nhớ đến công sức của người gieo trồng đãvất vả tạo

ra Nghĩa bóng “ăn” là hưởng thụ, “ quả” là thành quả Nhằm nhắn nhủ con người chúng

ta cần biết ơn công lao người gieo trồng

chính là “mất bò” là bị mất bò “lo” là hình ảnh lo lắng, bồn chồn và “làm chuồng” làm chuồng cho con bò Khi mất bò rồi mới bắt đầu làm chuồng để bò không chạy mất Nghĩa bóng là sau khi làm việc sai lầm rồi thì dù có làm như nào để sửa thì cũng không có ích gì

Theo quan điểm cá nhân của tác giả, tác giả cho rằng tục ngữ thường có hai nghĩa

đó là nghĩa đen và nghĩa biểu trưng Hiện tượng nhiều nghĩa của tục ngữ là hiện tượng phổ biến, và việc giải thích nghĩa của thành ngữ, tục ngữ không hề giản đơn chút nào Điều đó là do nguyên nhân về ngữ nghĩa, ngữ pháp và tri thức văn hóa của một cộng đồng Đặc biệt thành ngữ, tục ngữ Hàn Quốc rất phong phú và đa dạng và nó mang nhiều nghĩa biểu trưng như mang ý nghĩa giáo dục, đúc kết kinh nghiệm, phê phán châm biếm, khen ngợi

Trang 22

CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG HÌNH ẢNH CON VẬT TRONG

TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ

2.1 Khái quát chung thành ngữ, tục ngữ nói về động vật

Động vật có mối quan hệ gần gũi với con người, do đó chúng đi vào cách nói chuyện thường ngày của chúng ta một cách tự nhiên Hiện nay trong tiếng Hàn, thành ngữ tục ngữ nói về động vật rất đa dạng, phong phú Phần lớn động vật xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ với ý nghĩa biểu trưng và thường dựa vào những mối quan hệ liên tưởng tương đồng về đặc điểm hay thuộc tính của chúng

Động vật xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ ở đây như một dấu hiệu hình thức chứ không phải là các thành ngữ có cách thành tố liên quan đến các loài động vật, dùng để nói về chính các loài động vật đó Tuy nhiên số lượng thành ngữ, tục ngữ nói về các con vật một cách đơn thuần thì chiếm số lượng khá ít Người Hàn cũng như người Việt, chỉ mượn các con vật như một ám chỉ, một hình hình ảnh gần gũi, một đối tượng để quan sát, từ đó dùng nói về những phạm vi khác trong đời sống chúng ta thường ngày Tất cả những nghĩa mà người Hàn và người Việt đề cập đến đều khá phong phú, số lượng các câu thành ngữ, tục ngữ có nội dung đề cập đến con người có số lượng nhiều nhất Ngoài

ra, tác giả nhận thấy số lượng thành ngữ, tục ngữ nói về kinh nghiệm sống cũng có số lượng khá lớn Hơn nữa cũng không ít các thành ngữ, tục ngữ đề cập đến môi trường sống hay quan niệm sống cũng chiếm một số đáng kể

2.2 Nguồn gốc sử dụng hình ảnh con vật trong tục ngữ, thành ngữ

Trong văn hóa phương tây từ xưa đến nay, cách nhìn nhận và đánh giá về thế giới xung quanh đã được thể hiện rõ nét qua các triết lý mang tính khoa học nên phần nào đó người phương Tây coi trọng lối tư duy “duy lý” hơn “duy tình” Trái lại đối với người phương đông do điều kiện sinh tồn, thủy nhưỡng khác biệt so với các nước phương tây nên họ nhìn nhận và đánh giá về thế giới xung quanh bằng trực quan phức tạp Trong cuộc sống hằng này, phương thức tư duy trực giác được thể hiện thành thói quen như trực quan cảm tính, đánh giá sự vật, con người thông qua vẻ bên ngoài Theo quan điểm của người phương Đông thì Trời - Đất - Người hòa là một Nguồn gốc văn hóa nông nghiệp khiến con người học cách sống hài hòa với tự nhiên, thấy mình là một phần không thể thiếu của tự nhiên Do đó người phương đông xem động vật, thiên nhiên, cây

Trang 23

cỏ là những đối tượng rất gần gũi trong cuộc sống Thiên nhiên đóng vai trò rất lớn trong đời sống của cư dân nông nghiệp, đó vừa là môi trường vừa là nguồn lợi nhưng cũng vừa là nỗi lo âu Điều này xuất phát từ cách cảm nhận về tự nhiên của người xưa chính

là vạn vật hữu hình

Mỗi quốc gia đều có nền văn hóa đặc trưng riêng, cái nhìn của con người về thế giới quan cũng được thể hiện qua văn cổ, thơ vịnh, câu tục ngữ, thành ngữ Chứa đựng nhiều bài học quý giá nên được sử dụng một cách phổ biến trong đời sống Chúng ta có thể bắt gặp được hình ảnh cây cối, con vật hay cách vân động của tự nhiên trong câu tục ngữ, thành ngữ phương đông nói chung cũng như trong các câu tục ngữ, thành ngữ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam nói riêng Mỗi đối tượng đều mang ý nghĩa biểu trưng nhất định tiêu biểu cho văn hóa, tín ngưỡng, tập tục và hầu hết là đóng vai trò to lớn trong đời sống con người Đặc biệt chúng ta có thể thấy hình ảnh các con vật được con người sử dụng vào thành ngữ nhằm chuyển tải một số đặc điểm văn hóa, cụ thể trong văn hóa Hàn Quốc

Trong văn hóa người Việt, nền văn hóa mang đậm dấu ấn nông nghiệp, người Việt sống trong môi trường có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có đồng bằng rộng lớn, nơi cư sống chủ yếu ở đồng bằng ven sông ven biển nên hình thành nền văn hóa lúa nước, lối sống ven sông ven biển, phụ thuộc vào tự nhiên mà sinh sống nên họ thường thu thập, lượm nhặt thức ăn, ít cạnh tranh lẫn nhau, thường tụ tập thành những tập thể người cùng sinh sống, đòi hỏi tính cộng đồng cao ở một phạm vi rộng Cũng vì thế mà tộc Việt đề cao tính cộng đồng, phải bình đẳng, tôn trọng nhau, chấp nhận nhau và bỏ qua cho nhau

Trong khi đó nguồn gốc tộc người Hàn là Siberia thiên về lối sống du mục nên họ

có tính cách nổi loạn, cạnh tranh gay gắt trong rừng, thời tiết khắc nghiệt, dần tạo thành những nỗi niềm không thể thổ lộ đã chồng chất trong lòng và dần trở thành hận “Hận”

là một nét rất đặc thù của dân tộc người Hàn, tạo nên một xu hướng tình cảm mang

“ màu sắc Hàn” rất riêng trong nghệ thuật văn chương, nghệ thuật, trong các câu tục ngữ, thành ngữ sau này Địa hình núi đá ở korea buộc phải sống phân tán, không tạo nên những cánh đồng lớn, ít đòi hỏi tính cộng đồng cao nên sự liên kết cộng đồng của họ ít chặc chẽ, họ sống trong môi trường khắc nghiệt tập trung thành nhóm người săn bắt và

ăn thường xuyên các loài động vật Cũng chính vì thế hình tượng con vật trong văn hóa người Hàn có vai trò rất lớn trong sự hình thành văn hóa Hàn Quốc

Trang 24

Người Việt có nền văn minh lúa nước, tiếp xúc với các con vật như trâu, bò, cóc, rắn nên họ xem chúng như là con vật linh thiên, được tạc tượng, vẽ cùng với các vị thần thờ cúng trong các đình làng Khi nền nông nghiệp lúa nước dần phổ biến, các vấn đề

về thiên tai dịch bệnh liên quan đến cây lúa cũng càng nhiều, cũng vì thế chúng được xem như những linh vật hộ mệnh xua đuổi những điều xấu trong làng, thúc đẩy sản xuất, được người dân thờ cúng trong đình làng với mong muốn chế ngự thiên nhiên, cầu mong một mùa vụ mới được bội thu, cầu mong sự may mắn, hạnh phúc Người Hàn cũng vậy, nguồn gốc cư dân du mục nên họ săn bắt các loài động vật hằng ngày, xem chúng như

là nguồn sống nên phần nào đó con vật đã được khắc sâu vào tiềm thức Có thể thấy rõ nét qua truyền thuyết bà tổ gấu của Hàn Quốc Người Hàn sử dụng hình ảnh con hổ và gấu là hai con vật có sức mạnh lớn nhất ở núi, là linh vật quyền uy nhất trong các con vật ngự trị ở núi , hai loài này còn đặc trưng bởi tính hung dữ, tàn bạo, liều lĩnh, dám đối địch với muôn loài Người Hàn xem gấu, hổ là thần thú và cũng là tổ tiên của mình.Về mặt thần học, người ta nói rằng trong thần thoại Dangun, hổ là biểu tượng của văn hóa săn bắt.Khi xã hội Hàn Quốc dựa vào săn bắt, hái lượm và dần đi đến nền văn hóa nông nghiệp, hổ được xem là linh vật mang lại nhiều tài lộc Với người Hàn, kinh nghiệm, kỹ thuật và sự từng trải là một trong những yếu tố đem lại hiệu quả cao trong hoạt động săn bắt thú rừng Để quyết định sự thành công trong các cuộc đi săn, người dân luôn kết hợp nó với một dạng tri thức khác tồn tại dưới hình thức tín ngưỡng Đó là yếu tố chi phối rất lớn đến hoạt động săn bắt, họ quan niệm, thần(신) là đấng siêu nhiên luôn theo dõi họ Do vậy, trong hoạt động săn bắt thú, những nỗ lực cá nhân của con người chỉ là yếu tố nhỏ, quyết định săn được hay không là ý muốn của các vị thần ngự

trị Xuất phát từ niềm tin và tín ngưỡng như vậy nên người dân phải cúng trước khi đi

săn và làm lễ tạ ơn sau khi săn được con thú Ngoài ra, trước mùa săn bắt, người Hàn còn làm lễ cúng thần rừng, thần thú - thần quản lý toàn bộ đất đai, cây cối, muông thú

và cả con người trong một khu vực Lễ cúng thần rừng với mục đích cầu mong thần đem đến cho cộng đồng một mùa săn bắt đạt kết quả tốt, những người đi săn tránh khỏi mọi tai nạn, không bị thương tật do thú tấn công, toát khỏi sự dẫn lối của ma quỷ

2.3 Hình ảnh biểu trưng một số con vật tiêu biểu trong tục ngữ Hàn Quốc

Từ thời tiền sử, con người đã biết sử dụng các biểu tượng động vật có ý nghĩa nhất định để thể hiện lối sống, tâm tính, ý tưởng của người đương thời Nhiều loài được xuất

Ngày đăng: 27/11/2022, 08:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyen, D. H. (2018). Tìm hiểu thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt dưới góc nhìn của quy luật vận động và phát triển. VNU Journal of Foreign Studies, 34(1).[1] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt dưới góc nhìn của quy luật vận động và phát triển
Tác giả: Nguyen, D. H
Nhà XB: VNU Journal of Foreign Studies
Năm: 2018
3. VIỆT, T. BIỆN PHÁP CHUYỂN NGHĨA ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ. LỜI NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC, 3.[3] Sách, tạp chí
Tiêu đề: BIỆN PHÁP CHUYỂN NGHĨA ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ
Tác giả: VIỆT, T
4. Hà, N. T. T. (2011). ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ TỪ VỰNG Ở MỘT SỐ ĐỘNG TỪ CHỈ HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG TIẾNG VIỆT. Hue University Journal of Science: Social Sciences and Humanities, 68(5).[4] Sách, tạp chí
Tiêu đề: ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ TỪ VỰNG Ở MỘT SỐ ĐỘNG TỪ CHỈ HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG TIẾNG VIỆT
Tác giả: Hà, N. T. T
Nhà XB: Hue University Journal of Science: Social Sciences and Humanities
Năm: 2011
5. Hoàng, T. C. (2016). NGHĨA VÀ VAI TRÒ TẠO NGHĨA BIỂU TRƯNG CHUNG CỦA CÁC THÀNH TỐ TRONG THÀNH NGỮ.[5] Sách, tạp chí
Tiêu đề: NGHĨA VÀ VAI TRÒ TẠO NGHĨA BIỂU TRƯNG CHUNG CỦA CÁC THÀNH TỐ TRONG THÀNH NGỮ
Tác giả: Hoàng, T. C
Năm: 2016
6. Lê Huy Khảng, Lê Cát An Châu (2005), Tục ngữ - thành ngữ tiếng Hàn, NXB. Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.[6] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ - thành ngữ tiếng Hàn
Tác giả: Lê Huy Khảng, Lê Cát An Châu
Nhà XB: NXB. Trẻ
Năm: 2005
7. Duyên, Lương. "Hình ảnh loài vật trong từ ngữ dân gian." Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống (1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình ảnh loài vật trong từ ngữ dân gian
8. Nguyễn, T. D. (2013). Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn: Luận văn ThS. Khu vực học: 60 31 50 (Doctoral dissertation, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn: "Luận văn ThS. Khu vực học: 60 31 50
Tác giả: Nguyễn, T. D
Năm: 2013
10. Hiếu, V. T. (1998). Tục ngữ các nước trên thế giới, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ các nước trên thế giới
Tác giả: Hiếu, V. T
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1998
11. Trịnh, Đ. H., & Đỗ, T. T. (2007). Đặc điểm cấu trúc của các đơn vị trung gian giữa thành ngữ và tục ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm cấu trúc của các đơn vị trung gian giữa thành ngữ và tục ngữ
Tác giả: Trịnh, Đ. H., Đỗ, T. T
Năm: 2007
12. Đỗ, T. K. L. (2006). Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa-ngữ dụng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa-ngữ dụng
Tác giả: Đỗ, T. K. L
Năm: 2006
13. Lê, T. T. (2009). Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ Hàn-Việt có yếu tố chỉ tên gọi động vật (Nhìn từ góc độ ngôn ngữ-văn hóa): Luận văn ThS. Khu vực học: 60 31 50 (Doctoral dissertation, Khoa học Xã hội và Nhân văn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ Hàn-Việt có yếu tố chỉ tên gọi động vật (Nhìn từ góc độ ngôn ngữ-văn hóa)
Tác giả: Lê, T. T
Năm: 2009
14. Lê, T. H. (2015). Thành ngữ, tục ngữ Hàn Quốc nói về động vật và thực vật (một vài so sánh với Việt Nam) (Doctoral dissertation, Đại học quốc gia Hà nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ, tục ngữ Hàn Quốc nói về động vật và thực vật (một vài so sánh với Việt Nam)
Tác giả: Lê, T. H
Nhà XB: Đại học quốc gia Hà nội
Năm: 2015
2. Nguyên, T. (2006). Phân biệt thành ngữ và tục ngữ bằng mô hình cấu trúc. Ngôn ngữ, 5, 19-32.[2] Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w