1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI DỰ THI “TÌM HIỂU HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NĂM 2015”

49 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Năm 2015
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật và Pháp Luật
Thể loại Bài dự thi
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 321,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI DỰ THI BÀI DỰ THI “TÌM HIỂU HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM” Câu 1 Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến n[.]

Trang 1

BÀI DỰ THI

“TÌM HIỂU HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”

Câu 1 Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có mấy bản Hiến pháp? Các bản Hiến pháp đó được Quốc hội thông qua vào ngày, tháng, năm nào?

Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có 05 bản Hiến pháp

- Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ

Cộng hòa được Quốc hội thông qua vào ngày 9 tháng 11 năm 1946

- Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

thông qua vào ngày 31/12/1959

- Hiến pháp năm 1980 được Quốc hội khoá VI, tại kỳ họp thứ 7 ngày

18-12-1980, đã nhất trí thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 1980

- Hiến pháp năm 1992 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt

nam thông qua ngày 15/4/1992, được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam sửa đổi, bỏ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 vào ngày25/12/2001

- Hiến pháp pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

2013 là bản Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được

Quốc hội Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua vào ngày vào sángngày 28 tháng 11 năm 2013 Hiến pháp có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệthống pháp luật và đời sống chính trị của mỗi quốc gia, là Tuyên ngôn của mỗiquốc gia, mỗi Nhà nước Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của Nhànước Các quy định của Hiến pháp là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, hoànthiện hệ thống pháp luật và tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước Lịch sử lậpHiến của Việt Nam đã trải qua 05 bản Hiến pháp, đó là: Hiến pháp 1946, Hiếnpháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm2001) và Hiến pháp năm 2013 Mỗi bản Hiến pháp đều gắn liền với một giaiđoạn phát triển của cách mạng, của dân tộc

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngay sau khi đọc bản Tuyênngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại phiên họp đầutiên của Chính phủ Lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề về sự cầnthiết phải có một bản Hiến pháp cho nhà nước Việt Nam Mười tháng sau ngàyTổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của đất nước, ngày 9.11.1946, Hiến phápnăm 1946 được Quốc hội Khóa I chính thức thông qua tại Kỳ họp thứ 2 gồm 70điều Hiến pháp năm 1946 ra đời là sự khẳng định mạnh mẽ về mặt pháp lý chủ

Trang 2

quyền quốc gia của nhân dân Việt Nam, sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ củanước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắtthành hai miền, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và từng bước đi lên xâydựng CNXH, miền Nam tạm thời đặt dưới sự kiểm soát của Mỹ - nguỵ Nhiệm

vụ chính trị quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ này là lãnh đạonhân dân tiến lên xây dựng thành công CNXH ở miền Bắc và tiến hành cuộcđấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam, thống nhất đất nước, giành lại nềnđộc lập trọn vẹn cho dân tộc Sự thay đổi của tình hình chính trị, kinh tế, xã hộinói trên đã làm cho một số quy định của Hiến pháp 1946 không còn phù hợp Vìvậy, yêu cầu cần phải sửa đổi Hiến pháp 1946 đã được đặt ra Để thực hiện đượcnhiệm vụ này, một Ban sửa đổi Hiến pháp đã được thành lập với 28 thành viên,

do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng Ban Ngày 31.12.1959, Bản dự thảo Hiếnpháp đã được Quốc hội khóa I thông qua tại kỳ họp thứ 11 Ngày 01.01.1960,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh công bố Hiến pháp năm 1959

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 kết thúc vẻ vang sự nghiệp chống Mỹ, cứunước, đất nước hoàn toàn thống nhất Ngày 25.4.1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu

ra Quốc hội chung của cả nước đã thành công rực rỡ Kỳ họp đầu tiên của Quốchội khóa VI quyết định đổi tên nước thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam Cách mạng nước ta đã chuyển sang giai đoạn mới, với một sứ mệnh lịch

sử mới Đến thời điểm này, những quy định của Hiến pháp năm 1959 đã khôngcòn phù hợp, yêu cầu thực tế đặt ra phải xây dựng một bản Hiến pháp mới phùhợp với điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội, đặc điểm của Nhà nước trong giaiđoạn cách mạng mới, lịch sử lập Hiến Việt Nam lại bước sang một trang mới.Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã chỉ rõ nhiệm vụ phải khẩntrương tiến hành sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1959 Hiến pháp 1980 đượcQuốc hội khóa VI kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1980, Hiếnpháp năm 1980 là Tuyên ngôn của Nhà nước chuyên chính vô sản dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp của thời kỳ xây dựng CNXH trênphạm vi cả nước

Hiến pháp năm 1980, sau một thập kỷ được ban hành đã trở nên không phùhợp với tình hình thế giới, với những chủ trương đổi mới kinh tế của Đảng.Chính vì vậy, ngày 15.4.1992, tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa VII, đã thôngqua bản Hiến pháp mới (Hiến pháp năm 1992) Đây là sự thể chế hóa đường lốiphát triển đất nước trong giai đoạn mới, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việcđẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đồng bộ và toàn diện trên mọi lĩnh vực Cùng với

sự vận động và phát triển mạnh mẽ của đất nước, yêu cầu sửa đổi Hiến pháp lạiđược đặt ra

Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ IX, đã xác định: "Khẩn trương nghiêncứu đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992,phù hợp với tình hình mới.", mà trọng tâm của việc sửa đổi lần này là các quy

Trang 3

định về bộ máy Nhà nước Trên tinh thần đó, ngày 25.12.2001, tại Kỳ họp thứ

11, Quốc hội Khóa X đã chính thức thông qua Nghị quyết số 51/2001/QH10 sửađổi, bổ sung 23 Điều của Hiến pháp 1992

Hiến pháp năm 1992 là Hiến pháp của thời kỳ đầu đổi mới đất nước, đếnnay đất nước ta đã có nhiều thay đổi trong bối cảnh quốc tế đang có những diễnbiến sâu sắc và phức tạp Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội giai đoạn 2011-2020 Nghị quyết Đại hội Đảng XI đã nêu rõ nhiệm vụ

“Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã được sửađổi, bổ sung năm 2001) phù hợp với tình hình mới Ngày 28/11/2013, tại kỳ họpthứ 6, Quốc hội khóa XIII đã chính thức thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam

Hiến pháp được sửa đổi, bổ sung năm 2013 bao gồm 11 chương, 120 điều,giảm 01 chương và 27 điều, có nhiều điểm mới cả về nội dung và kỹ thuật lậphiến; thể hiện rõ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời đã thể chế hóa các quan điểm của Đảng trongphát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ và bảo vệ môitrường theo hướng cơ bản và khái quát hơn so với Hiến pháp năm 1992.Hiến pháp khẳng định Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân,nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam; là lực lượng lãnh đạo Nhà nước

và xã hội; gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát củanhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.Hiến pháp cũng thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền con người,quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; ghi nhận quyền sống; quy định quyềnhiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác Mọi người có quyền tự do kinh doanhtrong những ngành nghề mà pháp luật không cấm (đây là quy định tiến bộ so vớiHiến pháp 1992)

Khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vai trò của Mặt trận Tổquốc Việt Nam, công đoàn, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức khác

trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đồng thời, nhấn mạnh “bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân”, là nghĩa vụ thiêng

liêng và quyền cao quý của công dân

Hiến pháp sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014 Đồng thời quyđịnh, các văn bản pháp luật ban hành trước ngày 01/01/2014 phải được rà soátlại để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với Hiến pháp 2013

Câu 2 Bản Hiến pháp mới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/11/2013 (Hiến pháp năm 2013) có hiệu lực từ ngày, tháng, năm nào? So với Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) có bao nhiêu điều được giữ nguyên? Có bao nhiêu điều

Trang 4

được sửa đổi, bổ sung? Điều sửa đổi, bổ sung nào bạn tâm đắc nhất? Vì sao?

- Bản Hiến pháp mới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam thông qua ngày 28/11/2013 (Hiến pháp năm 2013) có hiệu lực từ ngày 01tháng 01 năm 2014

- So với Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) có 07 điềuđược giữ nguyên, sửa đổi 101 điều, bổ sung 12 điều

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ

6 thông qua ngày 28/11/2013, Chủ tịch nước công bố ngày 08/12/2013, có hiệulực từ ngày 01/01/2014 Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện,đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế củanước ta trong thời kỳ mới, đồng thời đánh dấu bước phát triển mới của lịch sửlập hiến Việt Nam Việc Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp (sửa đổi) tại

Kỳ họp thứ sáu (ngày 28-11-2013) là một sự kiện chính trị - pháp lý quan trọngbậc nhất của đất nước trong năm 2013, thể hiện sự kết tinh trí tuệ của cả dân tộc

ta trên con đường phát triển Hiến pháp (sửa đổi) có rất nhiều đổi mới và chínhnhững đổi mới đó là cơ sở hiến định quan trọng mở đường cho việc tiếp tục cảicách, đổi mới để đất nước ta phát triển

Về cơ cấu của Hiến pháp: Hiến pháp năm 2013gồm 11 chương, 120 điều

So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 giảm 1 chương, 27 điều,trong đó có 12 điều mới (Điều 19, 34, 41, 42, 43, 55, 63, 78, 111, 112, 117 và118); giữ nguyên 7 điều (Điều 1, 23, 49, 86, 87, 91 và 97) và sửa đổi, bổ sung

101 điều còn lại

Hiến pháp năm 2013 có cơ cấu mới và sắp xếp lại trật tự các chương, điều

so với Hiến pháp 1992, như: đưa các điều quy định các biểu tượng của Nhànước (quốc kỳ, quốc huy, quốc ca ) ở Chương XI Hiến pháp năm 1992 vàoChương I "Chế độ chính trị" của Hiến pháp năm 2013 Đổi tên Chương V Hiếnpháp năm 1992 “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” thành “Quyền conngười, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” và đưa lên vị trí trang trọng củaHiến pháp là Chương II ngay sau Chương I "Chế độ chính trị" Chương II "Chế

độ kinh tế" và Chương III "Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ" của Hiếnpháp năm 1992 có tổng cộng 29 điều đã được Hiến pháp năm 2013 gộp lại thànhmột chương là Chương III "Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, côngnghệ và mội trường" và chỉ còn 14 điều nhưng quy định cô đọng, khái quát,mang tính nguyên tắc so với Hiến pháp năm 1992

Khác với các bản Hiến pháp trước đây, lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 cómột chương mới quy định về "Hội đồng bầu cử Quốc gia, Kiểm toán nhànước” (Chương X) Ngoài ra, Hiến pháp năm 2013 còn đổi tên Chương IX Hiếnpháp năm 1992 "Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND)"thành "Chính quyền địa phương" và đặt Chương IX"Chính quyền địa phương"sau Chương VIII "Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân"

Trang 5

Về hình thức thể hiện của Hiến pháp năm 2013: so với với Hiến pháp năm

1992, hình thức thể hiện của Hiến pháp năm 2013 từ Lời nói đầu đến các điềuquy định cô đọng hơn, khái quát, ngắn gọn, chính xác, chặt chẽ hơn Ví dụ, Lờinói đầu Hiến pháp năm 2013 được rút ngắn, cô đọng, súc tích, đủ các ý cần thiếtnhưng chỉ có 3 đoạn với 290 từ so với 6 đoạn với 536 từ của Hiến pháp năm1992

- Điều sửa đổi, bổ sung tâm đắc nhất:

Nội dung những điểm mới và bổ sung trong nội dung các chương của Hiến pháp năm 2013“Chương I “Chế độ chính trị”: gồm 13 điều, từ Điều 1

đến Điều 13 So với Hiến pháp 1992, Hiến pháp năm 2013 có những điểm mới

cơ bản sau đây:

Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định những giá trị nền tảng

và mục tiêu cơ bản của của Nhà nước CHXHCN Việt Nam (Điều 1, Điều 3),

đồng thời khẳng định rõ hơn chủ quyền nhân dân: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ”, những bảo đảm thực hiện chủ quyền nhân dân đầy đủ hơn: "bằng dân chủ trực tiếp” ]và "bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, HĐND và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước", với chế

độ bầu cử dân chủ, quyền cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội và HĐND, cũngnhư cơ chế không chỉ phân công, phối hợp mà còn kiểm soát giữa các cơ quannhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước (Điều 2, Điều 6, Điều 7).Những quy định mới này thể hiện rõ hơn bản chất dân chủ và pháp quyền củaNhà nước ta Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, tất cả các

từ “Nhân dân” đều được viết hoa một cách trang trọng, thể hiện sự tôn trọng và

đề cao vai trò của Nhân dân với tư cách là chủ thể duy nhất của toàn bộ quyềnlực nhà nước ở nước ta

Thứ hai, Điều 4 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò lãnh

đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; đồng thời bổ

sung thêm trách nhiệm của Đảng trước Nhân dân:“Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”.

Thứ ba, Điều 9 liệt kê đầy đủ các tổ chức chính trị - xã hội gồm: Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanhniên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binhViệt Nam và xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức này Đặc biệt, Điều

9 Hiến pháp năm 2013 bổ sung vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong

việc “tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (khoản 1), đồng thời quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (khoản 3)

Trang 6

Thứ tư, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định chủ quyền quốc gia

và đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác của Nhànước CHXHCN Việt Nam với tất cả các nước trên thế giới; đồng thời cam kết

"tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên", khẳng định Việt Nam "là bạn, đối tác tin cậy và thành viên

có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc" (Điều 11,

Điều 12)

Thứ năm, kế thừa cách quy định của Hiến pháp năm 1946, Điều 13 Chương

này quy định về Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, ngày Quốc khánh và Thủ đô chứkhông để một chương riêng (Chương XI) như Hiến pháp năm 1992

Chương II “Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”: gồm 36 điều, từ Điều 14 đến Điều 49 Trong 11 chương của Hiến pháp

năm 2013, đây là chương có số điều quy định nhiều nhất (36/120 điều), cónhiều đổi mới nhất cả về nội dung quy định, cả về cách thức thể hiện Cụ thể

Trước hết, khác với tất cả các bản Hiến pháp trước đây, lần đầu tiên Hiến pháp

năm 2013 xác định rõ và quy định ngay tại Điều 3 về Nhà nước có trách nhiệm

"công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân" Vì

vậy, khi quy định quyền con người, quyền công dân, hầu hết các điều của Hiến

pháp năm 2013 quy định trực tiếp "mọi người có quyền ", "công dân có quyền " để khẳng định rõ đây là những quyền đương nhiên của con người, của công dân được Hiến pháp ghi nhận và Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền này, chứ không phải Nhà nước “ban phát”, “ban ơn” các quyền này cho con người, cho công dân "Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng" (khoản 2 Điều 14).

Đây chính là nguyên tắc hiến định rất quan trọng về quyền con người,quyền công dân và theo nguyên tắc này, từ nay không chủ thể nào, kể cả các cơquan nhà nước được tùy tiện cắt xén, hạn chế các quyền con người, quyền côngdân đã được quy định trong Hiến pháp Cũng từ nguyên tắc này, các quy địnhliên quan đến các quyền bất khả xâm phạm của con người, của công dân (nhưquyền được sống, quyền không bị tra tấn, quyền bình đẳng trước pháp luật v.v.)

là các quy định có hiệu lực trực tiếp; chủ thể của các quyền này được viện dẫn

các quy định của Hiến pháp để bảo vệ các quyền của mình khi bị xâm phạm.Các quyền, tự do cơ bản khác của con người, của công dân và quyền được bảo

vệ về mặt tư pháp cần phải được cụ thể hóa nhưng phải bằng luật do Quốc hội,

-cơ quan đại diện quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân ban hành chứ không

phải quy định chung chung “theo quy định pháp luật”] như rất nhiều điều củaHiến pháp năm 1992 quy định v.v

Trang 7

Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ quyền nào là quyền con người,

quyền nào là quyền công dân và quy định chương này theo thứ tự: đầu tiên làcác nguyên tắc hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân; tiếp đến là các quyền dân sự, chính trị rồi đến các quyền kinh tế, vănhóa, xã hội và cuối cùng là các nghĩa vụ của cá nhân, của công dân Hầu hết các

điều của chương này trong trong Hiến pháp năm 2013 thay vì quy định “công dân” như Hiến pháp năm 1992 đã quy định “mọi người”, “không ai” Điều này

có ý nghĩa rất quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới về nhận thức lý luận vàgiá trị thực tiễn khi không đồng nhất quyền con người với quyền công dân

Thứ ba, Hiến pháp năm 2013 quy định một số quyền mới của con người, quyền

và nghĩa vụ mới của công dân, như: "Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác" (Điều 17); "Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật" (Điều 19); "Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình " (Điều 21); "Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội" (Điều 34); "Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa" (Điều 41); "Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp" (Điều 42); "Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường" (Điều 43)

v.v Điều này thể hiện bước tiến mới trong việc mở rộng và phát triển các quyền,phản ảnh kết quả của quá trình đổi mới hơn 1/4 thế kỷ ở Việt Nam Nội dungcủa các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy địnhtrong các điều khác của Hiến pháp năm 2013 phù hợp với các điều ước quốc tế

về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, nhất là Công ước quyền conngười về chính trị, dân sự và Công ước quyền con người về kinh tế, văn hóa và

xã hội năm 1966 của Liên hợp quốc Đây cũng chính là sự khẳng định cam kếtmang tính hiến định của Nhà nước ta trước Nhân dân và trước cộng đồng quốc

tế về trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người,quyền công dân ở Việt Nam

Chương III “Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường”: từ Điều 50 đến Điều 63 Đây là chương gộp nội dung quy định

của Chương II "Chế độ kinh tế" (15 điều) và Chương III "Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ" (14 điều) của Hiến pháp năm 1992 đã quy định quá chi

tiết, cụ thể, nhưng mang tính tuyên ngôn, ít tính quy phạm Chương III Hiếnpháp năm 2013 chỉ còn 14 điều, quy định những chính sách kinh tế - xã hộimang tính nguyên tắc, khái quát, cô đọng thể hiện sự gắn kết chặt chẽ, hài hòagiữa phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, côngnghệ và môi trường nhằm hướng đến sự phát triển có tính chất bền vững.Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định chính sách phát triển nền kinh tế thịtrường nhiều thành phần định hướng XHCN nhưng không liệt kê các thành phần

Trang 8

kinh tế; vẫn ghi nhận kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo nhưng không còn

ghi: được củng cố và phát triển; tiếp tục khẳng định: "đất đai thuộc sở hữu của toàn dân" nhưng quy định rõ "do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý" (Điều 53) Hiến pháp năm 2013 vẫn quy định về Nhà nước thu hồi đất

nhưng xác định rõ hơn về mục đích thu hồi, nguyên tắc công khai, minh bạch và

chế độ bồi thường: “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh;

phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (tác giả nhấn

mạnh) Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật" (Điều 54).

Hiến pháp năm 1992 bổ sung về: thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế - xã hội và quản lý nhà nước(Điều 55); về quản lý ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và các nguồn tàichính công khác (Điều 56); về sử dụng, quản lý, bảo vệ môi trường (Điều 63)v.v

Chương V “Quốc hội”: gồm 17 điều (từ Điều 69 đến Điều 85) Về cơ bản,

Hiến pháp năm 2013 kế thừa các quy định của Chương VI "Quốc hội" của Hiếnpháp năm 1992, nhưng có một số sửa đổi, bổ sung quan trọng sau:

Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013 vẫn xác định: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao

nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam" nhưng không có nghĩa là "cơ quan có toàn quyền",

"là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp" như Hiến pháp năm 1980

và Hiến pháp năm 1992 quy định Vì thế Hiến pháp năm 2013 chỉ quy

định: "Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước"

(Điều 69).Những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể thuộc quyền hành pháp chuyển vềcho Chính phủ, Quốc hội chỉ quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách và nhiệm

vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, không còn quyết định kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, 5 năm để Chính phủ chủ động, năngđộng hơn trong điều hành, quản lý đất nước

Thứ hai, bổ sung thẩm quyền của Quốc hội liên quan đến thành lập hai cơ

quan mới là Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước; đặc biệt là thẩmquyền của Quốc hội trong việc phê chuẩn, miễn nhiệm và cách chức Thẩm phánTANDTC theo đề nghị của Chánh án TANDTC để làm rõ hơn vai trò của Quốchội trong mối quan hệ với TANDTC, nâng cao vị thế của đội ngũ Thẩm phántheo tinh thần cải cách tư pháp (Điều 70)

Thứ ba, liên quan đến cơ quan thường trực của Quốc hội, Hiến pháp năm 2013

quy định bổ sung một số thẩm quyền quan trọng cho Ủy ban thường vụ Quốc

hội, như: "phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước CHXHCN Việt Nam" (Điều 74); đặc biệt là thẩm quyền "quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh,

Trang 9

thành phố trực thuộc trung ương" (khoản 8 Điều 74) chứ không giao cho Chính

phủ thực hiện quyền này như Hiến pháp năm 1992 quy định

Thứ tư, khác Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định cho Quốc hội có quyền quyết

định kéo dài (hoặc rút ngắn) nhiệm kỳ của Quốc hội mà không giới hạn thời

gian kéo dài, khoản 3 Điều 71 Hiến pháp năm 2013 xác định rõ: “Việc kéo dài nhiệm kỳ của một khóa Quốc hội không được quá mười hai tháng, trừ trường hợp có chiến tranh”.

Ngoài ra, để những người được Quốc hội bầu giữ các chức vụ chủ chốt của

bộ máy nhà nước có ý thức sâu sắc về danh dự và trọng trách của mình trướcQuốc hội, trước Tổ quốc và Nhân dân, Hiến pháp năm 2013 có quy định mới là:

"Sau khi được bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp” (khoản 7 Điều 70) Quốc hội, nhân dân hy vọng, đặt

niềm tin và giám sát việc thực hiện lời tuyên thệ này của những người giữ trọngtrách của các cơ quan then chốt của Nhà nước

Chương VI “Chủ tịch nước”: gồm 8 điều, từ Điều 86 đến Điều 93 Hiến

pháp 2013 vẫn quy định: Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước về đối nội và đối ngoại (Điều 86) Tiêu chuẩn, điều kiện và thẩm quyền

của Chủ tịch nước về cơ bản vẫn giữ như Hiến pháp 1992, nhưng có hai nộidung được bổ sung mới là:

Thứ nhất, Điều 88 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn vai trò thống lĩnh lực lượng vũ trang, quy định quyền của Chủ tịch nước“quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân;

bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục

Thứ hai, Điều 90 Hiến pháp năm 2013 quy định: Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước”.

Chương VII “Chính phủ”: gồm 8 điều, từ Điều 94 đến Điều 101 Chương

này có một số điểm mới so với Hiến pháp 1992 là:

Thứ nhất, lần đầu trong lịch sử lập hiến của nước ta, Hiến pháp năm 2013

chính thức khẳng định: Chính phủ "là cơ quan thực hiện quyền hành pháp", mặc

dù Điều 94 vẫn còn quy định: "Chính phủ "là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam", "là cơ quan chấp hành của Quốc hội" Điều

này thể hiện mong muốn thực hiện nguyên tắc phân công quyền lực nhà nướcgiữa các cơ quan nhà nước mà Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001)

đã quy định, nhưng đồng thời vẫn giữ nguyên tắc tập quyền XHCN với đặcđiểm về vị trí tối cao và toàn quyền của Quốc hội trong mối quan hệ với các cơquan nhà nước khác, trong đó có Chính phủ

Thứ hai, quy định cụ thể về vai trò và trách nhiệm của các thành viên Chính

phủ Quy định về trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ trong việc thực hiện chế

Trang 10

độ báo cáo trước Nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng vềnhững vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ và Thủtướng Chính phủ.

Thứ ba, Hiến pháp năm 2013 không còn giao cho Chính phủ quyền quyết

định về điều chỉnh địa giới hành chính (thực tế là cả chia tách, thành lập mới)các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh như như khoản 10 Điều 112 Hiến pháp năm

1992 quy định

Chương VIII “Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân”: gồm 8 điều,

từ Điều 102 đến Điều 109 So với Hiến pháp 1992, Hiến pháp năm 2013 có một

số điểm mới chủ yếu sau:

Thứ nhất, khẳng định chính thức Tòa án nhân dân là cơ quan “thực hiện quyền tư pháp” (Điều 102) Điều này thể hiện rõ nguyên tắc phân công thực

hiện quyền lực nhà nướcgiữa các cơ quan nhà nước Nhân đây cũng xin nóithêm rằng, bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 cũng đã quy định: các cơ quan tưpháp (thực hiện quyền tư pháp) chỉ bao gồm tòa án các cấp (Tòa án tối cao, cáctòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và các tòa án sơ cấp), nhưng các bảnHiến pháp sau này (từ Hiến pháp năm 1959, 1980 đến Hiến pháp năm 1992, khi

hệ thống Viển kiểm sát được thiết lập) đã không quy định rõ cơ quan nào thựchiện quyền tư pháp

Thứ hai, khẳng định rõ hơn một số nguyên tắc tố tụng mang tính hiến định:

nguyên tắc xét xử hai cấp gồm sơ thẩm, phúc thẩm; nguyên tắc tranh tụng trongxét xử được bảo đảm; mở ra khả năng áp dụng nguyên tắc xét xử theo thủ tục rútgọn chứ không phải trong tất cả mọi trường hợp đều áp dụng nguyên tắc xét xửtập thể và quyết định theo đa số như Hiến pháp năm 1992 và pháp luật tố tụnghiện hành quy định (khoản 4, 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013) Trong cácnguyên tắc nói trên, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử là rất quan trọng,đảmbảo sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tố tụng, từ đó tăng cường tính minhbạch, công khai, nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án

Thứ ba, Hiến pháp năm 2013 quy định: Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân

dân tối cao và các Tòa án khác do luật định; Viện kiểm sát nhân dân gồm Việnkiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định (khoản 2 Điều

102 và khoản 2 Điều 107) Quy định này có ý nghĩa mở đường thực hiện chủtrương tổ chức lại Tòa án theo thẩm quyền xét xử (Tòa án khu vực), khôngtương ứng với chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện như hiện nay để bảo đảmnguyên tắc độc lập của Tòa án

Chương IX “Chính quyền địa phương”: gồm 7 điều, từ Điều 110 đến

Điều 116 Chương này có một số điểm mới như sau:

Thứ nhất, Chương IX Hiến pháp 1992 có tên là “HĐND và UBND” và chương này được quy định trước chương “Tòa án nhân dân và Việt kiểm sát nhân dân” Hiến pháp năm 2013 đã đổi tên Chương IX này thành “Chính quyền địa phương” và đặt sau chương “Tòa án nhân dân và Việt kiểm sát nhân dân”.

Trang 11

Việc đổi tên như trên để: Một mặt, không đồng nhất chính quyền địa phương với

hai cơ quan của chính quyền địa phương là HĐND và UBND, dù đây là hai cơ

quan then chốt của mỗi cấp chính quyền địa phương; Mặt khác, tên chương

"Chính quyền địa phương" mới phù hợp với những nội dung quy định quantrọng khác của chương này, như: phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ, quyềnlực của cộng đồng dân cư địa phương (nhân dân địa phương), về vai trò của Mặttrận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức, đoàn thể của nhân dân địa phương, cácmối quan hệ của chính quyền địa phương với các cơ quan nhà nước hữu quan vàvới nhân dân ở địa phương v.v

Thứ hai, các đơn vị hành chính của nước ta về cơ bản vẫn như Hiến pháp năm 1992 quy định, nhưng để "mở đường" cho khả năng tới đây Luật Tổ chức

chính quyền địa phương có thể quy định thành lập các đơn vị hành chính mới,Hiến pháp năm 2013 đã dự liệu thêm: "đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt doQuốc hội thành lập" hoặc "đơn vị hành chính tương đương" với quận, huyện, thị

xã của thành phố trực thuộc trung ương Đặc biệt, khác với tất cả các bản Hiếnpháp của nước ta trước đây, khoản 2 Điều 110 Hiến pháp năm 2013 quy

định:“Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương và theo trình tự, thủ tục do luật định” Việc xác định có tính hiến định về thẩm quyền tiêu chí, điều kiện, thủ tục

thành lập mới, sáp nhập, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính như trên sẽ bảođảm tính ổn định các đơn vị hành chính - lãnh thổ, khắc phục thực tế dễ dãitrong việc "nhập - tách" các đơn vị hành chính, không tính đến tâm tư, tình cảmcủa cộng đồng dân cư ở địa phương đã từng gắn bó bao đời với các đơn vị hànhchính khi bị sáp nhập, khi bị chia tách, như thực tế ở nước ta những năm vừaqua

Thứ ba, Điều 111 Hiến pháp 2013 quy định khái quát theo hướng: “Chính

quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước CHXHCNViệt Nam Cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chứcphù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính- kinh tế đặcbiệt do luật định” Việc tổ chức HĐND và UBND cụ thể ở từng đơn vị hànhchính sẽ được quy định trong Luật tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sởtổng kết việc thực hiện chủ trương của Đảng thí điểm một số nội dung về tổchức chính quyền đô thị và kết quả tổng kết thực hiện Nghị quyết số

26/2008/QH12 của Quốc hội về "Thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường", đáp ứng yêu cầu tổ chức chính quyền địa phương phù hợp

với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt vàcác nguyên tắc phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương và giữa cáccấp chính quyền địa phương

Thứ tư, Điều 112 Hiến pháp 2013 mang tính định hướng mối quan hệ giữa

chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, giữa các cấp chính quyền

địa phương: “Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định

Trang 12

trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó".

Chương X “Hội đồng bầu cử Quốc gia, Kiểm toán nhà nước”: gồm 2

điều Điều 117 quy định về "Hội đồng bầu cử quốc gia" có nhiệm vụ tổ chức

bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đạibiểu HĐND các cấp Điều 118 quy định về " Kiểm toán Nhà nước", đây là là cơquan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thựchiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công Khác với Hội đồngbầu cử quốc gia là cơ quan lần đầu tiên được Hiến pháp quy định, Kiểm toánnhà nước đã được thành lập theo Nghị định 70/CP của từ ngày 11/7/1994 vàđang hoạt động, nay chính thức hiến định thể hiện sự đề cao vai trò của cơ quannày trong bộ máy nhà nước Điều này cũng phù hợp với xu hướng chung của cácnước trên thế giới, nhằm kiểm soát chặt chẽ việc quản lý và sử dụng tài chínhcông, tài sản công, ngăn ngừa nạn tham nhũng

Chương XI “Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp”: gồm 2

điều, Điều 119 và Điều 120 Điều 119 Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng

định “Hiến pháp là luật cơ bản của nước CHXHCN Việt Nam, có hiệu lực pháp

lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp” như Điều

146 Hiến pháp năm 1992 nhưng bổ sung quy định mới: "Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý” và xác định rõ “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”.

Điều 120 Hiến pháp 2013 quy định cụ thể hơn về quy trình "làm Hiến pháp", sửa đổi Hiến pháp so với Điều 147 Hiến pháp năm 1992 như sau:

“Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần

ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp Thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định Thời hạn công bố, thời điểm có hiệu lực của Hiến pháp do Quốc hội quyết định”.

Trên đây là những điểm mới cơ bản của Hiến pháp nước CHXHCN Việt

Nam - "Hiến pháp dân chủ, pháp quyền và phát triển".”

Trang 13

Câu 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc

về Nhân dân…” Bạn hãy nêu và phân tích ngắn gọn các quy định của Hiến pháp năm 2013 về những cách thức để Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước.

Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân…” cácquy định của Hiến pháp năm 2013 về những cách thức để Nhân dân thực hiệnquyền lực nhà nước như sau:

- Khoản 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013 quy định:" Đảng Cộng sản Việt

Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát củaNhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình", đây

là điểm bổ sung mới quan trọng, vì vai trò làm chủ của Nhân dân đối với nước,Nhân dân giao phó trách nhiệm cho Đảng để lãnh đạo Nhà nước và xã hội, vìvậy, Đảng phải chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước nhân dân trong việclãnh đạo của mình

- Tại Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Nhân dân thực hiện quyền lựcnhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hộiđồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước", quy định đa dạnghơn về thực hiện quyền lực của Nhân dân so với Hiến pháp năm 1992, đặc biệtthể hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp đã làm rõ hơn, sâu sắc hơnvai trò làm chủ của Nhân dân

- Lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 2003 ghi nhận quyền con người, quyền

cơ bản của công dân tại chương II Hiến pháp năm 2013 đã có những nhận thứcmới về đề cao nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và

là mục tiêu của sự phát triển Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân vềchính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảođảm theo Hiến pháp và pháp luật”.“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể

bị hạn chế theo quy định của luật, trong trường hợp cần thiết vì lý do quốcphòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộngđồng”

- Điều 53 Hiến pháp năm 2013 thể hiện: "Đất đai, tài nguyên nước, tài

nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiênkhác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữutoàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý" đã khẳng địnhquyền sở hữu của Nhân dân và Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước đại diện Nhândân để sở hữu và thống nhất quản lý, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về việcquản lý tài sản do Nhân dân ủy quyền

Trang 14

- Điều 65 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Lực lượng vũ trang nhân dân

tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm

vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, anninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước vàchế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụquốc tế" thể hiện trách nhiệm của lực lượng vũ trang là tuyệt đối trung thành vớiNhân dân và trước hết là phải bảo vệ Nhân dân là một chủ thể làm chủ đất nước,sau đó là bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa

- Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao

nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam" đã nhấn mạnh vai trò của Nhân dân là chủ thể tối caocủa quyền lực Nhà nước, tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về Nhân dân.Nhân dân ủy thác thực hiện quyền lực cao nhất cho Quốc hội để thực hiện quyềnlập hiến như đề xuất sửa đổi Hiến pháp

Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân…” cácquy định của Hiến pháp năm 2013 về những cách thức để Nhân dân thực hiệnquyền lực nhà nước như sau:

Thứ nhất, ngay Lời nói đầu Hiến pháp 2013 thể hiện: " Nhân dân ViệtNam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" đã thể hiện rõ trách nhiệm của nhân dântrong việc xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp Điều 2 Hiến pháp năm 2013quy định: "1 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân 2 Nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nướcthuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giaicấp nông dân và đội ngũ trí thức" đã thể hiện nhất quán quan điểm của Đảng vàNhà nước ta về đề cao quyền làm chủ của nhân dân trong Hiến pháp là nhà nướccủa dân, do dân và vì dân, đồng thời thể hiện đất nước Việt Nam là do chínhnhân dân làm chủ, nhân dân là chủ thể quan trọng trong xây dựng và bảo vệ đấtnước Lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 từ Nhân dân được viết hoa, đây khôngphải đơn thuần là cách thể hiện từ ngữ mà là diễn đạt ý nghĩa của một chủ thểquan trọng của đất nước theo tư tưởng của Bác Hồ

Thứ hai, khoản 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013 quy định:" Đảng Cộng sảnViệt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sátcủa Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình",đây là điểm bổ sung mới quan trọng, vì vai trò làm chủ của Nhân dân đối vớinước, Nhân dân giao phó trách nhiệm cho Đảng để lãnh đạo Nhà nước và xãhội, vì vậy, Đảng phải chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước nhân dântrong việc lãnh đạo của mình

Trang 15

Thứ ba, tại Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Nhân dân thực hiệnquyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông quaQuốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước",quy định đa dạng hơn về thực hiện quyền lực của Nhân dân so với Hiến phápnăm 1992, đặc biệt thể hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp đã làm

rõ hơn, sâu sắc hơn vai trò làm chủ của Nhân dân

+ Dân chủ trực tiếp: Công dân đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng

cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân Công dân đủ mười tám tuổi trở lên cóquyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân Công dân có quyềntham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơquan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước

+ Dân chủ đại diện: Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và

đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân.Việc thực hiện các quyền này do luật định

Thứ tư, lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 2003 ghi nhận quyền con người,quyền cơ bản của công dân tại chương II, đặt trang trọng sau chương I quy định

về chế độ chính trị Hiến pháp năm 2013 đã có những nhận thức mới về đề caonhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêucủa sự phát triển Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị,dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theoHiến pháp và pháp luật”.“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạnchế theo quy định của luật, trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, anninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng” Đây

là những nguyên tắc căn bản đề cao trách nhiệm của Nhà nước trong mối quan

hệ với quyền con người, quyền công dân, là cơ sở hiến định để mọi người vàcông dân bảo vệ và thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân Ngoài việc thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong Hiến pháp,còn thể hiện các cam kết của Việt Nam trong việc thực hiện các điều ước quốc

tế liên quan đến quyền con người mà Việt Nam là thành viên

Thứ năm, Điều 53 Hiến pháp năm 2013 thể hiện: "Đất đai, tài nguyên nước,tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiênkhác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữutoàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý" đã khẳng địnhquyền sở hữu của Nhân dân và Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước đại diện Nhândân để sở hữu và thống nhất quản lý, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về việcquản lý tài sản do Nhân dân ủy quyền

Thứ sáu, Điều 65 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Lực lượng vũ trang nhândân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, cónhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc,

an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và

Trang 16

chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụquốc tế" thể hiện trách nhiệm của lực lượng vũ trang là tuyệt đối trung thành vớiNhân dân và trước hết là phải bảo vệ Nhân dân là một chủ thể làm chủ đất nước,sau đó là bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ bảy, Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quốc hội là cơ quan đạibiểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" đã nhấn mạnh vai trò của Nhân dân làchủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc vềNhân dân Nhân dân ủy thác thực hiện quyền lực cao nhất cho Quốc hội để thựchiện quyền lập hiến như đề xuất sửa đổi Hiến pháp, thành lập Ủy ban dự thảoHiến pháp, thảo luận và biểu quyết thông qua Hiến pháp, khi có ít nhất 2/3 tổng

số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành; việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp doQuốc hội quyết định

Quốc hội có trách nhiệm quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủtịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu

cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác doQuốc hội thành lập và bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh đứng đầu các

cơ quan này nhằm đảm bảo sự vận hành và thực thi hoạt động quản lý nhà nước

và quản lý xã hội theo theo sự ủy quyền của Nhân dân cho Quốc hội là cơ quanquyền lực cao nhất

Câu 4 Những quy định nào của Hiến pháp năm 2013 thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc?

Những quy định nào của Hiến pháp năm 2013 thể hiện tư tưởng đại đoànkết dân tộc đó là:

Tại Điều 5, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: "1 Nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đấtnước Việt Nam 2 Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùngphát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc 3 Ngôn ngữ quốc gia

là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dântộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình 4.Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dântộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước"

Tại Điều 42, Chương II Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân: "Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ

đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp"; hay Điều 61, Chương III: Kinh tế, xã hội, vănhóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường: "Nhà nước ưu tiên phát triểngiáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điềukiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn "

- Tại khoản 1 Điều 58, khoản 1 Điều 60, khoản 2 Điều 75

Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành đườnglối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã và đang từng bước được hiện

Trang 17

thực hóa trong quá trình cách mạng Tinh thần đó tiếp tục được nhấn mạnh vàlàm rõ hơn trong Hiến pháp năm 2013 Bên cạnh Điều 5 được xác định là địnhhướng cho công tác dân tộc, chính sách dân tộc, lĩnh vực dân tộc, công tác dântộc còn được quy định cụ thể trong các Điều 42, 58, 60, 61, 75 của Hiến pháp2013

- Tại Điều 5, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: "1 Nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đấtnước Việt Nam 2 Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùngphát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc 3 Ngôn ngữ quốc gia

là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dântộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình 4.Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dântộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước"

Và khoản 1 Điều 9 quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị củachính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đángcủa Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiệndân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xâydựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc.”

Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để đường lối, chủ trương của Đảng, chínhsách và pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân được khẳng định trong thực tiễn;quyền và nghĩa vụ công dân cũng như đời sống của đồng bào dân tộc được đảmbảo, không ngừng được nâng lên

Về quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu

số được quy định tại Điều 42 Hiến pháp: “Công dân có quyền xác định dân tộccủa mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”, đây là cơ sởpháp lý để xây dựng bộ tiêu chí xác định và xác định lại thành phần dân tộc,trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

Về lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng cóđiều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn được khẳng định tại khoản 1 Điều 58của Hiến pháp: “1 Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chămsóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưutiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hảiđảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”

Về lĩnh vực văn hóa được quy định tại khoản 1 Điều 60 của Hiến pháp: “1.Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.”

Về lĩnh vực giáo dục được quy định tại khoản 3 Điều 61 của Hiến pháp: “3.Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộcthiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng,

Trang 18

phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được họcvăn hoá và học nghề.”

Về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng và Chủ tịch Hội đồngdân tộc được làm rõ hơn, đề cao vai trò, trách nhiệm, quy định tại khoản 2,khoản Điều 75 Hiến pháp: “2 Hội đồng dân tộc nghiên cứu và kiến nghị vớiQuốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sáchdân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùngđồng bào dân tộc thiểu số 3 Chủ tịch Hội đồng dân tộc được mời tham dựphiên họp của Chính phủ bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc Khi banhành quy định thực hiện chính sách dân tộc, Chính phủ phải lấy ý kiến của Hộiđồng dân tộc.”

Câu 5 Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) về quyền con người, quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân? Điểm mới nào bạn tâm đắc nhất? Vì sao?

- Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992(sửa đổi, bổ sung năm 2001) về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân

Điều 14, 16, 19, khoản 3 Điều 20, khoản 1 Điều 21, 27, 33, 34, 36, 37, 41,

42, 43, Khoản 6 Điều 96, Khoản 3 Điều 107;

- Hiến pháp mới bổ sung một số quyền mới là Quyền sống (Điều 19),Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác (Điều 20), Quyền bất khả xâmphạm về đời sống riêng tư (Điều 21), Quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều34), Quyền kết hôn và ly hôn (Điều 36), Quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trịvăn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41),Quyền xác định dân tộc (Điều 42), Quyền được sống trong môi trường tronglành (Điều 43)

Khoản 3 Điều 102 – các cơ quan nhà nước có nhiệm vụ bảo đảm và bảo vệquyền con người, quyền công dân

- Điểm mới nào bạn tâm đắc nhất? Vì sao?

Thể chế hóa một số điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người

Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng ta về quyền con người, coi con người là chủ thể, là động lực quan trọng của sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng đến mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Những điểm mới trong Hiến pháp năm 2013 về quyền con người:

So với Hiến pháp năm 1992 và các Hiến pháp trước đó, Hiến pháp năm

2013 có nhiều quy định mới về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân Cụ thể:

Trang 19

Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013 đã thay thế Chương V "Quyền và Nghĩa vụ

cơ bản của công dân" trong Hiến pháp năm 1992 thành Chương II “Quyền conngười, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”

Đáng chú ý, Hiến pháp năm 2013 đã thay đổi về cách thức hiến định về cácquyền con người, từ công thức: Nhà nước “quyết định”, “trao” quyền cho ngườidân, sang công thức: Các quyền con người là tự nhiên, vốn có, chứ không phải

là sự ban phát, trao quyền của công quyền, Nhà nước phải ghi nhận, bảo vệ vàbảo đảm thực hiện, không phân biệt đẳng cấp, màu da, giới tính… Hiến phápquy định “Mọi người có quyền…”, “công dân có quyền…” và Nhà nước cótrách nhiệm trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện các quyềnnày Vì vậy, thay vì quy định “công dân có quyền… được thông tin” (như Điều

69 Hiến pháp năm 1992) thì Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định “công dân

có quyền… tiếp cận thông tin” Một số quyền được củng cố và phát triển hơnnhư Bảo vệ bí mật đời tư (Điều 21); Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội(Điều 28)… Cùng với đó, quyền con người, quyền công dân không chỉ được quyđịnh trong Chương II mà là nội dung xuyên suốt, nhất quán trong toàn bộ Hiếnpháp năm 2013 Việc đưa các nội dung liên quan đến quyền con người, quyềncông dân vào nhiều chương khác của Hiến pháp nhằm tạo ra cơ chế hiến địnhbảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 có sự phân biệt giữa “quyền con người” và “quyền công dân” Hiến pháp sử dụng khá hợp lý hai thuật ngữ này

cho các quyền tự do hiến định Theo đó, quyền con người được quan niệm làquyền tự nhiên vốn có của con người từ lúc sinh ra; còn quyền công dân, trướchết cũng là quyền con người, nhưng việc thực hiện nó gắn với quốc tịch, tức làgắn với vị trí pháp lý của công dân trong quan hệ với nhà nước, được nhà nướcbảo đảm đối với công dân của nước mình Hiến pháp năm 2013 đã sử dụng

từ “mọi người” và từ “không ai” khi thể hiện quyền con người và dùng

từ “công dân” khi quy định về quyền công dân.

Thứ ba, trách nhiệm của Nhà nước và những bảo đảm của Nhà nước trong

việc ghi nhận, tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân

được quy định đầy đủ trong các điều luật Ngoài nguyên tắc như: “Quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14); ở

nhiều điều khác đều quy định trách nhiệm và bảo đảm của Nhà nước như Điều

17: “Nhà nước bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài”; Điều 28: “Nhà nước tạo mọi điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”… Thứ tư, lần đầu tiên giới hạn của các quyền được quy định thành nguyên tắc

trong Hiến pháp Hiến pháp năm 2013, theo tinh thần của các công ước quốc tế

đã quy định thành nguyên tắc ở Điều 14: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do

Trang 20

quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” Theo đó, từ nay không ai được tùy tiện cắt xén, hạn chế các

quyền con người, quyền công dân, ngoại trừ các trường hợp cần thiết nói trên doluật định Quyền con người, quyền công dân là những quyền mà con người,công dân có toàn quyền định đoạt Chúng chỉ có thể bị hạn chế theo quy địnhcủa luật trong những trường hợp đặc biệt, chứ không phải chung chung như

“theo quy định của pháp luật” trước đây

Đây là những nguyên tắc căn bản nhằm đề cao trách nhiệm của Nhà nướctrong mối quan hệ với quyền con người, quyền công dân; phòng ngừa sự tùytiện cắt xén, hạn chế, cho chỗ này, lấy lại ở chỗ khác từ phía các cơ quan nhànước, nhân viên nhà nước Đây cũng là cơ sở pháp lý cao nhất để mọi người vàcông dân bảo vệ và thực hiện quyền con người và quyền công dân của mình.Trên cơ sở của các nguyên tắc căn bản này, Hiến pháp đã quy định các quyền vànghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó có bổ sung một số quyền mới một cáchchặt chẽ, chính xác, khả thi, phù hợp với các công ước quốc tế về nhân quyền

Thể chế hóa những quy định về quyền con người trong Hiến pháp năm 2013

Để các quy định tiến bộ nêu trên của Hiến pháp năm 2013 thực sự đi vàocuộc sống, cần những bước đi cụ thể, rõ ràng Trong đó, Nhà nước là chủ thểchính để thể chế hóa và thực thi những quy định của Hiến pháp trên thực tế.Thực tiễn cho thấy, chỉ trên cơ sở xây dựng và hoàn thiện pháp luật trên tinhthần và nội dung mới của Hiến pháp, quyền con người, quyền công dân mới cóđiều kiện tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm Vấn đề này đặt ra yêu cầu đối với các cơquan nhà nước, từ việc phổ biến, tuyên truyền các nội dung mới của Hiến pháp

Trang 21

năm 2013 đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và thủ tục hành chính, tổ chức

bộ máy để bảo đảm thực thi Hiến pháp

Để Hiến pháp năm 2013 sớm đi vào cuộc sống, Quốc hội cần ưu tiên đẩymạnh việc bổ sung, sửa chữa và ban hành những luật mới theo những quy địnhcủa Hiến pháp đã nêu Theo chương trình làm việc của Quốc hội, dự kiến trongthời gian tới, Quốc hội sẽ sửa đổi, bổ sung, ban hành mới tổng cộng 28 luật liênquan tới quyền con người, trong đó có 12 văn bản thuộc lĩnh vực dân sự chínhtrị và 16 văn bản thuộc lĩnh vực quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân.Nghĩa là từ nay đến năm 2016, phải cố gắng sớm ban hành những điều luật này

để thực thi trong thực tế Đây là nhiệm vụ rất quan trọng Vấn đề đặt ra là tổchức thực hiện như thế nào, cần phải có những quy định của những văn bản luật

và dưới luật cụ thể để hướng dẫn cách thức thực hiện Để triển khai thực hiện kếhoạch của Chính phủ, Bộ Tư pháp cũng đã xây dựng kế hoạch rà soát các quyđịnh về quyền con người trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành

và công việc này cũng đã bắt đầu được triển khai

Có thể nói, những điểm mới về quyền con người trong Hiến pháp năm 2013

là cơ sở pháp lý cực kỳ quan trọng, định hướng cho những thay đổi của luậtpháp nước ta tới đây về quyền con người, góp phần làm giảm bớt những sai sótcủa quá trình thực thi pháp luật, đặc biệt là do những cá nhân cụ thể trong quátrình thực thi pháp luật gây ra Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, cólúc, có nơi việc tôn trọng và bảo vệ các quyền con người, nhất là đối với các đốitượng yếu thế trong xã hội vẫn chưa được tôn trọng một cách đầy đủ, toàn diện.Đối với những lĩnh vực đặc thù, liên quan đến sinh mạng chính trị của conngười, nếu để xảy ra oan sai, hậu quả rất lớn, nhiều trường hợp không thể khắcphục, bồi thường được Việc hoàn thiện cơ chế tố tụng hình sự để bảo đảm thựchiện quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân phải dựa trênnguyên tắc chung của Hiến pháp, trên cơ sở quyền và lợi ích hợp pháp của cánhân được bảo đảm

Hiến pháp đã đưa ra những quy định mở, để những bộ luật, đạo luật sắp tớiđây có quy định cụ thể bảo vệ cho những người chẳng may rơi vào vòng lao lý,

để làm sao khắc phục được những oan sai như trường hợp của ông NguyễnThanh Chấn vừa qua Chẳng hạn, Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theotrình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Đâyđược xem là một thay đổi rất quan trọng so với quy định trước đây Để thực hiệntốt nguyên tắc này, có 3 yếu tố cần phải làm rõ trong Bộ luật Tố tụng hình sự tới

đây Một là, phạm vi những người bị coi là có tội đã được thu hẹp hơn trước, chỉ

xác định trong số những “người bị buộc tội” Vì thế, thời gian tới, Bộ luật Tốtụng hình sự phải làm rõ khái niệm “người bị buộc tội” gồm những người nào,

và dù họ có thể bị bắt, bị khởi tố, truy tố, xét xử thì vẫn chưa được coi là có

tội Hai là, việc chứng minh phải tuân theo trình tự luật định, nếu không thực

Trang 22

hiện đúng các trình tự, thủ tục tố tụng theo luật định thì kết quả chứng minhkhông có giá trị kết tội Đây chính là điểm mới rất quan trọng đòi hỏi phải sửađổi Bộ luật Tố tụng hình sự với trình tự, thủ tục tố tụng phải hoàn thiện và chặt

chẽ Ba là, thời điểm được coi là có tội khi bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu

lực pháp luật Hiến pháp lần này đã làm rõ hơn nguyên tắc suy đoán vô tội.Nghĩa là bây giờ có thêm một điều kiện rất quan trọng đó là việc buộc tội phảiđược chứng minh thì mới có bản án Do vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự tới đâynhất thiết phải khắc phục điểm này, nhằm bảo đảm quyền con người, quyềncông dân theo đúng Hiến pháp quy định Bên cạnh đó, để làm rõ hơn khoản 4,điều 31 của Hiến pháp “người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố điều tra, hoặctruy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”,thiết nghĩ Bộ luật Tố tụng hình sự thời gian tới cần phải quy định cụ thể “ngườikhác” là người nào, để vừa bảo đảm quyền bào chữa, vừa đáp ứng yêu cầu đấutranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới

Được đánh giá là nguyên tắc rất quan trọng mang tính đột phá trong tiếntrình cải cách tư pháp nước ta, khoản 4 Điều 103 của Hiến pháp mới quy định

“nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” Tuy nhiên, để hiện thực hóanguyên tắc này là một vấn đề không đơn giản Theo ý kiến của nhiều nhà nghiêncứu, muốn hiện thực hóa chế định này đòi hỏi pháp luật Tố tụng hình sự phảilàm rõ được phạm vi tranh tụng là tranh tụng từ giai đoạn tố tụng nào; tính chấttranh tụng là tranh tụng như thế nào; các chủ thể có quyền và nghĩa vụ tranhtụng là ai tranh tụng với ai… Có như vậy mới bảo đảm xác định sự thật của vụ

án, bảo đảm cho người bị oan có cơ hội để chứng minh sự vô tội, bảo đảm chocông lý được thực hiện một cách triệt để Đây chính là mục tiêu cao nhất củanền tư pháp văn minh, hiện đại

Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện những bước tiến mới trong việc ghi nhậnquyền con người, quyền công dân Vì vậy, trong thời gian tới, khi sửa đổi Bộluật Hình sự cũng cần nghiên cứu vấn đề tạm giam đối với một số loại tội, theohướng giảm bớt các đối tượng tạm giam nếu thấy họ không cản trở, hợp táctrong quá trình điều tra Cũng cần hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đốivới một số loại tội Bởi lẽ, khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, người

bị tạm giam bị tước quyền tự do thân thể và bị buộc phải cách ly với thế giới bênngoài, bị hạn chế nhiều quyền khác Vì vậy, cần nghiên cứu vận dụng để có thể

áp dụng biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn như bảo lãnh, cấm đikhỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm nếu người phạm tội có nơi cưtrú rõ ràng, nhân thân tốt, không trốn tránh và cản trở hoạt động điều tra… Đócũng là những tiêu chí bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.Hiến pháp năm 2013 ra đời đã tạo một nền tảng pháp lý vững chắc cho việc thựchiện quyền con người, quyền công dân trên thực tế Những điểm mới được quyđịnh trong Hiến pháp về quyền con người là sự tổng kết, chắt lọc từ thực tiễn

Trang 23

gần 30 năm đổi mới, thực hiện những cam kết quốc tế và xuất phát từ đòi hỏithực tiễn của cuộc sống.

Câu 6 Những điểm mới, quan trọng về vị trí, chức năng của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân trong Hiến pháp năm 2013 Phân tích điểm mới về mối quan hệ giữa các cơ quan đó trong thực hiện quyền lực Nhà nước?

Những điểm mới, quan trọng về vị trí, chức năng của Quốc hội, Chính phủ,Tòa án nhân dân trong Hiến pháp năm 2013

- Quốc hội (Chương V)

Về Quốc Hội Sửa đổi, bổ sung Điều 83 của Hiến pháp 1992, khẳng địnhQuốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhànước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thựchiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước vàgiám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Điều 69) Bổ sung thẩm quyềncủa Quốc hội trong việc phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao (khoản 7 Điều 70) để phù hợp với yêu cầu đổi mới

mô hình Tòa án nhân dân, làm rõ hơn vai trò của Quốc hội trong mối quan hệvới cơ quan thực hiện quyền tư pháp, đồng thời nâng cao vị thế của Thẩm phántheo tinh thần cải cách tư pháp Bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việcgiám sát, quy định tổ chức và hoạt động, quyết định nhân sự đối với Hội đồngbầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập( Điều 70) Tiếp tục quy định việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ

do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn (khoản 8 Điều 70)

Trang 24

cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạncủa mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái phápluật theo quy định của luật”.

Hiến pháp phân định cụ thể thẩm quyền của Chính phủ trong việc tổ chứcđàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịchnước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ướcquốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩnquy định tại khoản 14 Điều 70 của Hiến pháp

- Tòa án nhân dân (Chương VIII)

Hiến pháp 2013 bổ sung quy định Tòa án nhân dân thực hiện quyền Tưpháp (Điều 102) Sửa đổi quy định về hệ thống tổ chức Tòa án (khoản 2 Điều102) cho phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp theo hướng không xác địnhcấp Tòa án cụ thể trong Hiến pháp mà để luật định, làm cơ sở hiến định cho việctiếp tục đổi mới hoạt động tư pháp, phù hợp với yêu cầu của Nhà nước phápquyền

- Về mối quan hệ giữa Chính phủ với Quốc hội, Tòa án nhân dân:

+ Về mặt tổ chức

+ Phương thức hoạt động

+ Trong hoạt động lập pháp

+ Trong hoạt động giám sát

+ Trong việc giải quyết những vẫn đề quan trọng của đất nước

Những điểm mới, quan trọng về vị trí, chức năng của Quốc hội, Chính phủ,Tòa án nhân dân trong Hiến pháp năm 2013

- Về Quốc hội (Chương V)

Vị trí, chức năng, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, các

cơ quan của Quốc hội cơ bản giữ như quy định của Hiến pháp năm 1992; đồngthời, có sửa đổi, bổ sung để phù hợp với chức năng của cơ quan thực hiện quyềnlập hiến, lập pháp và mối quan hệ giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp,hành pháp, tư pháp; cụ thể như sau:

Về Quốc hội:

- Sửa đổi, bổ sung Điều 83 của Hiến pháp năm 1992, khẳng định Quốc hội

là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhấtcủa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thực hiện quyền lậphiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tốicao đối với hoạt động của Nhà nước (Điều 69)

- Quy định rõ, khả thi và phù hợp hơn trong điều kiện phát triển kinh tế thịtrường định hướng XHCN quyền quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách vànhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (khoản 3 Điều 70) đểxác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm, quyền quyết định của Quốc hội và quyềnquản lý, điều hành của Chính phủ

Ngày đăng: 27/11/2022, 03:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w