Nguyễn Đình Sơn, Viện Nhà nước và Pháp luật Trong thực tiễn hiện nay tranh chấp về quyền sử dụng đất của người quá cố để lại có được xác định là di sản thừa kế chưa chia hay không diễn
Trang 1Một số ý kiến về việc xác định công sức quản lý, duy trì tài sản là di sản thừa kế
và đề xuất phát triển án lệ
ThS Nguyễn Đình Sơn, Viện Nhà nước và Pháp luật
Trong thực tiễn hiện nay tranh chấp về quyền sử dụng đất của người quá cố
để lại có được xác định là di sản thừa kế chưa chia hay không diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là hầu hết các trường hợp quyền sử dụng đất đó đã được người đang quản
lý, sử dụng kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Thực tiễn giải quyết loại tranh chấp này cho thấy đa số các trường hợp đều lúng túng trong việc xác định quyền sử dụng đất đang tranh chấp có còn là di sản do người quá cố để lại hay không và nếu còn là di sản thừa kế chưa chia thì việc tính toán công sức cho người đã có công quản lý, duy trì, tôn tạo nhà đất đó như thế nào Nghiên cứu việc giải quyết loại tranh chấp này tại các Tòa án cho thấy vẫn còn một số bản án, quyết định giải quyết tranh chấp còn chưa thống nhất về đường lối giải quyết, một số vụ
án đưa ra đường lối tính toán công sức cho người có công sức trong việc quản lý, tôn tạo nhà đất này chưa phù hợp Thực trạng này đang đặt ra yêu cầu phải phát triển các bản án chuẩn mực, có chứa đựng những đường lối giải quyết thuyết phục
để phát triển thành án lệ làm cơ sở cho các Tòa án tham khảo, vận dụng khi giải quyết các vụ việc tương tự
Thực tiễn xét xử:
Về vấn đề pháp lý việc giải quyết trường hợp người đang quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế chưa chia đã sinh sống trên trong thời gian dài
và có công sức lớn trong việc quản lý, duy trì tài sản; đã kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Tòa án nhân dân tối cao đưa ra đường lối giải quyết trong nhiều bản án, quyết định, trong đó cóQuyết định giám đốc thẩm số 44/2013/DS-GĐT ngày 22/5/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế” giữa nguyên đơn là ông Ông Nguyễn Văn
C sinh năm 1934; địa chỉ: 41/5/8 Phan Đình Giót, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; bị đơn ông Nguyễn Thanh V sinh năm 1934; địa chỉ: thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hoà và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là một ví dụ cụ thể về vấn đề pháp lý này Nội dung quyết định như sau:
Tại đơn khởi kiện ngày 09-10-1996 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn C trình bày:
Cố Nguyễn G (chết năm 1957) và cố Phạm Thị K (chết năm 1962) không để lại di chúc, có 05 người con là các cụ Nguyễn A, Nguyễn K, Nguyễn T, Nguyễn
Trang 2Cụ Nguyễn A (chết năm 1968) có hai vợ là Diệp Thị B (chết năm 1963, có
03 người con là ông Vân, ông Nông, ông B) và Nguyễn Thị Thuyên (chết năm
2006, có 01 con là bà Hương)
Cụ Nguyễn K (chết năm 1958) có vợ là cụ Nguyễn Thị Đái (đã chết) và 02 người con là ông C (nguyên đơn), ông Kiểu (chết năm 1988, có vợ là bà Nguyễn Thị Bảy và 07 người con là chị Mộng Trinh, chị Mộng Huyền, anh Điền, chị Mộng Xinh, anh Vũ, chị Mộng Điệp, chị Mộng Diệp)
Cụ Nguyễn T (chết năm 1981), có 2 vợ, vợ cả (không rõ tên và đã chết từ lâu, có 3 người con là ông Yên, ông Hoà, ông Thu), vợ hai là cụ Đặng Thị Mỹ Nhung (chết năm 2006, có 7 người con là ông Lanh, ông Lẹ, ông Hơn, ông Hạnh,
bà Mỹ Anh, bà Mỹ Linh, ông Chính), tất cả đều ở Canada
Cụ Nguyễn Thị Th (vợ chồng đều đã chết) có con là ông T
Cụ Nguyễn Thị M còn sống tại Nha Trang
Cố Giản và cố Kiên chết để lại di sản gồm một căn nhà từ đường cấp 4 (diện tích 75m2) trên lô đất thổ diện tích sau khi mở đường còn 1.043,8m2 thuộc thửa 550
và 551 toạ lạc tại thôn P, xã V, thành phố N hiện do ông Vân quản lý nhà và phần lớn đất (cụ Mười và ông Nông làm nhà trên một phần đất cùng trong khuôn viên)
và một lô đất màu dùng làm nghĩa địa diện tích 1.384m2 thuộc thửa 439 và 440 cũng tại thôn Phú Thạnh, hiện do ông Vân quản lý toàn bộ
Sau khi hai cố chết, khối di sản trên do vợ cụ Ân cùng cụ Mười, cụ Thúc quản lý vì cụ Ân đi tập kết, hiện cụ Mười vẫn ở trên đất này Năm 1963, cụ Tôn đã
kê khai đứng tên vì hai cố đã chết, anh em người đi tập kết, người đã chết và cụ Tôn lại là cảnh sát ngụy Năm 1993, ông Vân tự ý kê khai không ai biết và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất toàn bộ 2 lô đất trên Năm 1995, ông Nông
có nhu cầu làm nhà và họ tộc đã họp đồng ý cho ông Nông làm nhà, khi đó ông Vân đã thừa nhận nhà đất tranh chấp là của cố Giản, cố Kiên Năm 1996, giải toả làm đường một phần đất, cả ông Vân và cụ Mười đều được đền bù tiền, ông đã khiếu nại Nay ông yêu cầu chia thừa kế toàn bộ nhà và 2 lô đất, không yêu cầu chia tiền đền bù, xin chia bằng hiện vật
Bị đơn ông Nguyễn Thanh V trình bày (năm 1997) là:
Cố Giản và cố Kiên chết để lại nhà từ đường, giếng nước, bàn ghế, cây cối trên phần đất vườn khoảng 1.200m2, sau khi trừ lộ giới còn khoảng 1.000m2 Ông sinh ra và lớn lên ở đây Sau khi hai cố chết thì cha của ông quản lý, cha ông đi tập kết giao lại cho ông quản lý nhà từ năm 1954, cụ Mười và cụ Thúc ở quán bán hàng cùng bà nội, gần đây mở đường thì cụ Mười cất lại nhà; ông Nông cũng mới cất nhà trên đất, trước ở chỗ khác Ông xin tiếp tục quản lý nhà từ đường, nếu ông C cứ yêu cầu chia tùy Tòa án giải quyết theo pháp luật, đề nghị xem xét công sức của ông đã quản lý nhà đất mấy chục năm
Trang 3Đến năm 2007 ông Vân đề nghị Tòa án xem xét đất là của cụ Tôn tạo lập vì năm 1963 cụ Tôn đã đứng tên kê khai là đất Công thổ trường gia tức là đất của Nhà nước, còn nhà ông không rõ ai làm Cố Giản, cố Kiên có được thừa kế đất của tổ tiên nhưng ở chỗ khác, đã bị Nhà nước thu cấp lại cho nông dân là ông Nguyễn Nạy và ông Lê Văn Chính Ông được cụ Tôn giao cho quản lý nhà đất này từ năm
1972, có giấy giao nhà đất nhưng đã thất lạc Còn đất màu đã được Hợp tác xã chia theo nhân khẩu cho gia đình ông Hiện ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1993 cả 2 lô đất, ông không đồng ý chia thừa kế cho mọi người Nếu phải chia, phần của gia đình cụ Nhung giao cho ông thì ông Nhận, sau sẽ giải quyết với họ
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Cụ Nguyễn Thị M trình bày: Cha mẹ cụ chết để lại tài sản như ông C trình bày là đúng, từ trước tới nay cụ vẫn sống ở đây, đề nghị không chia mà để ông Vân
sử dụng để thờ cúng Sau đó cụ Mười yêu cầu chia đều cho mọi người kể cả đất của
cụ đang quản lý Hiện cụ cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1993, thửa 551, tờ bản đồ số 30, diện tích 165m2, nhưng do làm đường chỉ còn khoảng 75m2
Toàn bộ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác là các con cháu
cố Giản, cố Kiên đều xác định tài sản tranh chấp là di sản của cố Giản, cố Kiên để lại, yêu cầu chia thừa kế, đều xin nhận bằng hiện vật Cụ Nhung (chết năm 2006) khi còn sống và các con cụ Tôn cũng xác nhận nhà đất tranh chấp là di sản của cố Giản, cố Kiên tạo lập, đề nghị để lại làm nhà thờ, nếu phải chia phần được hưởng giao cho ông Vân để thờ cúng
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2008/DS-ST ngày 31-01-2008, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa quyết định:
Xác định 01 ngôi nhà cổ xưa 03 gian, 01 tầng, mái ngói, nền ximăng, cột kèo băng gỗ có diện tích 75,74m2 nằm trên lô đất có diện tích 1043,8m2 (trongđó diện tích lưu không: 243,2m2; diện tích còn lại: 809,6m2) trích đo từ thửa số 550 + 551 (trích toàn phần) và 01 lô đất nghĩa địa và đất màu có diện tích 1384,1m2 trích đo
từ thửa 439 + 440, tờ bản đồ số 3a thuộc bản đồ địa chính xã Vĩnh Thạnh, thành phố N, tọa lạc tại Cầu Bè, thôn P, xã V, thành phố N, là di sản thừa kế của cố Nguyễn G và cố Phạm Thị K để lại
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C về việc “Tranh chấp
di sản thừa kế” của cố Nguyễn G và cố Phạm Thị K
* Chia hiện vật cụ thể như sau:
1 Chia cho ông Nguyễn Thanh V được sở hữu căn nhà từ đường có diện tích 75,74m2 nằm trên lô đất có diện tích 512,49m2 (trong đó diện tích lưu không là 46,03m2) thuộc thửa số 550+551 tờ bản đồ số 3a thuộc bản đồ địa chính xã Vĩnh
Trang 4Thạnh (kí hiệu 01 trên sơ đồ kèm theo) Tổng giá trị tài sản ông Vân nhận là: 3.687.861.330 đồng
2 Chia cho ông Nguyễn Văn C cùng các ông bà: Bảy, Trinh, Huyền, Điền, Xinh, Vũ, Điệp, Diệp: 02 lô đất thuộc thửa số 550+551 (ký hiệu số 02, số 06 trên
sơ đồ kèm theo) có diện tích 92,87m2 và diện tích 114,00m2 (trong đó diện tích lưu không là 26,00m2), và 01 lô đất màu thuộc thửa 439 + 440 (ký hiệu số 03 trên sơ đồ kèm theo) Tổng giá trị tài sản các ông bà Cách, Bảy, Trinh, Huyền, Điền, Xinh,
Vũ, Điệp, Diệp được nhận là 1.457.352.000đồng
Ông C cùng các ông bà: Bảy, Trinh, Huyền, Điền, Xinh, Vũ, Điệp, Diệp được sở hữu 01 căn nhà tường gạch, mái tôn không trần, cửa sắt xếp, nền xi măng
có diện tích 58,15m2 giá trị 30.051.920 đồng do gia đình ông Vân xây dựng, nằm trên lô đất ký hiệu 02 thuộc thửa số 550+551 đã chia cho các ông bà và có trách nhiệm thanh toán giá trị căn nhà trên cho gia đình ông Vân là 30.051.920 đồng
3 Chia cho ông Nguyễn Thành N 01 lô đất thuộc thửa số 550+551 (ký hiệu
05 trên sơ đồ kèm theo) có diện tích 85,35m2 (lưu không 85,35m2 và 02 lô đất màu thuộc thửa 439 + 440 ký hiệu số 04 và số 05 trên sơ đồ kèm theo) có diện tích 261,4m2 Tổng giá trị tài sản ông Nông nhận là 182.937.350 đồng
4 Chia cho ông Nguyễn Thành B 01 lô đất màu thuộc thửa 439 + 440 (ký hiệu lô số 06 trên sơ đồ) có diện tích 121,4m2 Tổng giá trị tài sản ông B nhận là 16.692.500 đồng
5 Chia cho ông Nguyễn Thành T và bà Phạm Thị Mười: 02 lô đất thuộc thửa
550 + 551 (ký hiệu số 03 có diện tích 196,41m2 trong đó lưu không là 34,10m2); và
ký hiệu số 04 có diện tích 42,69m2, lưu không toàn bộ 42,69m2 và 01 lô đất màu thuộc thửa 439+440 (ký hiệu số 02) diện tích 143,4m2 Tổng giá trị tài sản bà Mười
và ông T nhận là: 1.401.813.670 đồng
6 Bà Hương xin nhận kỷ phần thừa kế bằng tiền nên không chia vật chất
7 Tạm giao giá trị kỷ phần thừa kế là: 1.349.292.548 đồng của các ông bà Yên, Hoà, Thu, Lanh, Lẹ, Hơn, Hạnh, Anh, Linh, Chính cho ông Vân quản lý Nếu sau này các ông bà Yên, Hoà, Thu, Lanh, Lẹ, Hơn, Hạnh, Anh, Linh, Chính có yêu cầu thì ông Vân có trách nhiệm thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho các ông bà trên mỗi người: 134.929.254 đồng
* Phần thanh toán chênh lệch giá trị kỷ phần thừa kế được chia và tài sản thực tế được nhận:
+ Ông Nguyễn Thanh V phải thanh toán chênh lệch tài sản cho những người sau:
- Thanh toán cho các ông bà Yên, Hòa, Thu, Lanh, Lẹ, Hơn, Hạnh, Anh, Linh, Chính, mỗi người 134.929.254đồng nếu những người này có yêu cầu
Thanh toán cho ông Nguyễn Thành B số tiền là 232.221.829 đồng
Trang 5- Thanh toán cho bà Nguyễn Thị Ngọc Hương sổ tiền là 539.717.018 đồng
- Thanh toán cho bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Thành T: 1.296.771.426 đồng
+ Các ông, bà Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Thị Mộng Trinh, Nguyễn Thị Mộng Huyền, Nguyễn Xuân Điền, Nguyễn Thị Mộng Xinh Nguyễn Xuân Vũ, Nguyễn Thị Mộng Điệp, Nguyễn Thị Mộng Diệp phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho những người sau:
Thanh toán cho gia đình ông Vân giá trị căn nhà nằm trên lô đất đã chia cho các ông bà là: 30.051.920 đồng
- Thanh toán cho ông Nguyễn Thành B 20.944.180 đồng
- Thanh toán cho ông Nguyễn Thành N sổ tiền là: 86.912.159 đồng Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí đo vẽ định giá tài sản, án phí và quyền kháng cáo
Ngày 31-01-2008, ông Vân kháng cáo không đồng ý với toàn bộ quyết định
của bản án sơ thẩm
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 08/2008/DS-PT ngày 29-10-2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng quyết định:
Sửa một phần bản án sơ thẩm
Xác định 01 ngôi nhà cổ xưa 03 gian, 01 tầng, mái ngói, nền xi măng cột kèo bằng gỗ có diện tích: 75,74m2 nằm trên lô đất có diện tích 1.043,8m2 (trong đó diện tích lưu không: 243,17m2; diện tích còn lại: 809,64m2) trích đo từ thửa số 550 +
551 (trích toàn phần) tờ bản đồ số 3a thuộc bản đồ địa chính xã Vĩnh Thạnh, TP Nha Trang là di sản thừa kế của cố Nguyễn G và cố Phạm Thị K để lại, giá trị tài sản như sau:
Nhà từ đường = 36.809.640đ
Đất ở 1.043,81m2 = 6.637.702.910đ
Cộng = 6.674.512.550đ
Trừ tiền sửa chữa nhà từ đường của ông Vân 20.000.000đ và tiền trích công sức bảo quản, giữ gìn di sản cho ông Nguyễn Thanh V là 200.000.000đ
Giá trị còn lại chia thừa kế là 6.454.512.550đ
Phần thừa kế mỗi người được hưởng như sau:
- Ông Nguyễn Thanh V, ông Nguyễn Thành N, ông Nguyễn Thành B mỗi người được hưởng 258.180.502đ, bà Nguyễn Thị Ngọc Hương được hưởng 516.361.004đ
Trang 6- Ông Nguyễn Văn C được hưởng 654.451.255đ Bà Nguyễn Thị Bảy Nguyễn Thị Mộng Trinh, Nguyễn Thị Mộng Huyền, Nguyễn Xuân Điền, Nguyễn Thị Mộng Xinh, Nguyễn Xuân Vũ, Nguyễn Thị Mộng Điệp, Nguyễn Thị Mộng Diệp mỗi người được hưởng là 80.681.406đ
Ông Nguyễn Văn Yên, ông Nguyễn Văn Hoà, ông Nguyễn Văn Thu, ông Nguyễn Văn Lanh, ông Nguyễn Văn Lẹ, ông Nguyễn Văn Hơn, ông Nguyễn Văn Hạnh, bà Nguyễn Thị Mỹ Anh, bà Nguyễn Thị Mỹ Linh, ông Nguyễn Văn Chính, mỗi người được hưởng 129.090.251đ
- Ông Nguyễn Thành T được hưởng: 1.290.902.510đ
- Bà Nguyễn Thị M được hưởng: 1.290.902.510đ
Về chia hiện vật: Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần chia hiện vật là nhà và đất ở thuộc thửa số 550+551 tờ bản đồ số 3a xã Vĩnh Thạnh, tp Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà Cụ thể như sau:
1 Chia cho ông Nguyễn Thanh V được sở hữu căn nhà từ đường có diện tích 75,74m2 nằm trên lô đất có diện tích 512,49m2 (trong đó diện tích lưu không là 46,03m2) thuộc thửa số 550 + 551 tờ bản đồ số 3a thuộc bản đồ địa chính xã Vĩnh Thạnh (ký hiệu 01 trên sơ đồ kèm theo Bản án sơ thẩm số 03/2008/DSST ngày 31-01-2008) Tổng giá trị tài sản ông Vân nhận là 3.707.861.330đ
2 Chia cho ông Nguyễn Văn C cùng các ông bà: Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Thị Mộng Trinh, Nguyễn Thị Mộng Huyền, Nguyễn Xuân Điền, Nguyễn Thị Mộng Xinh, Nguyễn Xuân Vũ, Nguyễn Thị Mộng Điệp, Nguyễn Thị Mộng Diệp: 02 lô đất thuộc thửa số 550 + 551 (ký hiệu số 02, số 06 trên sơ đồ kèm theo Bản án sơ thẩm số 03/2008/DSST ngày 31-01-2008) có diện tích 92,87m2 và diện tích 114,00m2 (trong đó diện tích lưu không là 26,00m2) Tổng giá trị tài sản các ông bà: Cách, Bảy, Trinh, Huyền, Điền, Xinh, Vũ, Điệp, Diệp được nhận là 1.437.497.000đ
3 Chia cho ông Nguyễn Thành N 01 lô đất thuộc thửa số 550 + 551 (ký hiệu
05 trên sơ đồ kèm theo của Bản án sơ thẩm số 03/2008/DSST ngày 31-01-2008) có diện tích 85,35m2 (lưu không là 85,35m2) có tổng giá trị tài sản ông Nông nhận là 147.058.050đ
4 Chia cho ông Nguyễn Thành T và bà Nguyễn Thị M: 02 lô đất thuộc thửa
số 550 + 551 (ký hiệu số 03 và 04 trên sơ đồ kèm theo của Bản án sơ thẩm số 03/2008/DSST ngày 31-01-2008) có diện tích 196,41m2 (trong đó lưu không là 34,10m2) và diện tích 42,69m2, lưu không toàn bộ 42,69m2 Tổng giá trị tài sản bà Mười và ông T nhận là 1.382.096.170đ
5 Tạm giao giá trị kỷ phần thừa kế là 1.290.902.501đ của các ông bà: Nguyễn Văn Yên, Nguyễn Văn Hoà, Nguyễn Văn Thu, Nguyễn Văn Lanh, Nguyễn Văn Lẹ, Nguyễn Văn Hơn, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Thị Mỹ Anh, Nguyễn Thị
Trang 7Mỹ Linh, Nguyễn Văn Chính cho ông Nguyễn Thanh V quản lý Nếu sau này các ông bà: Yên, Hoà, Thu, Lanh, Lẹ, Hơn, Hạnh, Anh, Linh, Chính có yêu cầu thì ông Vân có trách nhiệm thanh nhiệm thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho các ông bà trên mỗi người 129.090.250đ
* Phần thanh toán chênh lệch giá trị kỷ phần thừa kế được chia và tài sản thực tế được nhận:
+ Ông Nguyễn Thanh V phải thanh toán chênh lệch tài sản cho những người sau:
- Thanh toán cho các ông bà: Nguyễn Văn Yên, Nguyễn Văn Hòa,NguyễnVăn Thu Nguyễn Văn Lanh, Nguyễn Văn Lẹ, Nguyễn Văn Hơn, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Thị Mỹ Anh, Nguyễn Thị Mỹ Linh, Nguyễn VănChính phầnthừakế được hưởng mỗi người 129.090.250đ nếu những người này có yêu cầu
- Thanh toán cho ông Nguyễn Thành B phần thừa kế được hưởng số tiền là 222.708.164đ
- Thanh toán cho bà Nguyễn Thị Ngọc Hương phần thừa kế được hưởng
số tiền là 516.361.004đ
- Thanh toán cho bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Thành T phần thừa
kế được hưởng là: 1.199.708.850đ
+ Các ông bà: Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Thị Mộng Trinh, Nguyễn Thị Mộng Huyền, Nguyễn Xuân Điền, Nguyễn Thị Mộng Xinh, Nguyễn Xuân Vũ, Nguyễn Thị Mộng Điệp, Nguyễn Thị Mộng Diệp phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho những người sau:
- Thanh toán cho ông Nguyễn Thành B phần thừa kế được hưởng 35.472.338đ
- Thanh toán cho ông Nguyễn Thành N phần thừa kế được hưởng số tiềnlà 111.122.452đ
Ông Nguyễn Văn C cùng các ôngbà:Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Thị Mộng Trinh, Nguyễn Thị Mộng Huyền, Nguyễn Xuân Điền, Nguyễn Thị Mộng Xinh, Nguyễn Xuân Vũ, Nguyễn Thị Mộng Điệp, Nguyễn Thị Mộng Diệp được sở hữu 01căn nhà tường gạch, mái tôn không trần, cửa sắt xếp, nền xi măng có diện tích 58,15m2, giá trị 30.051.920đ do gia đình ông Vân xây dựng, nằm trên lô đất đã chia cho các ông bà thuộc thửa 550 + 551, tờ bản đồ số 3a (lô đất có ký hiệu 02 trên sơ
đồ kèm theo Bản án số 03/2008/DSST ngày 31-01-2008) và có trách nhiệm thanh
toán giá trị căn nhà trên cho ông Nguyễn Thanh V là 30.051.920đ
Ngoài ra Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về chi phí đo vẽ định giá tài sản, và án phí
Trang 8Sau khi xét xử phúc thẩm, chị Nguyễn Thị Mỹ Duyên (con gái ông Vân) đại diện cho bị đơn có đơn khiếu nại với nội dung thửa đất tranh chấp là của cụ Tôn được chế độ cũ cấp, không phải là đất của cố Giản, cố Kiên để lại, nếu phải chia thừa kế, phải chia cho cả cụ Bè vợ cả cụ Ân như cụ Thuyên và phần của cụ Bè do ông Vân chăm sóc nuôi dưỡng được hưởng Đất cụ Tôn kê khai có 650m2, nhưng nay Tòa chia toàn bộ đất là không đảm bảo quyền lợi của ông Vân Trích công sức trông coi nhà đất mấy chục năm cho ông Vân chỉ 200.000.000 đồng là không thỏa đáng
Tại Quyết định kháng nghị số 586/2010/DS-KN ngày 30 tháng 7 năm2010, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên;
đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2008/DS-ST ngày 31-01-2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, giao hồ sơ vụ án cho Tòa
án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật
Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị chỉ tăng phần công sức cho gia đình ông Vân, các phần khác không cần thiết huỷ án giao về xem xét lại
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định:
- Về nhàthờ và đất thổ cư:
Căn cứ lời khai của các đương sự và các tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời khai ban đầu của ông Vân đều xác định căn nhà thờ trên diện tích đất còn lại sau giải toả
đo thực tế 1.043,8m2 thuộc thửa số 550, 551, bản đồ 3a tại thôn P, xã V, thành phố
N là do cố Giản, cố Kiên tạo lập Ông Vân không có chứng cứ chứng minh đất tranh chấp do cụ Tôn tạo lập, vì chính vợ cụ Tôn là cụ Nhung khi còn sống và các con cụ Tôn đều xác định nhà đất trên là của 2 cố để lại Các đương sự (trừ ông Vân) đều khai, sau khi cố Giản (chết năm 1957), cố Kiên (chết năm 1962), cụ Khải (chết năm 1958), cụ Ân đi tập kết, chỉ còn lại cụ Tôn là con trai 2 cố nên cụ Tôn đứng tên kê khai đất năm 1963 là phù hợp Mặc dù cụ Tôn có kê khai đất, nhưng trên đất vẫn còn nhà của 2 cố; cụ Mười, cụ Thúc (con gái 2 cố) vẫn có nhà và sống tại khu đất này, không có tài liệu lưu trữ xác định 2 cố có di chúc để cho cụ Tôn hưởng thừa kế nhà đất tranh chấp Ông Vân ở đây từ năm 1975, có kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996, nhưng cũng không có giấy tờ 2
cố cho riêng ông Vân hưởng Căn cứ các nội dung mà Thanh tra thành phố N đã cung cấp tại các biên bản làm việc ngày 11-7-2007 và 30-7-2007 (BL 198 - 200) thì đất cụ Tôn kê khai thửa 183, bản đồ 02, diện tích 1.300m2 Thực tế, sau khi giải toả nay còn lại 1.043,8m2 Diện tích này là tương ứng với diện tích cụ Tôn kê khai, nên không có cơ sở xác định ông Vân có công sức khai hoang thêm đất để mở rộng diện tích như ông Vân khai Vì vậy, toàn bộ nhà đất tranh chấp là di sản của cố Giản, cố Kiên để lại, 2 cố chết không có di chúc, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chia thừa kế di sản của 2 cố theo luật là phù hợp
Trang 9Về đất màu (đất nghĩa địa), diện tích 1,384,1m2 thửa 439, 440, bản đồ 3a cũng tại thôn P, xã V, thành phố N, Khánh Hoà, các đương sự xác định có nguồn gốc của 2 cố, nhưng đây là đất nông nghiệp, ông Vân đã trực tiếp quản lý canh tác
từ năm 1975 đến nay và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1993 nên không còn là di sản của 2 cố như Tòa án cấp phúc thẩm quyết định là có cơ sở
Về tố tụng: Do những người đang sinh sống ở nước ngoài là ông B, các con
cụ Tôn, tuy các đơn của họ chưa được hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định, nhưng khi giải quyết Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm vẫn chia thừa kế cho họ được hưởng thừa kế theo pháp luật, sau khi xét xử phúc thẩm họ cũng không khiếu nại, nên việc giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ
Các nội dung khác kháng nghị cho rằng cần xác minh thêm, nhưng sau khi
có kháng nghị, chính quyền địa phương cũng xác định không còn tài liệu nào khác
để cung cấp thêm
Tuy nhiên, thực tế sau năm 1975 gia đình ông Vân đã sinh sống tại đây, có công sức lớn trong việc quản lý duy trì tài sản và đã kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay đất trở lên có giá trị lớn, tổng giá trị di sản là 6.674.512.550 đồng Vì vậy cần xem xét lại phần công sức cho gia đình ông Vân ít nhất 1/2 kỷ phần thừa kế mới hợp lý Tòa án cấp phúc thẩm tính công sức cho ông Vân chỉ 200.000.000 đồng trong khi 1 kỷ phần thừa kế là 1.290.902.510 đồng là chưa đảm bảo quyền lợi của gia đình ông Vân
Căn cứ vào khoản 3 Điều 297, khoản 1, 2 Điều 299 Bộ Luật Tố tụng Dân sự;
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định:
1 Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 08/2008/DS-PT ngày 29-10-2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng về vụ án tranh chấp di sản thừa kế giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn C với bị đơn là ông Nguyễn Thanh V
2 Giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật
Đề xuất nội dung phát triển án lệ:
Qua nghiên cứu nội dung vụ án cho thấy, phần nhận định sau đây đã đưa ra được vấn đề pháp lý cần giải quyết và đưa ra đường lối giải quyết đúng pháp luật, bảo đảm được quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự, hoàn toàn đáp ứng được các tiêu chí lựa chọn án lệ Cụ thể là:
“Tuy nhiên, thực tế sau năm 1975 gia đình ông Vân đã sinh sống tại đây, có công sức lớn trong việc quản lý duy trì tài sản và đã kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay đất trở lên có giá trị lớn, tổng giá trị di sản là 6.674.512.550 đồng Vì vậy cần xem xét lại phần công sức cho gia đình ông Vân ít
Trang 10Vân chỉ 200.000.000 đồng trong khi 1 kỷ phần thừa kế là 1.290.902.510 đồng là chưa đảm bảo quyền lợi của gia đình ông Vân”
Đường lối xử lý của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong vụ
án này là hợp lý, vì bản chất nhà đất gia đình ông Vân đang quản lý, sử dụng là của các cụ để lại nhưng gia đình ông Vân đã sinh sống tại nhà đất này trong thời gian dài, có công sức lớn trong việc quản lý duy trì tài sản và đã kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay đất trở lên có giá trị lớn nên việc xem xét chia
di sản là nhà đất này phải tính đến công sức duy trì, quản lý tài sản cho gia đình ông Vân Mặc dù còn có quan điểm khác nhau về việc tính toán công sức quản lý, duy trì di sản trong các trường hợp khác nhau nhưng trong vụ án cụ thể này phán quyết của Tòa án về giá trị phần công sức duy trì, tôn tạo là phù hợp, hợp tình, hợp
lý và bảo đảm quyền lợi cho đương sự
Lập luận của Tòa án trong vụ án này là phù hợp tình tiết khách quan của vụ
án Giải pháp nêu ra trong phán quyết này “Vì vậy cần xem xét lại phần công sức
cho gia đình ông Vân ít nhất 1/2 kỷ phần thừa kế mới hợp lý Tòa án cấp phúc thẩm tính công sức cho ông Vân chỉ 200.000.000 đồng trong khi 1 kỷ phần thừa kế là 1.290.902.510 đồng là chưa đảm bảo quyền lợi của gia đình ông Vân” là giải pháp
có lý, có tình và phù hợp với quy định của pháp luật
Vấn đề pháp lý tôi đề nghị cần phát triển thành án lệ trong vụ án nêu trên là
“Người đang quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế chưa chia đã
sinh sống trên trong thời gian dài và có công sức lớn trong việc quản lý, duy trì tài sản; đã kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trường hợp này, khi xem xét tính công sức cho người đó cần tính ít nhất bằng ½ giá trị kỷ phần thừa kế” Trên đây là một số ý kiến cá nhân về đề xuất lựa chọn quyết định giám đốc
thẩm nêu trên là nguồn để phát triển án lệ