1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỰ ỨNG XỬ CỦA CHÍNH QUYỀN PHONG KIẾN MINH - THANH ĐỐI VỚI CÔNG GIÁO TỪ NĂM 1552 ĐẾN NĂM 1911 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

106 653 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự ứng xử của chính quyền phong kiến Minh - Thanh đối với Công giáo từ năm 1552 đến năm 1911
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử văn hóa và tôn giáo
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 529,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy thời điểm du nhập vào Trung Quốc không đồng nhất,song các tôn giáo ngoại sinh cùng với những tôn giáo, tín ngưỡng bản địa đãcùng tồn tại, phát triển tương đối hòa bình và trong một c

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp của đề tài 7

6 Bố cục của luận văn 8

B NỘI DUNG 9

Chương I: QUÁ TRÌNH DU NHẬP ĐẠO CÔNG GIÁO VÀO TRUNG QUỐC THỜI MINH-THANH 9

1.1 Những tiền đề cho sự du nhập đạo Công giáo vào Trung Quốc 9

1.1.1 Tính lan tỏa của Công giáo 9

1.1.2 Trung Quốc- một địa bàn hấp dẫn cho công cuộc mở rộng “nước Chúa” của giáo hội Công giáo và sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây 12

1.1.3 Sự tiếp nhận cởi mở, ôn hòa đối với các tôn giáo ngoại sinh của người Trung Quốc trong lịch sử 15

1.2 Công cuộc truyền giáo dưới triều Minh (từ năm 1552 đến năm 1644) 20

1.2.1 Công giáo xuất hiện ở Trung Quốc thời Đường, Nguyên đã tạo cơ sở cho sự xác lập vị trí của nó dưới thời Minh 20

1.2.2 Hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ phương Tây 24

1.2.3 Hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ Trung Quốc 33

1.2.4 Vai trò của Macao đối với công cuộc truyền giáo ở Trung Quốc 35

Trang 2

1.3 Công cuộc truyền giáo dưới triều Thanh (từ năm 1644 đến năm 1911) 37

1.3.1 Hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ Dòng Tên 37 1.3.2 Các giáo sĩ dòng tu và công cuộc bản địa hóa Công giáo Trung Quốc 40

Chương II: SỰ ỨNG XỬ CỦA CHÍNH QUYỀN PHONG KIẾN MINH- THANH ĐỐI VỚI CÔNG GIÁO (TỪ NĂM 1552 ĐẾN NĂM 1911) 47 2.1 Sự ứng xử của chính quyền phong kiến nhà Minh đối với Công giáo (từ năm 1552 đến năm 1644) 47 2.2 Sự ứng xử của chính quyền phong kiến nhà Thanh đối với Công giáo (từ năm 1644 đến năm 1911) 53

2.2.1 Thời kì khoan dung đối với Công giáo (từ năm

1644 đến năm 1717) 53 2.2.2 Thời kì cấm đạo Công giáo (từ năm 1717 đến năm 1842) 60 2.2.3 Thời kì “cởi mở” đối với Công giáo (từ năm 1842 đến năm 1911) 65

2.3 Nguyên nhân dẫn đến những thay đổi trong ứng xử của chính quyền phong kiến Minh-Thanh đối với Công giáo 71

2.3.1 Xuất phát từ hệ quả của công cuộc truyền bá Công giáo ở Trung Quốc 71 2.3.2 Phản ứng của nhà Thanh trước cuộc “tranh chấp lễ nghi” và sự dính líu trực tiếp của các giáo sĩ trong cuộc xâm lược Trung Quốc của thực dân phương Tây 79 2.3.3 Sức ép từ các hiệp ước bất bình đẳng mà nhà Thanh đã kí với các nước phương Tây 88

C KẾT LUẬN 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 3

“với khoảng 100 triệu tín đồ”[11;59], cùng với đó là rất nhiều các hình thức

tín ngưỡng bản địa Tuy thời điểm du nhập vào Trung Quốc không đồng nhất,song các tôn giáo ngoại sinh cùng với những tôn giáo, tín ngưỡng bản địa đãcùng tồn tại, phát triển tương đối hòa bình và trong một chừng mực nào đó,

nó đã góp phần hình thành nét văn hóa mang đậm màu sắc Trung Quốc.Trong lịch sử, Phật giáo khi du nhập vào Trung Quốc đã chứng tỏ khả năngthích nghi tuyệt vời và một sức sống bền bỉ trong lòng dân chúng Công giáocũng đã từng xuất hiện ở Trung Quốc dưới thời Đường, Nguyên và đã có ảnhhưởng không nhỏ đến tín ngưỡng, văn hóa bản địa Tuy nhiên, khi triềuNguyên sụp đổ, Công giáo lại bị tuyệt tích ở nơi đây Từ giữ thế kỉ XVI, vớivai trò tích cực của các giáo sĩ, Công giáo lại một lần nữa được truyền bá vàoTrung Quốc Khi du nhập vào đất nước có bề dày truyền thống lịch sử và vănhóa như Trung Hoa, Công giáo đã vấp phải sự phản kháng rất lớn từ phíachính quyền phong kiến bởi nó xa lạ với đời sống văn hóa tinh thần của cưdân “Hoa Hạ” vốn đã thấm đẫm tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo.Những tôn giáo, tín ngưỡng đó đã ăn sâu, bám rễ trong đời sống tinh thần củangười dân Trung Quốc từ mấy ngàn năm, do đó Công giáo không dễ gì có thểnhanh chóng đâm chồi, nảy lộc ở nơi đây Hơn nữa, khi có sự tiếp xúc giữacác tôn giáo, tất yếu sẽ nảy sinh sự va chạm giữa Công giáo với văn hóa, tín

Trang 4

ngưỡng bản địa Vì thế, quá trình truyền bá Công giáo vào Trung Quốc là mộtquá trình phức tạp, kéo dài, có nhiều bước thăng trầm, song nó vẫn có đượcmột chỗ đứng ở quốc gia này Việc tạo dựng được một chỗ đứng trong lòng

xã hội Trung Quốc bên cạnh tính lan tỏa của Công giáo, sự nhiệt thành củacác giáo sỹ truyền đạo thì một yếu tố khác giữ vai trò khá quan trọng, đó là sựứng xử của chính quyền phong kiến Trung Quốc đối với Công giáo

Hiện nay, sự ứng xử đối với tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng

là vấn đề rất nhạy cảm đối với chính quyền các quốc gia tiếp nhận các tôngiáo ngoại sinh Mục tiêu là, vừa phải đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín

ngưỡng của nhân dân vừa đảm bảo độc lập dân tộc Do đó, vấn đề “tôn giáo

và dân tộc” luôn được đặt ra với bất cứ quốc gia nào Lịch sử truyền bá Công

giáo vào Trung Quốc là vấn đề hết sức phức tạp bởi những điều kiện lịch sửđặc trưng của quốc gia này, trong đó, cách ứng xử của chính quyền phongkiến Trung Quốc ở mỗi thời kì lại có sự khác nhau Có thể thấy, hai chínhsách cơ bản của chính quyền phong kiến Trung Quốc đối với Công giáo ở nơiđây; một là, chính sách nâng đỡ, khoan dung, chấp nhận sự du nhập của Cônggiáo; hai là, chính sách cấm đạo Trước một vấn đề lớn, phức tạp song cũngrất nhạy cảm, dựa trên khả năng nghiên cứu của bản thân, tác giả chỉ tập trungnghiên cứu một khía cạnh rất nhỏ, đó là: Tìm hiểu sự ứng xử của chính quyềnphong kiến Minh-Thanh đối với Công giáo từ năm 1552 đến năm 1911 Việcnghiên cứu, tìm hiểu sự ứng xử của chính quyền phong kiến Trung Quốc đốivới Công giáo trong thời kì này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, giúpchúng ta trả lời cho các vấn đề: Quá trình du nhập Công giáo vào Trung Quốcdiễn ra như thế nào? Tại sao trong thời kì đầu truyền giáo ở Trung Quốc, cácgiáo sỹ lại được sự ủng hộ của chính quyền phong kiến? Nguyên nhân dẫnđến những thay đổi trong ứng xử với Công giáo của chính quyền phong kiếnMinh-Thanh ?

Trang 5

Trên cơ sở tập hợp, xử lí những tài liệu liên quan đến vấn đề Công

giáo ở Trung Quốc, tác giả mạnh dạn chọn vấn đề: Sự ứng xử của chính quyền Minh-Thanh đối với Công giáo từ năm 1552 đến năm 1911 làm

hướng nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Tuy là vấn đề tương đối mới, song việc tìm hiểu về Công giáo TrungQuốc đã và đang được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Chúng ta có thể tìmthấy những nội dung về vấn đề Công giáo Trung Quốc qua các công trình sau:

1 Cuốn “Giáo hội Công giáo Trung Quốc” của Yến Khả Giai,

(Nguyễn Thị Bạch Tuyết dịch), NXB Tôn giáo, 2007 Đây là công trìnhnghiên cứu khá toàn diện về Công giáo từ khi du nhập đến nay ở TrungQuốc Cuốn sách cũng trình bày về quá trình truyền giáo ở Trung Quốctrong đó có thái độ của chính quyền phong kiến đối với hoạt động truyềngiáo Tuy nhiên, do trình bày về nhiều vấn đề của Công giáo ở Trung Quốc

từ khi du nhập đến nay nhưng chỉ được tác giả viết ngắn gọn trong hơn 100trang nên các vấn đề mới chỉ dừng lại ở mức độ thống kê, khái lược Songđây chính là nguồn tài liệu quan trọng nhất giúp chúng tôi có cơ sở đểnghiên cứu nội dung của luận văn

2 Cuốn “Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc” (3

tập) của Cát Kiếm Hùng, NXB Văn hóa-Thông tin Hà Nội, 2003 Ở tập III,tác giả đề cập đến lịch sử triều Minh, Thanh, trong đó có trình bày về quátrình du nhập Tây học vào Trung Quốc, qua đó cũng giúp chúng ta hiểu đượcmột phần về công cuộc truyền giáo của các giáo sỹ cũng như mối quan hệgiữa truyền giáo với quá trình Tây học ở Trung Quốc

3 Cuốn “Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc” của Ngô Vĩnh Chính

(cb) (Lương Duy Thứ dịch), NXB Văn hóa-Thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh,

1994 Tác giả trình bày một cách khái lược các vấn đề thuộc văn hóa Trung

Trang 6

Quốc từ cổ đại đến đầu thế kỉ XX, trong đó có thời Minh-Thanh Cuốn sách cótrình bày khá rõ về sự tiếp xúc của Trung Quốc với văn hóa phương Tây

4 Cuốn “Hành trình và truyền giáo” của Alexandre de Rhodes, (Hồng

Nhuệ biên dịch) NXB Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh,

1994 Trong cuốn sách này, tác giả có nói về thời gian truyền giáo của mìnhtại Trung Quốc từ năm 1630 đến năm 1640 Hoạt động truyền giáo của ôngsuốt 10 năm tại đây cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ sự ứng xử của chínhquyền nhà Minh đối với Công giáo

5 Cuốn “Trung Quốc trên bàn cân” của Nghệ Kiện Trung, (Phạm Đình

Cầu dịch), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 Cuốn sách trình bày baoquát nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật Tác giả đãdựng lên một bức tranh toàn cảnh của đất nước, con người Trung Hoa, cả quákhứ, hiện tại và tương lai Trong đó, ở chương XVI, tác giả trình bày về côngcuộc truyền bá Công giáo ở thời kì đầu vào Trung Quốc Mặc dù chỉ đượctrình bày trong một số trang, song đây cũng là những cứ liệu quan trọng đểchúng ta biết rõ hơn về sự du nhập của Công giáo vào Trung Quốc trong thờiĐường, Nguyên

6 Cuốn “Giáo hội, chủ nghĩa thực dân và các phong trào độc lập dân tộc” của Ro-gie ga-ro-di, NXB Sự Thật, 1961 Tác giả đã tập trung phân tích

mối liên hệ mật thiết giữa công cuộc truyền giáo và chủ nghĩa thực dân.Trong một số trường hợp cụ thể mà tác giả nêu ra để phân tích có trường hợpCông giáo Trung Quốc

7 Cuốn “Tôn giáo và đời sống hiện đại”, tập 5, Võ Kim Quyên (chủ

biên), NXB Khoa học Xã hội, 2004 Tập sách này giới thiệu toàn bộ về tôngiáo ở Trung Quốc trong đó có Công giáo Tuy nhiên, phần viết về Công giáothời kì mới du nhập được viết rất ngắn, chỉ tập trung viết về Công giáo trongthời kì cải cách

Trang 7

8 Cuốn “Lịch sử văn hóa Trung Quốc”, tập 2, NXB Văn hóa-Thông

tin Hà Nội, 1999 Cuốn sách dày gần 1000 trang, tập hợp nhiều bài viết củacác tác giả về văn hóa Trung Quốc Trong đó có bài viết của tác giả TrươngTuy, Phan Nại, trả lời các vấn đề: Đạo Cơ Đốc* bắt đầu tryền vào Trung Quốc

từ khi nào? Tình hình phát triển của Công giáo tại Trung Quốc ra sao? ThờiCận đại, khoa học kĩ thuật của phương Tây đã du nhập vào Trung Quốc nhưthế nào? Những bài viết đó cũng đã phác họa những nét cơ bản về Công giáoTrung Quốc

9 Cuốn “Lịch sử truyền giáo” của Lê Hoàng Phu (Tài liệu lưu trữ của

Viện Nghiên cứu Tôn giáo) Đây là bản viết tay của tác giả, mặc dù chỉ hơn

30 trang song đây cũng là một công trình nghiên cứu về công cuộc truyềngiáo của các giáo sĩ Công giáo, mối liên hệ giữa truyền giáo và thực dân ởTrung Quốc thời Minh-Thanh

10 Cuốn “Tôn giáo ở Trung Quốc 100 câu hỏi và trả lời” của Lữ Vân,

NXB Văn hóa - Thông tin Hà Nội, 2003 Cuốn sách này được coi là cẩm nang

để giải quyết một số thắc mắc về vấn đề tôn giáo ở Trung Quốc, trong đó cóvấn đề Công giáo

11 Cuốn “Đại cương lịch sử tư tưởng Trung Quốc” của Lê Văn Quán,

NXB Giáo dục Hà Nội, 1997 Cuốn sách gồm 22 chương được chia làm 4thiên, ở thiên thứ 3 tác giả khái quát về xã hội, tư tưởng thời Tống, Nguyên,Minh, Thanh Trong đó, tác giả đã phân tích và khẳng định sự thay đổi về xãhội, tư tưởng thời Minh-Thanh cũng chịu sự tác động của Công giáo Điều đócho ta thấy được vai trò của Công giáo đối với xã hội Trung Quốc

12 Bài viết: “Lịch sử hình thành và phát triển đạo Công giáo ở Trung Quốc” của Hải Bằng, Phúc Nguyên đăng trên tạp chí Công tác Tôn giáo số 6

năm 2011 Bài viết cũng nêu khái lược về công cuộc truyền giáo ở TrungQuốc và thực trạng Công giáo Trung Quốc hiện nay

* Đạo Cơ Đốc: Tên gọi khác của đạo Kitô, đạo Công giáo là một trong ba nhánh chính của Kitô giáo

Trang 8

13 Bài viết: “Vấn đề tiếp thu văn hóa phương Tây của Trung Quốc và Việt Nam cuối thế kỉ XIX” của Hoàng Văn Hiến đăng trên Tạp chí Nghiên cứu

Lịch sử số 3, năm 2000 Bài viết này cũng giúp tác giả có được những thông tinquan trọng về giai đoạn đầu của công cuộc truyền bá Công giáo ở Trung Quốc

14 Bài viết “Quá trình truyền bá Cơ Đốc giáo và văn hóa cận đại phương Tây ở Trung Quốc” của Hương Thảo đăng trên Tạp chí Nghiên cứu

Trung Quốc, số 4, năm 2007 Bài viết đã trình bày một cách khái quát quátrình truyền bá Cơ Đốc giáo vào Trung Quốc thông qua sự giao lưu văn hóagiữa Trung Quốc với phương Tây

Như vậy, các học giả Trung Quốc cũng như học giả các nước khác

cũng đã dành sự quan tâm nhất định để nghiên cứu, tìm hiểu về Công giáoTrung Quốc Song, các nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến vấn đề truyền báCông giáo và tác động của nó đối với văn hóa Trung Quốc Trong khi đó, sựứng xử của chính quyền phong kiến đối với Công giáo lại chỉ được đề cập đếnmột cách tản mạn, chưa hệ thống, chưa có sự đối chiếu, so sánh với các quốcgia trong khu vực để chỉ ra điểm tương đồng, khác biệt Đặc biệt, chưa lý giải

vì sao lại có sự thay đổi trong ứng xử đối với Công giáo của chính quyềnphong kiến Minh-Thanh Tuy nhiên, với phạm vi nghiên cứu của đề tài thìnhững công trình kể trên chính là sự gợi mở, là nguồn tài liệu quan trọng giúptác giả có cơ sở để hoàn thành đề tài của mình

3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu.

- Nội dung nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung chính sau:

Một là: Quá trình du nhập đạo Công giáo vào Trung Quốc thời Minh-Thanh Hai là: Sự ứng xử của chính quyền phong kiến Minh-Thanh đối với

Công giáo từ năm 1552 đến năm 1911

- Phạm vi nghiên cứu

Trang 9

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu quá trình du nhập Công giáo vào

Trung Quốc và sự ứng xử của chính quyền phong kiến Minh-Thanh đối vớiCông giáo từ năm 1552 đến năm 1911

+ Năm 1552 giáo sỹ Francis Xavier là người đầu tiên tìm cách đưaCông giáo trở lại Trung Quốc sau nhiều thế kỉ vắng bóng

+ Năm 1911 với cuộc cách mạng Tân Hợi đã lật đổ vương triều nhàThanh, mở ra những điều kiện mới cho lịch sử Trung Quốc nói chung và lịch

sử Công giáo Trung Quốc nói riêng

Về không gian: Luận văn nghiên cứu Công giáo ở Trung Quốc (quá

trình du nhập và sự ứng xử của chính quyền phong kiến Minh-Thanh đối vớiCông giáo), trong đó có sự liên hệ với Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu.

Thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng hai phương pháp chính làphương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Ngoài ra, còn kết hợp sử dụngcác phương pháp, phân tích, tổng hợp, so sánh để lý giải nguyên nhân dẫnđến sự thay đổi trong ứng xử của chính quyền phong kiến Minh-Thanh đốivới Công giáo

5 Đóng góp của đề tài.

Trên cơ sở khái quát công cuộc truyền giáo của các giáo sỹ ở TrungQuốc, tác giả tập trung tìm hiểu sự ứng xử của chính quyền phong kiến Minh-Thanh đối với Công giáo từ năm 1552 đến năm 1911 Từ đó luận văn nhằmgiải quyết một số vấn đề:

+ Các giáo sỹ Công giáo đã làm thế nào để tạo được chỗ đứng cho mình ở

một quốc gia có truyền thống “Tam giáo đồng nguyên” như Trung Quốc ?

+ Chính quyền phong kiến Minh-Thanh đã ứng xử như thế nào đối vớiCông giáo?

+ Những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trong cách ứng xử đối với Cônggiáo của chính quyền phong kiến Minh-Thanh từ năm 1552 đến năm 1911 ?

Trang 10

6 Bố cục của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm hai chương:

Chương I Quá trình du nhập đạo Công giáo vào Trung Quốc thời

Minh-Thanh

Chương II Sự ứng xử của chính quyền phong kiến Minh-Thanh đối với

Công giáo từ năm 1552 đến năm 1911

Trang 11

B NỘI DUNG

Chương I: QUÁ TRÌNH DU NHẬP ĐẠO CÔNG GIÁO VÀO

TRUNG QUỐC THỜI MINH-THANH.

1.1 Những tiền đề cho sự du nhập đạo Công giáo vào Trung Quốc.

1.1.1 Tính lan tỏa của Công giáo.

Kitô giáo ra đời vào thế kỉ thứ nhất sau công nguyên, ở một vùng đấtthuộc miền Đông của đế quốc Rôma Tại đế quốc Rôma thời đó, áp bức giaicấp vô cùng nặng nề, chẳng những nô lệ bị bóc lột tàn khốc mà ngay cả tầnglớp dân tự do cũng bị dồn đến bước đường cùng Để phản kháng, họ đã tiếnhành nhiều cuộc khởi nghĩa, trong đó tiêu biểu nhất là phong trào đấu tranhcủa dân tộc Do Thái ở vùng Palextin Song, vì chính quyền nhà nước chủ nôkhi đó còn quá mạnh nên các phong trào đấu tranh trước sau đều bị đàn áp.Đông đảo dân chúng thuộc mọi giai tầng, với tâm trạng uất ức, mệt mỏi vàtuyệt vọng, chỉ còn biết trông chờ, hy vọng sẽ có một con đường màu nhiệmcứu họ thoát khỏi mọi nỗi khổ đau Đương thời, ở Palestine và Israel đangthịnh hành Do Thái giáo, tôn sùng và tin tưởng Giêhôva (Yahve) là vị thầnchân chính, duy nhất giáng trần, cứu vớt muôn dân Trên cơ sở của niềm tinnày, lại hấp thụ những quan niệm về thiên đường, địa ngục và linh hồn bất tửlưu hành lúc đó, cùng những thuyết giáo của các nhà triết học cổ Hy-La về sựnhẫn nại, cấm dục… mà Kitô giáo nguyên thủy dần hình thành Như vậy,Kitô giáo được chúa Jesus-con một người thợ mộc bình dân xứ Nazareth, lập

ra ở Palestine trên cơ sở thần học Do Thái và các tín ngưỡng của những địaphương thuộc đế quốc Rôma Xuất phát là tôn giáo của những người nô lệ bịRôma đô hộ, Kitô giáo sơ kì luôn đứng về những người nghèo, những người

bị áp bức, thậm chí họ còn công khai kêu gọi trả thù kẻ thống trị họ Songcùng với việc truyền bá rộng rãi tôn giáo này, nhiều người thuộc tầng lớp giàu

có cũng chủ động trở thành tín đồ của nó “Bất kể số lượng người theo đạo

Trang 12

Cơ Đốc là bao nhiêu trong các tầng lớp dân cư thấp nhất, thì ngay từ thế kỉ thứ nhất người ta đã thấy họ có mặt cả trong hoàng tộc nữa rồi” [32;11-12].

Họ cổ vũ cho sự nhẫn nại, phục tùng và những hành động cầu xin đượcThượng Đế đền đáp sau khi chết, nhằm mục đích khiến Kitô giáo từng bướcthích ứng với nhu cầu của tầng lớp thống trị Từ khi trở thành quốc giáo của

đế quốc Rôma (cuối thế kỉ IV) thì quyền lực chính trị và thực lực kinh tế củađạo Kitô không ngừng được củng cố và phát triển Giáo hội Rôma trở thànhchúa phong kiến lớn nhất, giàu có nhất ở Tây Âu Đến năm 756, giáo hội đã

có lãnh thổ riêng, lập nên một nhà nước Kitô giáo độc lập Như vậy, từ chỗ làtôn giáo của người nghèo giờ đây Kitô giáo đã trở thành tôn giáo của ngườigiàu, thành công cụ của giai cấp thống trị Lịch sử đã cho thấy rằng, từ khigiáo hội Rôma trở thành quốc giáo thì cây gươm tinh thần của Thánh Paul đã

luôn luôn bị cám dỗ để biến thành cây gươm thép thực sự “Kinh thánh đã ghi: Ai lấy hãy vâng phục chính quyền cai trị mình vì chẳng có một quyền lực nào không do chúa Trời mang đến, quyền lực nào cũng do Chúa Trời tạo nên… cho nên ai chống lại kẻ cầm quyền là chống lại mệnh lệnh chúa Trời”

[32;14] Trong suốt lịch sử phát triển của mình, Kitô giáo không ngừng lan

tỏa để tìm kiếm những quê hương mới (để “mở rộng nước Chúa” hay là để

“giải phóng đất Thánh”) Với nhiều cách khác nhau, như thông qua việc buôn

bán, giao lưu văn hóa hay các chiến binh ở lại sau các cuộc chiến tranh, hoặcmột cách chủ động tìm đến những vùng đất mới để truyền giáo, chủ yếu là

thời kì tiền thực dân và thực dân “Giáo lý Cơ Đốc tuyên bố rằng: Thượng Đế (Chúa trời) sáng tạo thế giới, là đấng toàn thiện-toàn trí-toàn năng, tín đồ tất phải tôn kính, phục tùng, chấp nhận sự an bài của Thượng Đế, nếu phục tùng

ý chí Chúa Trời, người ta sau khi chết sẽ được lên Thiên đàng…” [32;15].

Những điều đó là sự đối nghịch với các chính quyền phong kiến và với cáctôn giáo, tín ngưỡng khác ở những nơi mà nó muốn đặt chân đến Bởi vậy,

Trang 13

không dễ gì tôn giáo này có thể có được chỗ đứng và ảnh hưởng tới nhữngvùng đất nó truyền đến Trong điều kiện đó, Kitô giáo đã bộc lộ tính lan tỏatrong quá trình mở rộng ảnh hưởng của mình ở những thời kì khác nhau vớicác biện pháp khác nhau Kitô giáo thời Trung cổ được truyền bá như mộtcông cụ chống lại quần chúng khi đề cao tình yêu thương lẫn nhau, để nhẫnnhục chịu đựng và khuất phục Suốt 10 thế kỉ, ở phương Tây, nhà thờ Kitô đãsát cánh cùng nhà nước phong kiến gây nên không ít tội ác với nhân dân, gópphần kéo lùi lịch sử bằng cách chống lại một cách điên cuồng các trào lưu tưtưởng tiến bộ và các phát minh khoa học Ga-li-le bị bỏ tù, Bru-nô bị hỏa

thiêu…đó là số phận cay đắng của các nhà khoa học trước tòa án tôn giáo.

“Chỉ riêng ở Tây Ban Nha, trong 350 năm hoành hành của “tòa án tôn giáo”

đã có 15 vạn người bị thiêu sống, 90 vạn người bị tù chung thân, 20 vạn người bị tàn phế, 5 triệu người bị lưu đày chỉ vì họ nghèo hoặc không vừa ý nhà thờ Chưa kể đến các tội ác đẫm máu của các đoàn quân Thập Tự gây ra

ở Trung Cận Đông trong hai thế kỉ XI-XIII dưới chiêu bài “giải phóng đất thánh” thoát khỏi tay người Hồi giáo mà thực chất là thực hiện tham vọng bành trướng thế lực chính trị-kinh tế của phong kiến châu Âu” [71;86-87]

Sau khi giai cấp tư sản ra đời, giáo hội lại tiếp tay cho sự phát triển củachủ nghĩa tư bản, tô vẽ cho bộ mặt của giai cấp tư sản Đặc biệt, sau phát kiếnđịa lí của Vaxcô đơ Gama - tìm ra con đường sang phương Đông, hay cuộchành trình vòng quanh thế giới của Majelan, con đường buôn bán với phươngTây được khai thông thì các nước tư bản Tây Âu như Bồ Đào Nha, Tây BanNha, sau nữa là Hà Lan, Anh, Pháp ồ ạt sang phương Đông tìm hương liệu, thịtrường phục vụ cho quá trình tích lũy nguyên thủy tư bản Vì thế, để phục vụcho quá trình xâm lược được nhanh chóng, mục đích kinh tế, chính trị sớmđược thực hiện, thì theo sau hoặc đồng hành với các đoàn thương nhân là cácgiáo sỹ Từ đó, quá trình truyền bá Kitô giáo sang phương Đông (trong đó có

Trang 14

Trung Quốc) mới bắt đầu diễn ra một cách mau lẹ, mạnh mẽ và có chủ đích Sự

va chạm về quyền lợi kinh tế, chính trị giữa thực dân phương Tây và giai cấpthống trị ở phương Đông bắt đầu Phương hướng hoạt động cơ bản của nhữngngười truyền giáo gắn liền với việc khai thác châu Mĩ, châu Á, châu Phi vàchâu Đại Dương

Những tôn giáo lớn trên thế giới, trong quá trình lan tỏa, cùng lúc với sựtruyền bá đức tin còn có vai trò truyền tải văn hóa nội sinh của tôn giáo đócũng như văn hóa của cộng đồng sản sinh ra nó Bởi vậy, phong trào truyềngiáo đã đóng một vai trò không nhỏ trong lịch sử văn hóa thế giới không hẳn

do nó đem tôn giáo đến với các dân tộc bản địa mà chủ yếu là do phổ biến một

số thành tựu của nền văn minh châu Âu sang phương Đông Ở mỗi quốc gia,trong những thời kì khác nhau, các giáo sỹ đã có những phương cách tiếp cậnkhá linh hoạt để đưa tôn giáo này thâm nhập và phát triển Quá trình du nhậpcủa Công giáo vào Trung Quốc dưới thời phong kiến Minh-Thanh chính làbiểu hiện cụ thể tính lan tỏa của tôn giáo này ở nơi đây

1.1.2 Trung Quốc - một địa bàn hấp dẫn cho công cuộc mở rộng “nước Chúa” của giáo hội Công giáo và sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây.

Từ khi trở thành quốc giáo của đế quốc Rôma, Công giáo đã trở thànhcông cụ của giai cấp phong kiến châu Âu, khi nó là một bộ phận của thượngtầng kiến trúc Đến thế kỉ XV, khi chủ nghĩa tư bản dần hình thành thì nónhanh chóng trở thành công cụ hữu hiệu cho giai cấp tư sản trong việc thựchiện tham vọng của mình Các cuộc phát kiến địa lý diễn ra ở thế kỉ XV, cùngtham gia với các đoàn thương nhân còn có mặt thường xuyên và đông đảo cácgiáo sỹ để đảm nhiệm sứ mạng chinh phục các linh hồn Khi giai cấp tư sản rađời và đóng vai trò quyết định trong đời sống xã hội phương Tây thì quyềnlực chính trị và kinh tế của giáo hội Công giáo La Mã dần dần bị triệt tiêu,

Trang 15

song quyền lực về tinh thần tuy có bị hạn chế nhưng vẫn tồn tại, bởi ngaychính quyền mới, chính quyền của giai cấp tư sản, vẫn cần có sự quy phụccủa nhân dân ở chính quốc cũng như ở thuộc địa mà Công giáo là công cụtinh thần đắc lực để duy trì sự qui phục đó Vì vậy, giai cấp tư sản phươngTây, mặc dù có lúc muốn thủ tiêu hoàn toàn quyền lực của giáo hội, songngay sau đó lại thỏa hiệp không những vẫn để cho giáo hội Công giáo tự dohành đạo ở chính quốc mà còn ủng hộ và tài trợ cho các tổ chức truyền giáo ravùng đất ngoại Bởi vậy, các giáo sỹ truyền đạo đã trở thành những người môigiới cho việc buôn bán, cung cấp những thông tin quan trọng về mọi mặt củaquốc gia họ đang truyền giáo về cho chính quốc Giáo lý của giáo hội về cácvấn đề thuộc địa đã có rất lâu rồi Ngay từ khi vấn đề được đặt ra, nghĩa làvào cuối thế kỉ XV, một nhà thần học Tây Ban Nha là Phơ-răng-xoa đơ Vích-

tô-ri-a đã xác lập về quyền thực dân dựa trên nguyên tắc: “Chúa đã tạo ra vũ trụ cho tất cả mọi người, vậy tuyệt nhiên không được cản trở những người có thể khai khẩn những tài nguyên của thế giới một cách tốt nhất Kinh Phúc Âm truyền phải “giáo dục tất cả các nước” vậy, tuyệt nhiên không được cản trở những người mang đạo Cơ Đốc đến cho những kẻ vô đạo Người ta đã không ngừng sử dụng hai luận điểm chủ yếu đó từ năm thế kỉ nay để biện hộ cho sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân” [55;13] Từ thế kỉ XV, người ta đã thấy

chính sách của giáo hoàng giao phó cho tín đồ là nghĩa vụ xâm lăng để thu

người vào đạo Vì thế, với điều kiện mang theo các thầy tư tế mang “thông điệp của đấng Kitô” đến với các nước Sự gắn kết giữa giáo hội và chủ nghĩa thực dân đã bộc lộ rõ “Thái độ thực tiễn của giáo hội cũng phù hợp với giáo

lý suốt trong thời kì phát triển của chủ nghĩa thực dân, giáo hội đã giúp đỡ

nó một cách thực tiễn cũng như biện hộ cho nó về mặt lý thuyết Vuốt ve những kẻ đa cảm bằng những bài kết án thực sự “quá lạm’ của chủ nghĩa thực dân trong khi vẫn thừa nhận nguyên lý của chủ nghĩa đó là chính đáng,

Trang 16

các giáo phái (giáo hoàng và các giám mục) đã bao che cho mọi hành động xâm lược thuộc địa” [55;15]

Những minh chứng trên đây cho thấy, sự pha trộn giữa động cơ thiêngliêng với những động cơ phàm tục là điều không thể tránh khỏi trong bối cảnhcủa lịch sử phương Tây thời cận đại Mối quan hệ giữa truyền giáo và chủnghĩa thực dân trở thành mối quan hệ gắn bó không tách rời Những hoạtđộng truyền giáo lại trở thành công cụ cho chủ nghĩa thực dân Chỉ có điều,

sự mật thiết của mối quan hệ đó ở mức độ khác nhau tùy theo các giai đoạnlịch sử cụ thể, ở từng quốc gia khác nhau

Trong khi giai cấp tư sản phương Tây, trong quá trình phát triển đã vàđang thiếu những thứ đặc biệt quan trọng, đó là một thị trường rộng lớn đểbuôn bán, một nơi để khai thác nguyên liệu phục vụ cho sự phát triển nềnkinh tế công nghiệp, một nơi có nguồn nhân công dồi dào, giá rẻ Các nước tưbản phương Tây đã nhanh chóng phát hiện ra điều này ở Trung Quốc Do đó,việc tìm đến Trung Quốc đã trở thành tâm điểm, là mục tiêu của chủ nghĩathực dân phương Tây Khi Marcô Pôlô từ Trung Quốc trở về sau cuộc hành

trình dài ngày thì cuốn sánh “Truyện ký về hành trình của Marcô Pôlô” được

công bố, nhiều người truyền tay nhau tập bản thảo ký sự đó Đến thế kỉ XV,

bộ sánh được lưu truyền trên toàn thế giới Do đó, người ta có được nhữnghiểu biết về phương Đông, trong đó có Trung Quốc là nơi có nền kinh tế phồnvinh với nhiều vàng bạc và có nền văn minh cao lúc bấy giờ Trong quyển

sách này, Marcô Pôlô đã khen ngợi Trung Quốc: “ là Đế Quốc Trung Hoa, có thành thị và thôn ấp chạy dài liên miên bất tận và thủ đô của nước này có mặt bằng rộng lớn, đường đi chi chít như bàn cờ, xinh đẹp không thể tả, còn cung điện thì tráng lệ nguy nga Ông cho rằng Tuyền Châu thời bấy giờ là một hải cảng lớn nhất thế giới, trong thương cảng này có rất nhiều hàng hóa, bảo thạch, trân châu Số lượng của những thứ hàng hóa này nhiều đến nỗi ai

Trang 17

nhìn cũng phải giật mình” [26;594] Bởi vậy, một loạt các quốc gia phương

Tây đã tìm cách đến và gây ảnh hưởng của mình ở Trung Quốc Năm 1553,người Bồ Đào Nha lấy cớ phơi đồ đạc bị ướt đã đổ bộ lên Áo Môn Sự kiện

đó đã trở thành sự kiện mở đầu cho các nước thực dân phương Tây tiến vàoTrung Quốc Từ đó trở đi, Áo Môn đã trở thành đầu cầu và căn cứ địa củangười châu Âu để lấn sâu vào nội địa Trung Quốc Những hoạt động thựcdân, mậu dịch của người châu Âu được tiến hành đồng bộ với hoạt độngtruyền giáo Thế là, thực dân châu Âu đã bắt đầu mở những cuộc thăm dò vàoTrung Quốc Thực dân Hà Lan mà đại diện là công ty Đông Ấn đã đổ bộ xâmchiếm đảo Đài Loan Họ lấy thành Đài Loan (nay là An Bình) và thành XíchKhảm (nay là Đài Nam) làm trung tâm, thiết lập sự thống trị thực dân của họ,đồng thời liên tiếp quấy rối khu vực bờ biển phía đông nam của Trung Quốc.Cùng với những hoạt động trên, bắt đầu từ buổi giao thời hai triều đại Minh-

Thanh đã xuất hiện quá trình “Tây học Đông tiến” thông qua các hoạt động

đồ tôn giáo thực thụ luôn là một số nhỏ trong tổng dân số Trung Quốc Ngoàimột số vùng các dân tộc thiểu số cư trú ra, không có tôn giáo nào chiếm đượcđịa vị như một quốc giáo, chi phối trên phạm vi toàn quốc bởi nền văn hóaHán tộc đã chi phối toàn bộ hệ thống tư tưởng, tín ngưỡng của người Trung

Quốc Trong nền văn hóa đó, “Nho học đã ở địa vị chi phối, tạo điều kiện cho việc trị lý đất nước thông qua các quy chuẩn đạo đức và chỉ dựa vào chữ tín.

Nó không coi thường cũng không ủng hộ các quan niệm về quỷ thần và tôn

Trang 18

giáo” [53;8] Tuy nhiên, với giai cấp phong kiến Trung Quốc thì họ vừa muốn

sử dụng tôn giáo như một công cụ thống trị của mình lại vừa muốn kiềm chế

tôn giáo bởi các vua phong kiến thường coi mình là con Trời thì “họ không lệ thuộc vào một thượng đế tôn giáo nào, họ đã không hạ thấp mình [70;13].

Trái lại, trật tự tôn giáo được vương quyền xem như phụ thuộc Do vậy,những kẻ thống trị thuộc mọi triều đại luôn có thái độ khoan dung đối với tất

cả mọi tôn giáo nên các tín đồ tôn giáo có thể tiếp nhận tất cả những gì mà họcho là tốt đẹp từ các tôn giáo khác Vì thế, trong lịch sử Trung Quốc, chiếntranh tôn giáo đã không xảy ra

+ Phật giáo

Phật giáo xuất hiện khoảng cuối thế kỉ VI trước Công nguyên, trongchế độ đẳng cấp khắc nghiệt của xã hội Ấn Độ cổ đại, phát triển mạnh mẽdưới thời Asoka (thế kỉ III) và bắt đầu được truyền bá ra ngoài biên giới Ấn

Độ Có nhiều thuyết khác nhau về thời điểm Phật giáo du nhập vào TrungQuốc, song về cơ bản đều khẳng định nó được truyền vào Trung Quốc từ rất

sớm, khoảng trước hoặc sau công nguyên mà “con đường tơ lụa” là con

đường chủ yếu đưa Phật giáo đến nơi đây Khi truyền vào Trung Quốc, Phậtgiáo có vẻ xa lạ, song không mâu thuẫn với các tôn giáo, tín ngưỡng vốn có.Không những thế, Phật giáo còn đem lại cho đương thời những giải thích mới

mẻ về nỗi khổ của con người, về nguyên nhân khổ đau, về con đường thoátkhổ, đồng thời nó kêu gọi lòng từ bi hỷ xả, một chủ trương đáp ứng được khátvọng muốn cứu vớt của con người vốn nhiều rủi ro và lắm tai ương lúc bấygiờ Vì vậy, nó nhanh chóng tìm được chỗ đứng và có điều kiện bám rễ chắcchắn ở nơi đây Phật giáo nhanh chóng được chính quyền phong kiến TrungQuốc tiếp nhận, đến thời nhà Đường thì nó đã đạt đến giai đoạn cực thịnh.Khi truyền vào, Phật giáo đã hội nhập với truyền thống văn hóa bản địa, dầnphát triển thành một bộ phận quan trọng của văn hóa Trung Quốc Trong quá

Trang 19

trình phát triển ở Trung Quốc, cùng với Nho giáo và Đạo giáo, Phật giáo đãkết hợp bổ sung, pha trộn vào nhau làm nên những yếu tố chung trong hệ tư

tưởng mới ở đây Đó chính là cơ sở hình thành truyền thống “tam giáo đồng nguyên” Những giáo lý, giáo luật, quy tắc là chất kết dính các tôn giáo này.

“Đối với nhu cầu đức tin, người Trung Quốc ngả về Phật giáo; với nhu cầu

về kĩ thuật, họ đến với Đạo giáo; và với nhu cầu giáo dục xã hội, họ đến với Nho giáo” [18;56].

Các sách sử Trung Quốc có chép lại rằng: khi hai vị tăng sư Ấn Độ là

Ca Diếp Ma Đằng (Kasypâmtanga) và Trúc Pháp Lan (Dharmaraksa) đếnTrung Quốc đã được vua Minh Đế rất tôn kính, vua cho dựng chùa Bạch Mã,

là ngôi chùa đầu tiên ở Trung Quốc để phiên dịch kinh điển Như vậy, cáicách mà Phật giáo có thể thâm nhập vào Trung Quốc trong giai đoạn đầu chủyếu là việc dịch các sách kinh Phật từ chữ Phạn sang chữ Trung Quốc, dầndần còn có các tăng sư người Trung Quốc tham gia biên dịch sách kinh Phật.Điều này đã góp phần truyền bá giáo lý Phật giáo trong nhân dân Mặc dù có

hai thời kì bị “phế Phật” đó là thời Võ Đế Bắc Ngụy (năm 466) và thời Võ Đế

Bắc Chu (năm 560), song Phật giáo về cơ bản vẫn phát triển một cách tươngđối hòa bình ở Trung Quốc Sang thời nhà Tùy, được sự ủng hộ của các vuaTùy Văn Đế, Tùy Dưỡng Đế nên Phật giáo tiếp tục có bước phát triển sâu

rộng Sách lịch sử Phật giáo Trung Quốc viết: “Ngay khi tức vị, vua (Văn Đế)

hạ chiếu dựng chùa ở các danh sơn thuộc Ngũ Nhạc và dựng một chùa công cộng ở mỗi châu, gồm có 45 châu đều lấy tên là “Đại Hưng Quốc”, nhân dân được tự do xuất gia nên số tăng ni đã có tới 100.000 người”.[70;128] Như

vậy, Phật giáo từng bước được truyền bá rộng rãi ở Trung Quốc và được

“Trung Quốc hóa” về nhiều mặt như: phiên dịch nhiều bộ kinh ra chữ Hán,cho ra đời các tác phẩm luận bàn về Phật giáo, xác định hệ thống tượng thờ,nghi thức cúng bái tu tập, xây dựng nơi thờ tự theo quy mô hoành tráng với

Trang 20

kiểu thức cung điện Trung Quốc, lập thêm các tông phái…Từ thời TùyĐường trở về sau, Phật giáo đã trở thành tôn giáo lớn với kết cấu riêng biệt,thành hệ thống tôn giáo mang sắc thái dân tộc, một học thuyết lớn, tác độngmạnh mẽ sâu sắc đến lịch trình phát triển của văn hóa tư tưởng Trung Quốc,cùng Nho giáo và Đạo giáo tạo dựng nên nền tảng vững chắc cho đời sốngtinh thần của xã hội Trung Quốc qua hàng ngàn năm lịch sử.

+ Islam giáo (Hồi giáo)

Islam giáo ra đời gắn liền với tên tuổi, cuộc đời và sự nghiệp củaMohamet Mohamet sinh năm 570, xuất thân từ một bộ lạc có thế lực ởMecca Năm 40 tuổi, ông tuyên xưng rằng đã được Thượng Đế cho làm sứ giảcủa Người Sau một thời gian, ông bắt đầu đi truyền đạo Islam Tháng 7 năm

622 được coi là thời gian mở đầu kỉ nguyên Islam giáo (Hồi giáo)

Ngay từ khi xuất hiện, Islam giáo đã nhanh chóng lan tỏa đến nhiềukhu vực, trong đó có Trung Quốc Từ cuối thế kỉ VII, nhiều thương gia Ả rập

đã đặt chân lên bờ biển Trung Quốc, mở nhiều thương điếm tại các tỉnh venbiển Đến Trung Quốc, Islam giáo được gọi là Thanh Chân giáo hay ThiênPhương giáo Các nhà sử học Trung Quốc coi năm Vĩnh Thụy 2 (651), đờiĐường là mốc thời gian Islam giáo du nhập vào Trung Quốc

Quá trình truyền bá Islam giáo vào Trung Quốc chủ yếu thông qua cáchoạt động giao thương giữa các thương nhân Ả rập với người Trung Quốc,nhiều người trong số họ trở thành dân ngụ cư lâu dài tại kinh thành và một sốthành thị ven biển của Trung Quốc Trong thời Đường-Tống, Islam giáo ảnhhưởng chủ yếu ở các vùng thuộc tây bắc Trung Quốc Do tín ngưỡng Islamgiáo phải thường xuyên làm lễ nên họ sống tương đối tập trung hình thành

nên những khu vực gọi là “phiên phường” (khu người nước ngoài sinh sống).

Tại đó, họ xây dựng nhà thờ, nghĩa trang công cộng Những người nàythường sống ở Trung Quốc lâu dài, kết hôn với người Trung Quốc, qua nhiều

Trang 21

thế hệ và dần trở thành người Hồi giáo Trung Quốc Một số người TrungQuốc cũng chịu ảnh hưởng của họ và tin theo Islam giáo Như vậy, sự dunhập của Islam giáo vào Trung Quốc trong giai đoạn đầu là từ các thươngnhân, quá trình du nhập không diễn ra một cách ồ ạt, bởi thế nó không tạo ra

sự đối kháng gay gắt với các tôn giáo, tín ngưỡng bản địa

Từ thế kỉ thứ XIII, khi Thành Cát Tư Hãn đem quân Tây tiến, tín đồHồi giáo ở Tây Vực và một bộ phận người Ba Tư (Iranians) Ả rập buộc phảichạy sang phía Đông nội địa Trung Quốc, phần lớn trong số họ trở thành binhlính trong quân đội triều Nguyên, thời chiến ra trận, thời bình khai khẩn đồnđiền Sau này họ định cư ở Trung Quốc, kết hôn và sinh con đẻ cái với ngườiđịa phương, nhân khẩu cứ thế dần tăng theo năm tháng, cuối cùng hình thànhdân tộc Hồi mà sử sách gọi là “Hồi Hồi” Thời kì đầu, địa bàn sinh sống của

họ phân bố chủ yếu ở dải hành lang tỉnh Hà Tây và các tỉnh Hà Nam, SơnĐông, Thiểm Tây và Vân Nam Khi đó, những người này còn giữ tên họ vốn

có của dân tộc mình, về sau mới lần lượt đổi sang tên họ của người Hán Hồigiáo và những nhân vật cao cấp của tôn giáo này được triều Nguyên khá coitrọng, có nhiều người đã trở thành quan chức trong chính quyền triều Nguyên.Vương triều này còn xây dựng Quốc Tử Học dành riêng cho con em dân tộcHồi Ở các địa phương, nhà nước còn cho phép họ xây dựng nhà thờ Hồi giáo

để tín đồ có nơi hành lễ “Họ phân bố khắp các nơi trong đất Trung Quốc, được người Mông Cổ trọng dụng nên đạo Islam nhanh chóng bén rễ ở Trung Quốc và được Trung Quốc hóa Đạo Islam được truyền bá ở miền Tây nước

ta, tập trung chủ yếu ở vùng các dân tộc thiểu số miền Tây Ở nước ta đã có mười mấy dân tộc theo tín ngưỡng đạo Islam, như dân tộc Hồi, Ngô Duy Nhĩ, Cadac, Udobeck, Tagich, Taitar, Khơrơkhơchư, Sala, Đông Hưng, Bảo An v.v….”[68;315] Đến đầu thời Minh, đã hình thành khối cộng đồng dân tộc

Hồi và Hồi giáo chính là tín ngưỡng của khối cộng đồng dân tộc này, có cơ sở

Trang 22

rộng rãi và là một bộ phận không thể tách rời trong tín ngưỡng tôn giáo nóichung ở Trung Quốc.

Như vậy, quy mô truyền bá Islam giáo ở Trung Quốc, tuy không sâu,rộng như Phật giáo, nhưng cũng đem lại những ảnh hưởng đáng kể với nền vănhóa Trung Hoa Dân tộc Hồi có địa bàn cư trú khá rộng, song phân bố chủ yếutại các tỉnh: Ninh Hạ, Cam Túc, Hà Nam, Tân Cương, Thiểm Tây, Giang Tô…

Họ sống xen kẽ với người Hán, sử dụng ngôn ngữ Hán, có quan hệ rất mật thiếtvới văn hóa Hán, nhưng vẫn bảo lưu được rất nhiều tập tục của Hồi giáo Đồngthời, quá trình phổ biến tín ngưỡng Hồi giáo cũng làm xuất hiện những mốiliên hệ văn hóa nhất định với các dân tộc thiểu số khác theo đạo Hồi, từ đó hìnhthành khối đại đoàn kết giữa các dân tộc trên phạm vi cả nước

Tóm lại: Sự hiện diện của hai tôn giáo lớn, có nguồn gốc từ bên ngoài làPhật giáo và Hồi giáo như đã tình bày trên đây là cơ sở để chúng ta khẳng địnhrằng: Người Trung Quốc có thái độ cởi mở, ôn hòa khi tiếp nhận các luồng vănhóa, tôn giáo ngoại sinh Đó sẽ là một tiền đề thuận lợi cho sự du nhập Cônggiáo vào đất nước rộng lớn này ở giai đoạn muộn hơn

1.2 Công cuộc truyền giáo dưới triều Minh (từ năm 1552 đến năm 1644).

1.2.1 Công giáo xuất hiện ở Trung Quốc thời Đường, Nguyên đã tạo cơ sở cho sự xác lập vị trí của nó dưới thời Minh.

Đa số các học giả Trung Quốc đều khẳng định Công giáo xuất hiện

sớm nhất ở Trung Quốc vào năm đầu đời Đường, dựa theo tấm bia “Đại Tần Cảnh giáo lưu hành Trung Quốc bi”, đào thấy năm 1625 ở Tây An, do các

giáo sỹ Cảnh giáo lập vào năm 871 Xét về mặt giáo lý, Cảnh giáo là mộtdòng của Kitô giáo phương Tây Triều Đường đã có sự giao lưu, tiếp xúc với

Ba Tư và đế quốc Rôma, nên giáo hội Kitô ở Ba Tư đã sai tăng lữ Alabenngười Xyri sang Trung Quốc truyền đạo Đoàn của Alaben đến Trung Quốcvào năm Trinh Quán thứ 9 đời Đường (năm 635) Ban đầu, họ xây nhà thờ ở

Trang 23

Trường An, tiếp đó mở rộng ra các nơi Khi đó, đạo Kitô của họ được gọi làCảnh giáo, giáo hội gọi là Cảnh Môn, giáo học đường gọi là Cảnh Tự hoặcĐại Tần Tự Cảnh giáo được chính quyền phong kiến nhà Đường tiếp nhận và

đối xử rất tốt: “Khi tín đồ Cảnh giáo vừa đến Trường An, Đường Thái Tông sai tể tướng Phòng Huyền Linh ra ngoại thành phía Tây đón tiếp một cách long trọng sau đó lại xuống chiếu nói: đạo này “Lời không nói nhiều, lý lẽ có thể bắt chước, giúp vật lợi người, truyền bá thích hợp trong thiên hạ” và thưởng cho xây dựng một nhà thờ”[68;317] Dưới triều vua Đường Cao Tông,

ông đã có nhiều chính sách nâng đỡ cho sự phát triển của tôn giáo này Nhưvậy, do được tầng lớp quan lại triều Đường từ Thái Tông đến Đức Tông cảsáu triều vua đều tiếp nhận, hậu đãi và ra sức giúp đỡ Cảnh giáo nên giáo lýđược truyền khắp bốn phương, nhà thờ mọc lên khắp thành thị Các giáo sỹ

phương Tây đến Trung Quốc ngày càng nhiều “Theo sự ghi chép của bia Cảnh giáo, đồng thời với Alaben và những người đi sau ông ta có tới 65 tăng

lữ có tiếng của Cảnh giáo Điều đó đủ thấy Cảnh giáo lúc đó truyền bá ở nước ta đã có quy mô không nhỏ” [68; 317] Điều đặc biệt là, thời kì này còn

có sự hợp tác giữa những tín đồ Cảnh giáo với tín đồ Phật giáo trong việc

phiên dịch kinh Phật: “Giáo sỹ Cảnh giáo thường làm công tác phiên dịch, không những dịch ra một số kinh điển của đạo Cơ Đốc mà còn hợp tác với tăng nhân đạo Phật phiên dịch kinh Phật Không những họ tuyên truyền cho

tư tưởng nhất thần luận mà còn tuyên truyền “Thánh Thượng đều do thần sinh ra” để xu nịnh hoàng đế triều Đường ” [68; 317-318] Cũng bởi lẽ đó mà sau sự kiện hoàng đế nhà Đường là Đường Vũ Tông ra lệnh “sùng Đạo phế Phật” thì Cảnh giáo cũng bị đả kích nặng nề và mất cơ hội truyền bá ở Trung

Nguyên Tuy nhiên, với các dân tộc du mục ở miền Bắc và miền Tây Bắc thìtôn giáo này vẫn được duy trì

Trang 24

Dưới triều Nguyên (1271-1368), đạo Kitô lại một lần nữa được truyền

bá vào Trung Nguyên Lúc đó, ở Trung Quốc, truyền đạo không những chỉ làCảnh giáo mà còn có Công giáo Triều Nguyên gọi chung hai đạo này là

“Thập Tự giáo” hoặc “Êlikhaôn giáo” Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt đã nói:

“Có người kính phục Giêsu, có người thờ đạo Phật, kính trọng Mục Hãn Mặc Đức, tôi không hiểu ai là lớn nhất, tất cả họ tôi đều kính trọng, mong họ đều phù hộ cho tôi” [68;318] Nhà Nguyên còn ưu đãi các tín đồ Cảnh giáo với

tư cách là người Sắc Mục Năm 1275, nhà du lịch người Ý là Marcô Pôlôcùng với cha và chú đã đến Trung Quốc, gặp Thế Tổ nhà Nguyên là Hốt TấtLiệt và được Hốt Tất Liệt tín nhiệm, trọng dụng làm quan trong triều suốt 17năm Biết tin đoàn của Marcô Pôlô tới, Hốt Tất Liệt đã cử các đoàn đi đón vàtruyền cho các nhà chức trách dọc đường phải nghênh tiếp chu đáo, bởi HốtTất Liệt muốn tìm hiểu làm thế nào để dùng tôn giáo củng cố địa vị thống trịcủa mình Việc tiếp đón long trọng và ưu ái của vua Nguyên đối với MarcôPôlô cũng phần nào phản ánh ý tưởng muốn lợi dụng Công giáo vào mục đíchchính trị của triều đại này

Sau cuộc hành trình của Marcô Pôlô, sứ giả đầu tiên của tòa thánhRôma đã đến Bắc Kinh, đó là John Monte de Corvino (1248-1238) vào năm

1294 Khi đến Trung Quốc, “ông được Hoàng Đế cho phép tiến hành các hoạt động tôn giáo tại Đại Đô và đã cải đạo Khát Lý Cát Tư, thủ lĩnh phái Cảnh giáo ở Uông Cổ Bộ và xây dựng ở đó một nhà thờ” [13;9] Như vậy, từ

một sứ giả của tòa thánh, John Monte de Corvino đã trở thành nhà truyền giáothực thụ tại Trung Quốc suốt 34 năm Hoạt động truyền giáo của ông đã diễn

ra tương đối thuận lợi “Ông đến Trung Hoa được Nguyên Thành Tông đón tiếp rất long trọng Nhiều quý tộc Mông Cổ vốn dĩ thờ Cảnh giáo đổi sang thờ Thiên Chúa giáo Ông đã khắc phục hàng loạt khó khăn, được nhà Nguyên giúp đỡ, được phép ở trong ba ngôi nhà thờ của Trung Quốc và dùng

Trang 25

văn tự Mông Cổ phiên dịch Tân ước Thánh kinh và Cựu ước Thành kinh thi thiên” [68;319] Năm 1307, John Monte de Corvino được tòa thánh Rôma

phong làm Tổng Giám mục Hãn Bát Lý (Bắc Kinh) Ngoài ra, còn một sốgiáo sỹ khác cũng được tòa thánh Rôma cử sang truyền giáo ở đây Các nhàthờ và tu viện được xây dựng ở nhiều nơi thuộc miền nam Trung Quốc như

Tuyền Châu, Hàng Châu “Tổng Giám mục John cai quản Giáo phận Bắc Kinh trong hơn 30 năm và nói rằng ông đã làm lễ rửa tội cho hơn 6.000 người” [13;10] “Năm Hoàng Khánh 12(1313), lập giáo khu tại Tuyền Châu (Phúc Kiến) Lúc bấy giờ Thiên Chúa giáo đã có mặt tại các vùng Ngũ Nguyên (Nội Mông), Y Lợi (Tân Cương), Dương Châu (Giang Tô) và Hàng Châu (Triết Giang), tín đồ khoảng 60 nghìn người” [53;37] Triều Nguyên đã

đặt ra một cơ quan gọi là Sùng Phúc Ty để quản lý đạo này, tín đồ có đến babốn vạn người đều thuộc Mông Cổ hoặc người Tây Á nhập cư vào TrungQuốc, phân bổ các địa phương trên toàn quốc mà chủ yếu là ở Bắc Kinh, Đại

Đồng, Tuyền Châu “Năm 1315, trong cả nước có 72 ty quản giáo” [70;114],

do đó đã góp phần mở ra thời kì hoàng kim của Công giáo ở Trung Quốc Tuynhiên, khi triều Nguyên bị diệt vong và triều Minh lên cai trị đất nước thìCông giáo cũng dần biến mất, đơn giản chỉ vì hầu hết tín đồ đều là người

Mông Cổ hoặc người Tây Á nhập cư Trung Quốc “Tất cả điều đó chỉ như một đóa hoa chớm nở, cùng với sự diệt vong của đế quốc Nguyên, đạo Cơ Đốc lại một lần nữa dần dần mất đi ở đất Trung Nguyên”[68;319].

Như vậy, tôn giáo Trung Quốc đã hoàn chỉnh cùng với bước khải hoàncủa Khổng học trong vai trò hệ tư tưởng quốc gia và việc tế tự của nhà nước,với sự đua nở mọi hình thức dân gian của Đạo giáo và việc chấp nhận đạoPhật như một trong những nền tảng khai lập của lịch sử tôn giáo Trung Quốc

Có thể thấy, vào cuối thời Hán hoặc không bao lâu trước đó, các thành tố bảnsắc văn hóa Trung Quốc đã hội tụ đủ Nhưng truyền thống Trung Quốc, giống

Trang 26

như chính bản thân khái niệm Đạo, năng động, luôn tự thay đổi và tái cấu trúctheo dòng chảy của thời gian Tôn giáo trong lịch sử Trung Quốc luôn thểhiện đặc trưng riêng bởi sự tồn tại của những tư tưởng và thực hành tínngưỡng cổ xưa cùng những tương tác qua lại không ngừng giữa các truyềnthống tôn giáo lớn Sau sự suy tàn của nhà Hán (khoảng năm 220), TrungQuốc bước vào thời kì phân liệt kéo dài đến cuối thế kỉ VI Trong thời kì này,đạo Phật gặt hái thành công, được chấp nhận và phát triển mạnh mẽ ở thế kỉVIII Luồng gió đổi thay nổi lên với triều Nguyên khi người Mông Cổ thốngtrị toàn cõi Trung Quốc, Công giáo lại có điều kiện du nhập trở lại Nền cai trịTrung Quốc nhất thời trở lại với nhà Minh (1368-1644) và Tống Nho chínhthống ngự trị thời kỳ này Nhưng ảnh hưởng của phương Tây giờ đây bắt đầuthâm nhập Trung Quốc Với nhiều lý do chủ quan và khách quan, Công giáo

đã không còn được truyền bá ở nơi đây cho đến trước khi có sự xuất hiện củagiáo sỹ Francis Xavier (năm 1552) Song chính sự có mặt của Công giáotrong các triều đại trước đã giúp cho nó, một lần nữa, lại được đâm chồi, nảylộc và phát triển mạnh mẽ dưới triều Minh

1.2.2 Hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ phương Tây.

Thế kỉ XV, trước những biến động của tình hình kinh tế, chính trị châu

Âu thì Công giáo cũng tiến hành cuộc “cải cách” trong nội bộ giáo hội vàcuối cùng là sự ra đời của giáo hội Tin Lành Trước những thay đổi của xã hội

và do ảnh hưởng nhanh chóng của cải cách tôn giáo, giáo hội Công giáo bắtđầu có những thay đổi trong nội bộ bằng cách tổ chức lại các dòng tu Họ cửnhiều nhà truyền giáo ra nước ngoài thu phục tín đồ nhằm chống lại ảnh

hưởng của “cải cách” Theo cách nói của chính họ, giáo hội “tìm cách giành lại những gì họ đã mất ở châu Âu” Trong bối cảnh đó, Dòng Tên do Ignatius

Loyola (1491-1556) thành lập đã xuất hiện ở Trung Quốc

Trang 27

Francis Xavier (1506-1552) người Tây Ban Nha, ông đã từng học tạitrường đại học Sorbonne nước Pháp, sau đó ông được phong làm giáo sư triếthọc tại trường đại học này Năm 1537, ông được phong linh mục rồi đượcphái đi truyền giáo ở vùng Đông Á Tháng 4 năm 1541, Xavier xuất phát từLisbon để đến Ấn Độ Trong suốt 10 năm truyền giáo (1542-1552) ông đã đếnđược nhiều nơi, như Ấn Độ, Macao, Nhật Bản Công cuộc truyền giáo tại đâykhá thành công khi ông sử dụng tiếng Nhật để giảng đạo Không dừng lại ở

đó, ông còn muốn đến Trung Quốc để truyền đạo Ông đã từng viết về Trung

Quốc như sau: “Trung Quốc đất rộng, an bình và có pháp luật, chỉ có một hoàng đế trị vì Họ tỏ ra đại lượng và rất hiền hòa Giữa người Hoa với nhau không có chiến tranh Năm nay 1552, tôi hy vọng sẽ lên đường sang Trung Quốc để hoàn thành sứ mạng với Thiên Chúa Cái gì có thể thực hiện được ở Trung Quốc cũng có thể thực hiện được ở Nhật Bản Hơn nữa, khi người Nhật biết người Tàu chấp nhận luật Thiên Chúa, họ sẽ từ bỏ niềm tin vào các giáo phái Tôi hy vọng nhờ Dòng Tên, người Hoa cũng như người Nhật sẽ không thờ cúng bụt thần mà thờ lạy chúa Kitô”[54;136] Trước khi đến Trung

Quốc ông đã học tiếng Hoa tại Nhật và còn có tham vọng sẽ dịch một số kinhsách sang tiếng Hoa để truyền đạo Francis Xavie là giáo sỹ Dòng Tên đầutiên tìm cách vào Trung Quốc để truyền giảng Phúc âm Năm 1552, Xavierđến đảo Thượng Xuyên, trở thành giáo sỹ phương Tây đầu tiên đặt chân lênQuảng Đông Ông cùng tu sỹ người Bồ Đào Nha đi cùng là Alvara Ferreira đãxây nhà thờ nhỏ giản dị, có trẻ con đến học giáo lý Mục tiêu của ông là sangnội địa Trung Quốc truyền giáo nhưng bởi không phải là dân Trung Quốc thìkhông được phép vào nội địa, đến khi ông chết (3/12/1552) mục tiêu đó vẫnchưa thực hiện được Mặc dù không thực hiện được mục tiêu, song dựa vàokinh nghiệm truyền giáo tại phương Đông cùng với lòng nhiệt thành của

mình, ông đã nêu ra sách lược “thích ứng”, sách lược này được các giáo sỹ về

Trang 28

sau coi là mẫu mực Với những cống hiến to lớn của mình trong công cuộc

truyền giáo ở Viễn Đông, ông được tôn vinh bằng danh hiệu “Viễn Đông Khai giáo Nguyên huân”[13;12]

Matteo Ricci (Lợi Mã Đậu) sinh ngày 6.10.1552 tại Macerata, thuộcvùng Marche ở phía đông bắc Rôma, trong một gia đình vọng tộc Năm 19tuổi, Ricci tham gia Dòng Tên, ông được học thần học, thiên văn học, toánhọc dưới sự hướng dẫn của giáo sư, linh mục Chritopher Clavius danh tiếng.Matteo Ricci còn được bạn học coi là một thiên tài toán học Sau khi làm linhmục năm 1577, ông xin đi truyền giáo ở Viễn Đông Năm 1582, ông đếnTrung Quốc, cùng với ông còn có các nhà truyền giáo khác Ricci vàValignani cùng đến Triệu Khánh năm 1583 và đã xây dựng một nhà thờ theokiểu châu Âu ở ngoài cửa Tây bên cạnh tháp Sùng Ninh Nhằm truyền báPhúc âm ở Trung Quốc, Ricci cố sống theo cách sống của người Trung Quốc

Đến Trung Quốc, ông đã cạo trọc đầu, mặc áo cà sa, và tự xưng là “Tây tăng” Về sau, ông chuyển sang mặc theo lối nhà Nho vì phát hiện ra Khổng

giáo chiếm ưu thế hơn so với các tôn giáo khác ở Trung Quốc Những hoạtđộng của Matteo Ricci được Allessandro Valignani rất hài lòng Bởi vậy, năm

1603 Valignani đã quyết định cử thêm giáo sỹ Dòng Tên sang Trung Quốc,

hoạt động truyền giáo tại đây được phân chia rất cụ thể “Matteo Ricci, Diego

de Pantoja và Gaspard Ferreira ở Bắc Kinh; Jiao de Rocha, Pierre Ribeiro, Alphonsus Vagnoni và Felicien de Silva ở Nam Kinh; Emmanuel Diaz Sr ở Nam Xương; Nicholas Longobardi và Bartholomew Tedeschi ở Thiều Châu Các nhà truyền giáo Dòng Tên đó cai quản công việc của Giáo hội trên những cương vị khác nhau dưới sự lãnh đạo của Ricci”[13;16] Năm 1604,

Ricci mua Bắc Kinh Hội viện, sau này trở thành nhà thờ Nam Đường, trongkhu Truyền Môn để làm nơi gặp gỡ giới thượng lưu và sĩ phu Đến lúc đó,

“…khoảng 200 người đã được làm lễ rửa tội và nhiều người trong số đó là

Trang 29

quan lại cao cấp trong triều Vào năm 1601, ngoài trụ sở mới ở Bắc Kinh ra,

đã có các trụ sở ở Nam Kinh, Nam Xương và một thành phố nữa thuộc Quảng Châu Còn giáo hữu thì vào năm 1608 đã đạt tới con số 2000 Ấy là chưa kể trong số đó có nhiều nho sĩ và cả đại thần nữa” [16;116] Kể từ sau

sự kiện năm 1601 thì Công giáo bắt đầu có địa vị hợp pháp tại Trung Quốc

Do sự cố gắng của Matteo Ricci và các đồng sự, hội truyền giáo Dòng Tên tại

Trung Quốc đã đứng vững, số lượng tín đồ liên tục gia tăng “Năm 1610 có khoảng hai nghìn năm trăm người, năm 1615 đã lên đến năm nghìn người, năm 1617 lại tăng lên hơn một vạn ba nghìn người” [26;597] Những hoạt

động của Ricci và các giáo sỹ Dòng Tên khác tại Trung Quốc đã đặt nền

móng vững chắc cho hoạt động truyền giáo ở đây “Khi ông mất (5.1610), đã

có 4 nhà thờ được xây dựng ở 4 nơi: Bắc Kinh, Nam Kinh, Nam Xương và Thiều Châu Có 13 giáo sỹ người Âu, 7 tu sỹ Trung Quốc với số giáo dân khoảng 2.000 người Trước khi mất, Matteo Ricci nói với Didago de Pantoia

SJ, Sabbatino de Ursis SJ cùng hai tu sĩ Trung Quốc là Du Văn Huy và Chung Minh Nhân: Tôi đã mở ra cho các vị một cánh cửa rộng Nếu các vị đi vào qua cửa đó, các vị sẽ làm nên công lớn” [13,19]

Phương pháp rao giảng Tin Mừng của Matteo Ricci có thể tóm gọn

trong cụm từ “hội nhập văn hóa”, nghĩa là dùng chính ngôn ngữ và văn hóa

bản địa để truyền tải giáo lý Công giáo Ý thức được rằng, Trung Hoa là một

dân tộc có nền văn hóa khá cao, ông đã không thể áp dụng phương pháp “xóa sạch làm lại” như các nhà truyền giáo khác đã làm ở Nam Mỹ, miền nam Ấn

Độ hay Philippins, mà ông đã phải đến với họ như một người bạn, một ngườithông hiểu văn hóa Trung Quốc Đây cũng là chính sách của AlessandroValignano, vị đặc nhiệm sứ vụ truyền giáo Dòng Tên tại Á Châu

Trước năm 1580, đa số các thừa sai, kể cả các thừa sai Dòng Tên, đềucho rằng người Trung Hoa rất khó theo đạo Điều này không ngạc nhiên vì

Trang 30

“tính từ năm 1552 khi Phanxico Xavie qua đời tại Thượng Xuyên cho đến khi Ruggieri và Ricci đến Triệu Khánh vào năm 1583 thì ít nhất đã có 25 tu sỹ Dòng Tên, 22 tu sỹ Phanxico, 2 tu sỹ Augustino và 1 tu sỹ Đa Minh đã thử vào Hoa Lục truyền giáo nhưng không có nhóm nào lập được giáo điểm truyền giáo Vào giữa đời Minh, giáo hội Jesu tới tấp đến Trung Quốc nhưng đứng trước sự phong tỏa chặt chẽ của đại lục Trung Quốc nên không vào được Nhiều giáo sĩ truyền đạo rất tuyệt vọng, chỉ đành than thở với đại lục:

“Bàn thạch ơi, Bàn thạch ơi! Bao giờ có thể nứt ra chào đón Chúa của chúng ta!”[68;319] Khi Valiglano đến thăm trụ sở truyền giáo ở Macao năm 1578,

ông đã thấy được ngay vấn đề Đó là việc thiếu chuẩn bị về mặt ngôn ngữ vàvăn hóa cho các thừa sai Valiglano liền yêu cầu các thừa sai phải dùng ngônngữ bản địa thay vì dựa vào các thông dịch viên - một quyết định gây nhiềuchống đối vì một số thừa sai ở Macao cho rằng hàng rào ngôn ngữ Trung Hoagần như không thể vượt qua Khi Michele Ruggieri được phái đi thành lậpgiáo điểm truyền giáo ở Trung Quốc, ông buộc phải học ngôn ngữ, nhưng ôngcảm thấy cô đơn vì chẳng có ai ủng hộ Thế nên Ruggieri đã xin cho MatteoRicci đến Macao để có bạn đồng hành

Qua việc tiếp cận với ngôn ngữ và văn hóa Trung Hoa, Ricci đã sớmthấy được ảnh hưởng của sách vở Có thể nói rằng, ông đã truyền giáo quaviệc viết sách và in sách Chính những tác phẩm của ông đã thu hút nhiềungười đến với các giáo sĩ Tây phương, và qua các cuộc gặp gỡ này biết baotâm hồn đã được thuyết phục bởi đạo lí của Thiên Chúa Matteo Ricci khôngphân biệt giữa Đạo và Đời, giữa khoa học và thần học Đối với ông, mọi conđường đều dẫn đến Thiên Chúa Vì vậy, tư tưởng và các tác phẩm của ông

được các cộng sự viên gọi là “Thiên học”- cái học về đạo Trời Thời gian ở

Trung Quốc, ông đã viết và viết chung với các tác giả khác rất nhiều tác phẩmthuộc các thể loại như: âm nhạc, giáo lí, thiên văn địa lí, toán học mà điển

Trang 31

hình là một số tác phẩm: Kỳ nhân thập phiên, Thiên chủ thực nghĩa, Dư địasơn hải toàn đồ, Càn khôn thể nghĩa…

Mặc dù Matteo Ricci có vẻ thành công về mặt học thuật, song cũng gặpkhông ít khó khăn trên con đường truyền giáo như phải đối mặt với các tăng

sỹ Phật giáo và đạo sĩ Lão giáo, những người luôn bài bác và chỉ trích ông về

chủ trương “bổ Nho dịch Phật” Về hội nhập văn hóa, ông đề cao chủ trương

Tam cương Ngũ thường của nhà Nho, chấp nhận gia lễ, tế Khổng Tử và thờcúng tổ tiên Nhưng ông không chấp nhận Tam giáo đồng nguyên (Nho-Lão-Phật) như một số người đương thời, mà cũng không khoan nhượng với nhữngtập tục tôn giáo dân gian và thờ thần linh Vì thế, có nhiều người ngưỡng mộông nhưng không theo đạo

Ngoài ra, Matteo Ricci còn bị một số người đương thời cũng như hậuthế chỉ trích vì phương pháp truyền giáo của ông Họ cho rằng, ông đã khôngmạnh dạn rao giảng Chúa Kitô, mà chỉ rao giảng một Đấng Thượng Đế chungchung Vì muốn thu phục cảm tình của giới Nho gia, Ricci đã không đi sâuvào giáo lí Công giáo, mà dùng triết lí tự nhiên và đạo đức để thu phục nhântâm Ông cho rằng, trước khi người ta có thể đón nhận Tin Mừng thì cần phảiđược tiếp xúc với Công giáo trên bình diện tự nhiên Ngoài ra, hiểu được sựphản ứng của giới Nho gia với bức ảnh chịu nạn của Chúa, nên khi trưng bày

và rao giảng về thánh giá, ông trình bày chúa Kitô như một minh sư và đấnglàm phép lạ Vì vậy, sau này ông bị các thừa sai khác chỉ trích phương phápcủa ông là đi lòng vòng và có thể làm mờ nhạt các mầu nhiệm của Chúa Kitô

Họ cho rằng, phương pháp của Ricci không giúp nhiều người theo đạo nhưbằng cách trực tiếp rao giảng Tin Mừng của các thừa sai Đaminh và Phanxico

đã làm ở Nam Mĩ và Phillipines Tuy nhiên, đứng trên mọi bình diện để đánhgiá vai trò của Matteo Ricci trong công cuộc truyền giáo ở Trung Quốc vẫn

Trang 32

thấy rằng ông đã khá thành công Công lao của ông đối với giáo hội và khoahọc Trung Quốc đến tận ngày nay vẫn đáng được mọi người trân trọng.

Alexandre de Rhodes sinh năm 1591, tại Avignon, miền nam nướcPháp Ông gia nhập Dòng Tên tại Rôma năm 1612, thời kì công cuộc truyềngiáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển Tuy nhiên, cùng với đà tiến này,giáo hội Công giáo cũng gặp sự kháng cự của chính quyền các nước được raogiảng Tin Mừng Vì thế, bên cạnh nhiệt tâm truyền giáo còn là ước muốnđược đổ máu đào minh chứng cho Chúa Jesus của các vị thừa sai tiên khởi.Năm 1619, ông được cử đi truyền giáo tại Nhật Bản mang theo trong mìnhnhững kiến thức sâu rộng về thiên văn học và toán học cùng với nhiệt tâmtruyền đạo Đầu tiên, ông đến Goa, chờ đợi cơ hội thuận tiện để đặt chân đếnNhật Bản Nhưng do tình hình bách hại Kitô giáo dữ dội tại đây nên các BềTrên buộc lòng chỉ định ông đi Trung Quốc Ngày 29 tháng 5 năm 1623 ôngcập bến Ma Cao ở Trung Quốc, tại đây ông đã học ngôn ngữ và tìm hiểu vănhóa Trung Quốc Từ tháng 3 năm 1627 đến tháng 5 năm 1630, ông truyềngiáo tại Việt Nam Từ năm 1630 đến 1640 ông đến truyền giáo tại TrungQuốc Sau một thời gian truyền giáo tại đây, ông đã có một số nhận xét thú vị

về tôn giáo và phong tục của người Trung Quốc: “Người Tàu rất thông minh, nhưng cho tới nay vẫn còn chưa nhận biết có Thiên Chúa thật và thấy đường lối chính thực để phụng sự Người Nơi họ có ba thứ tin tưởng: thứ nhất là tin tưởng ở hoàng đế và kẻ sang trọng, họ thờ Trời, vật chất và các vì tinh tú Ở cửa nhà họ, thường có đài cao rất đẹp, trên đó mỗi sáng họ thắp hương nhang, bởi ví khói bay lên trời để tỏ sự nhận biết trời Còn ở bốn cửa nhiều thành phố trọng yếu cũng thường có đền kính thiên, kính mặt trời, mặt trăng

và trái đất Thứ hai là tin tưởng ở những vị thần riêng xưa kia là vua là chúa.

Họ cũng có nhiều đền và thờ nhiều thần, nhưng nói thực là các sư sãi ở đây không được kính trọng như ở Nhật Bản, ở Đàng Ngoài và Đàng Trong, nơi

Trang 33

đây người ta gọi họ là sãi Một trong những thần của họ là Khổng Tử Vị này, như tôi đã nói là người quy định lễ giáo, luật pháp và sáng lập ra kinh sách Không thể tưởng tượng được họ sùng kính vị này như thế nào Chúng tôi mất nhiều công thuyết phục giáo hữu tân tòng là chớ nên bái phục trước ảnh tượng mà họ đặt hầu hết ở nhà Giáo phái thứ ba là các phù thủy Họ rất đông và rất độc ác: đó là những người đã gây nên chinh chiến dữ dằn ở tất

cả những nước này Tôi không muốn nói lại những gì tôi đã nói ở nơi khác, nhưng điều làm cho tôi phấn khởi ở Trung Quốc là đạo Kitô bắt đầu đâm rễ

và tôi tin chỉ ít lâu sau sẽ đuổi hết các đạo dối ra khỏi nước này, nơi mà khi các tu sĩ dòng chúng tôi đến có sáu trăm hai mươi ngàn giáo dân, ba mươi cha làm việc, chia làm mười bảy trụ sở Nhưng bây giờ, hơn lúc nào khác có triển vọng lớn là thấy khắp nước Tàu theo đạo Kitô” [1; 40-41]

Alexandre de Rhodes đã từng viết: “Sau khi đã tới giúp xứ Đàng ngoài thì tôi bắt đầu dốc hết tâm sức chinh phục người Tàu, nhưng phải nói thực, tôi không tìm thấy sự dễ dàng như tôi đã có kinh nghiệm ở đất nước có phúc tôi vừa rời bỏ Theo tôi thì trước hết tại tôi, bởi vì tuy hiểu biết tiếng Tàu nhưng chưa đủ để giảng bài liên tục, do đó tôi vẫn phải nhờ thông dịch viên nên không có sức mạnh thông thường để thuyết phục người ta quyết định thay đổi tôn giáo và đời sống Lý do thứ hai, người Tàu kiêu căng họ tự coi như tài giỏi nhất trên trái đất Tôi thấy họ đến nghe giảng khi họ có điều gì để phản đối, nhưng khi đã đuối lí thì không trở lại nữa Dẫu sao, Thiên Chúa còn dùng chúng tôi để chinh phục một số khá đông lương dân và tôi cũng đã rửa tội được ít ra một ngàn người tự tay tôi Chúng tôi thường tới mấy thành phố Tàu, nhất là Hương Cảng Thỉnh thoảng tới kinh đô là một thành phố lớn và rất đẹp tôi chưa từng thấy ở đâu và nhờ ơn Chúa, không bao giờ chúng tôi về tay không Tôi rất hài lòng giữ một nhiệm vụ ở Macao và tôi rất chuyên chú Người ta thường gọi là Cha giáo dân, tu sĩ nào giúp người Tàu mới trở lại

Trang 34

giáo huấn họ, săn sóc họ và dạy họ những điều cần thiết để sống đạo Việc này làm tôi bận suốt ngày, còn nếu tôi muốn học hỏi thêm để dọn bài giảng hay dạy bài thần học tôi đảm nhận ở viện chúng tôi thì tôi phải làm việc ban đêm mới tảng sáng là tôi đã bận với giáo dân người Tàu hoặc lương dân đang sửa soạn chịu phép rửa tội” [1; 86,87]

Như vậy, có thể thấy rằng Alexandre de Rhodes đã có cái nhìn và nhậnxét khá sâu sắc về tôn giáo, tín ngưỡng của người Trung Quốc Tất cả nhữngđiều đó, cùng sự nhiệt tâm truyền giáo của mình, ông đã góp phần đưa Cônggiáo vào Trung Quốc Về phương cách truyền giáo, cũng giống như MatteoRicci, ông tích cực giới thiệu nhiều thành tựu của văn minh phương Tây để

tạo thêm niềm tin với người dân Trung Quốc “Người Trung Hoa rất ngạc nhiên khi nhìn thấy bản đồ chúng tôi vẽ Trung Quốc vĩ đại của họ chỉ còn là chấm nhỏ trong vũ trụ trái đất bao la Trái lại, nơi bản đồ trái đất vuông do

họ vẽ, Trung Quốc nằm chính giữa, đúng như tên gọi (Trung Quốc - nước ở giữa) sau đó họ vẽ biển nằm bên dưới Trung Quốc, trong đó rải rác mấy đảo nhỏ, và họ đề tên Châu Âu, Châu Phi và Nhật Bản” [1;36] Một cứ liệu nữa

chứng tỏ sự nhiệt tâm và ý thức tôn trọng văn hóa bản địa của ông trong công

cuộc truyền giáo tại Trung Quốc:“Chúng ta thường tỏ ra quý chuộng những người ngoại giáo Nhưng khi họ trở thành Kitô hữu, chúng ta không đoái hoài đến họ nữa Thậm chí còn bắt các người theo đạo phải từ bỏ y phục địa phương Chúng ta đâu biết rằng, đây là một đòi buộc quá khắt khe, mà ngay

cả Thiên Chúa, Ngài cũng không đòi hỏi như thế Chúng ta ngăn cản người ngoại giáo, không cho họ cơ hội dễ dàng gia nhập Giáo hội Công giáo Riêng tôi, tôi cực lực phản đối những ai muốn bắt buộc người đàn ông Trung Hoa, khi theo đạo, phải cắt bỏ mái tóc dài họ vẫn để, y như các phụ nữ trong xứ Làm vậy, chúng ta gây thêm khó khăn cho các nam tín hữu Trung Hoa một khi theo Công giáo, không còn tự do đi lại trong xứ, hoặc tìm được dễ dàng

Trang 35

công ăn việc làm Phần tôi, tôi xin giải thích rằng, điều kiện để trở thành Kitô hữu là phải từ bỏ lầm lạc, chứ không phải cắt bỏ tóc dài” [1;36] Qua đây có

thể thấy rằng, để đạt được mục tiêu của mình, ông cũng áp dụng phương pháptruyền giáo theo kiểu của Matteo Ricci (hội nhập văn hóa), đó là điều kiệnđem lại thành công trong công cuộc truyền giáo Alexandre de Rhodes làngười đã lập nên một học thuyết truyền giáo của mình tại Trung Quốc, đặt cơ

sở trên một cơ tầng văn hóa bản địa bằng việc sử dụng tiếng bản xứ tronghoạt động lễ nghi Công giáo

1.2.3 Hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ Trung Quốc.

Việc các nhà truyền giáo Dòng Tên thời đó cảm kích trước văn hóaTrung Quốc được giới quan lại và sĩ phu Trung Quốc nể trọng Đáp lại, họlàm cho công việc của các giáo sĩ truyền giáo được dễ dàng hơn Một số còn

bị cuốn theo lời dạy của giáo hội Công giáo nên đã được rửa tội, nổi tiếng hơn

cả là các học giả Từ Quang Khải, Lý Chi Tảo và Dương Đình Quân Do cônglao của họ đối với công cuộc truyền bá Công giáo ở Trung Quốc, nên được

gọi là “Ba thạch trụ của Giáo hội Công giáo vào triều Minh”.[13;20]

Từ Quang Khải (1562-1633) sinh tại Từ Gia Hối, Thượng Hải Ông

được xem bức Sơn hải dư địa toàn đồ lúc còn trẻ và rất ngưỡng mộ Matteo Ricci Năm 1600, ông đến Nam Kinh để nghiên cứu cuốn Thiên Chúa thực nghĩa và được Cha Jiao de Rocha Dòng Tên làm lễ rửa tội Tên thánh của ông

lấy theo thánh tông đồ Paul Năm 1604, Từ Quang Khải dự khoa thi Hội và

đỗ tiến sĩ rồi được vào làm việc tại Viện Hàn Lâm Từ Quang Khải đã sửdụng tốt tri thức của mình trong nhiều lĩnh vực Ông là học giả đầu tiên họctập và truyền bá khoa học phương Tây ở Trung Quốc Mùa thu năm 1605,

Matteo Ricci và Từ Quang Khải bắt đầu dịch cuốn Các nguyên tố của Ơcơlít

ra tiếng Trung Quốc, đánh dấu sự giao lưu văn hóa giữa phương Tây vàTrung Quốc Trong suốt một năm, ngày nào ông cũng đến nhà của Ricci vào

Trang 36

buổi chiều rồi cùng nhau làm việc khoảng 3 đến 4 giờ Hai ông đã dịch được

6 tập đầu của cuốn sách, sau đó được xuất bản Do chất lượng tuyệt vời của

bản dịch, các thuật ngữ về hình học như: “điểm”, “tuyến”, “đường thẳng”,

“mặt phẳng”, “đường cong”, đến nay vẫn còn được sử dụng Vào cuối triều

Minh, các sỹ phu chấp nhận giáo lý Công giáo chủ yếu vì họ thấy có những

điểm tương đồng giữa hai nền văn hóa Trong cuốn Biện học chương sớ, Từ Quang Khải viết: “Giáo hội Công giáo có thể phò vua giúp nước, chỉnh đốn Nho thuật, tu chính Phật pháp” Đơn giản, đó là “bổ Nho dịch Phật” (bổ sung cho Khổng giáo cái còn thiếu, sửa đổi cho Phật giáo cái còn sai).[13;22]

Lý Chi Tảo (1565-1630), tự là Chấn Chi, sinh tại Nhân Hòa (HàngChâu), tỉnh Chiết Giang, đỗ cử nhân năm 1594, đỗ tiến sĩ năm 1598 Năm

1611, ông được làm lễ rửa tội và lấy tên Thánh là Leo Từ rất sớm, Lý ChiTảo bắt đầu học Ricci các môn khoa học tự nhiên, như thiên văn, địa lí vàtoán Ông cùng với Ricci dịch sách về các chủ đề trên sang tiếng Trung Quốc,

như các cuốn: Hồn cái thông hiến đồ huyết, Đồng văn toán chỉ và Hoàn dung giảo nghĩa Lý Chi Tảo hiểu về Công giáo trên cơ sở những hiểu biết của ông

về Khổng giáo Ông cho rằng, học vấn của các nhà truyền giáo Dòng Tên, gọi

là “thiên học”, do đó phù hợp với văn hóa Khổng giáo: “biết Trời” “thờ Trời”

là không trái với các nguyên lí của Lục Kinh

Dương Đình Quân (1557-1627) là người Nhân Hòa, Hàng Châu, tỉnhChiết Giang Năm 1592, ông đỗ tiến sĩ, năm 1598 làm Giám sát Ngự sử Saukhi bị thất sủng, ông trở về quê Trong thời gian ở quê, ông quan tâm đến Phậtgiáo Khi thảo luận về Công giáo với Lazaro Cattaneo và Nicholas Trigault

SJ, Dương Đình Quân tỏ ra cảm kích và có thiện cảm với tôn giáo này Ôngđược rửa tội và lấy tên Thánh là Michael Sau khi cải đạo từ Phật giáo sangCông giáo, ông càng quan tâm đến tôn giáo này nhiều hơn, khiến ông bị các

Trang 37

phật tử chỉ trích Đáp lại, ông viết một số bài tự bạch ủng hộ giới truyền giáo

được nhiều người đọc, như bài: Đại nghị thiên và đại nghị tục thiên.

Các sỹ phu Trung Quốc đã góp phần to lớn vào sứ mệnh của Công giáotại đây Họ dịch các công trình khoa học phương Tây ra tiếng Trung Quốc,tạo điều kiện cho công cuộc truyền giảng Phúc âm Có thể khẳng định rằng,vào cuối triều Minh, giáo hội Công giáo Trung Quốc đã có bước phát triểnđáng kể bởi không chỉ các nhà truyền giáo phương Tây đã biết hội nhập vănhóa, tâm lý xã hội Trung Quốc một cách có thể chấp nhận được, mà còn docác sỹ phu Công giáo Trung Quốc đã hết sức nỗ lực và nhiệt tình hoạt độngcho giáo hội Về số lượng tín đồ, các tài liệu của các tác giả đưa ra có sự khác

nhau.“Trong nửa đầu thế kỉ 17, tín đồ Công giáo Trung Quốc chủ yếu sống tại Bắc Kinh, Thượng Hải và vùng Giang Nam Họ tăng từ 13.000 người năm

1627 lên 40.000 sau đó mười năm Lúc đó, các tín đồ Công giáo đã lan sang nhiều tỉnh: Giang Tây, Chiết Giang, Giang Nam, Sơn Đông, Thiểm Tây Sơn Tây và Trực Lệ” [13, 26] “Cuối đời Minh, tại Bắc Kinh, Nam Kinh và 8 tỉnh Trung Quốc đã thành lập 13 hội sở truyền giáo, toàn Trung Quốc có khoảng

150 nghìn tín đồ”[54;38].“Đến trước khi vương triều nhà Minh bị mất nước, thì tín đồ Thiên Chúa giáo ở Trung Quốc đã tăng lên đến hơn ba vạn tám nghìn người Trong số người vào đạo có cả những người trong hoàng tộc, các hậu phi, các cung nữ và các hoạn quan” [26;597] Mặc dù có sự khác

nhau về số lượng tín đồ Công giáo cuối triều Minh của các học giả, song mộtđiều không thể phủ nhận đó là sự phát triển mạnh mẽ về số lượng tín đồ Cônggiáo dưới vương triều này

1.2.4 Vai trò của Macao đối với công cuộc truyền giáo ở Trung Quốc.

Trong chiến lược nhằm mở rộng nước Chúa, giáo triều Rôma đã phânchia nhiệm vụ cho các quốc gia đến truyền giáo ở các khu vực khác nhau.Giáo hoàng Alexander VI (1492-1503), trong thông điệp Inter Costera, đã

Trang 38

quyết định giao cho người Bồ Đào Nha truyền giáo ở châu Phi và phươngĐông Bồ Đào Nha có quyền cử các nhà truyền giáo, xây dựng nhà thờ vàchủng viện, tất cả đều do nước này lo liệu trên vùng lãnh thổ rộng lớn đó Vua

Bồ Đào Nha cũng có quyền phong giám mục Năm 1554, Bồ Đào Nha biếnMacao thành điểm quá cảnh thường trực để họ thâm nhập Trung Quốc Cácthương gia tràn vào Macao, theo sau họ là giáo hội Cuối cùng, Macao trởthành một trung tâm truyền bá Công giáo ở Viễn Đông Melchior Barreto đếnMacao năm 1555 và xây dựng một nhà Dòng thành nhà thờ Công giáo đầutiên Về sau, các giáo sỹ Dòng Augustino, Đa Minh, Phanxico, Dòng Tên vàcác dòng khác đã tìm được chỗ đứng của họ ở Macao, nhưng nổi trội và cóảnh hưởng hơn cả là Dòng Tên Năm 1602, các giáo sỹ Dòng Tên đã cho xâydựng chủng viện Thánh Paul, trường đại học Công giáo đầu tiên ở TrungQuốc, dạy triết học, thần học, văn học, nghệ thuật, tiếng La-tinh, tiếng Hán và

cả tiếng Việt “Đến năm 1565, Macao có 5000 giáo dân Theo hồ sơ của Giáo hội Lâm Gia Tuấn và Manuel Teixeira thống kê cho rằng đến năm

1644, giáo dân Macao đã phát triển nhanh chóng đến 40.000 người” [36;50].

Ngày 23 tháng 01 năm 1576, giáo khu Macao chính thức được thành lập để

cai quản giáo hội Trung Quốc, An Nam, Nhật Bản và các đảo lân cận “Thời

kì Minh-Thanh, Macao không chỉ cung cấp số lượng lớn các nhân tài truyền giáo vào giáo phận Trung Quốc, mà còn là khu vực quan trọng đưa Thiên Chúa giáo vào lục địa… Dân chúng Trung Quốc lục địa bắt đầu đến Macao làm lễ rửa tội vào cuối thế kỉ XVI Ghi chép của Matteo Ricci ở Trung Quốc

có viết: Người Trung Quốc đến Macao buôn bán lương thực, không ít người

đã từ bỏ bóng tối của các tôn giáo khác để về với ánh sáng của Thiên Chúa giáo” [35;61] Do ngày càng có nhiều người Trung Quốc lục địa đến Macao

rửa tội, nên ở đó đã xây dựng một nhà thờ chuyên giảng phúc âm cho ngườiHoa Nhà thờ này có tên là A Ba La, hay còn gọi là Đường Nhân Tự (Chùangười Đường) Với vị trí riêng có của Macao khiến nơi này trở thành điểm

Trang 39

quá cảnh lý tưởng cho các giáo sĩ Công giáo đi vào Trung Quốc Nhà truyềngiáo nào muốn làm việc ở Trung Quốc thì trước hết phải đến chủng viện ởMacao để học ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc, trước khi có thể đi tiếp Vàocuối thời nhà Minh đầu thời nhà Thanh, triều đình Trung Quốc chưa có mộtđiều luật cụ thể về việc cấm dân chúng Trung Quốc lục địa đến Macao nhậpđạo, do đó thời kì này người Trung Quốc lục địa đến Macao nhập đạo rấtnhiều Từ những điều trên chúng ta có thể thấy rõ Macao là cơ sở truyền giáovào Trung Quốc thời Minh-Thanh Ngoài việc không ngừng đưa các giáo sĩtruyền giáo đến Trung Quốc, Macao còn có quan hệ chặt chẽ với sự nghiệpphát triển Công giáo tại Trung Quốc đại lục ở các lĩnh vực sau: Thứ nhất,Macao là nơi cung cấp hậu cần như cung cấp kinh phí và vật dụng truyền giáocho việc truyền bá Công giáo ở Trung Quốc lục địa Thứ hai, Macao là nơiđào tạo các giáo sĩ truyền giáo cho Trung Quốc lục địa, bao gồm cả việc họctiếng Hán của các giáo sĩ phương Tây Thứ ba, Macao là nơi các giáo dân ởTrung Quốc đại lục đến để vào đạo Thứ tư, Macao là nơi nghỉ ngơi, dưỡngbệnh của các giáo sĩ truyền giáo khi Trung Quốc ra lệnh cấm truyền giáo Thứnăm, Macao là nơi bảo hộ an toàn về chính trị cho các giáo sĩ truyền giáo khichính quyền phong kiến Trung Quốc ra lệnh cấm truyền giáo

Tóm lại, Macao là nơi chuẩn bị cung cấp đầy đủ cả hai yếu tố là vậtchất và con người cho sự nghiệp truyền bá Công giáo ở Trung Quốc Sở dĩCông giáo ở Trung Quốc thời Minh-Thanh trải qua bao lần cấm giáo ở cáctriều đại mà vẫn phát triển, nguyên nhân vô cùng quan trọng chính là dựa vàovai trò của Macao

1.3 Công cuộc truyền giáo dưới triều Thanh (từ năm 1644 đến năm 1911).

1.3.1 Hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ Dòng Tên.

Adam Schall (1591-1666) hay còn được gọi theo tiếng Trung Quốc làThang Nhược Vọng Ông gia nhập Dòng Tên năm 1611 Năm 1623 được vàolàm quan trong triều và phụ trách việc cải tổ lại lịch pháp Truyền thống sử

Trang 40

dụng tri thức khoa học của các nhà truyền giáo có từ thời Từ Quang Khải.Năm 1629, Hoàng đế Sùng Trinh quyết định thành lập Cục tu lịch để sửachữa lịch cũ, do Từ Quang Khải đứng đầu và Lý Chi Tảo làm phó Công trình

lớn nhất của Cục này là hoàn thành bộ “Lịch Sùng Trinh” gồm 137 tập, giải

thích có hệ thống các lí thuyết thiên văn của phương Tây, được trình lênhoàng đế 5 lần từ 1631 đến 1634 Từ Quang Khải đã mời nhiều giáo sĩ có trithức khoa học làm việc với ông, trong đó có Adam Schall Năm thứ hai đờihoàng đế Thuận Trị, triều đình nhận thấy rằng nhật thực đã không xảy ra theolịch hiện hành Vì vậy, Adam Schall được cử làm quan Giám chính để sửa lại

lịch Năm sau, bộ lịch mới “Tây dương tân pháp lịch thư” được trình lên nhà

vua, gồm 103 tập và dựa trên bộ lịch Sùng Trinh Nhà vua rất hài lòng về

Schall và chỉ trong một ngày đã ba lần thăng chức cho ông, từ “Thông nghị đại phu” lên “Thái bổ tự khanh” rồi “Thái thường tự khanh” Năm 1650,

Adam Schall xây một nhà thờ mới theo kiểu châu Âu tại nơi mà Ricci đã xâynhà thờ đầu tiên, gọi là Nam Đường Từ Matteo Ricci đến Adam Schall, cácnhà truyền giáo Dòng Tên đã giữ mối quan hệ tốt với triều đình Đó cũng là lý

do khiến giáo hội Công giáo đã có thể phát triển vững chắc ở cuối triều Minh

và đầu triều Thanh Giới thống trị Trung Quốc cần đến những tri thức khoahọc của các nhà truyền giáo vì lợi ích của Trung Quốc, còn các giáo sỹ thì cần

có quan hệ tốt và sự ủng hộ của nhà cầm quyền để duy trì vị thế của giáo hộitrong xã hội Trung Quốc Do đó, giáo hội Công giáo phát triển nhanh chóng ở

Trung Quốc trong nửa sau thế kỉ XVII “Từ năm 1651 đến 1664, số tín đồ Công giáo ở Trung Quốc lên đến 100.000, rải rác tại nhiều tỉnh, như Trực

Lệ, Sơn Đông, Sơn Tây, Thiểm Tây, Hà Nam, Tứ Xuyên, Hồ Quảng, Giang Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang, Giang Nam….” [13;30]

Ferdinandus Verbiest (1623-1688), gọi theo tiếng Trung Quốc là NamHoài Nhân, người Bỉ, tốt nghiệp trường Đại học Công giáo Leuven Ông đến

Ngày đăng: 20/03/2014, 19:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alexandre de Rhodes (1653), Hành trình và truyền giáo (bản dịch Việt ngữ của Hồng Nhuệ (1994), ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình và truyền giáo
Tác giả: Alexandre de Rhodes (1653), Hành trình và truyền giáo (bản dịch Việt ngữ của Hồng Nhuệ
Năm: 1994
2. Nguyễn Tri Ân (1962), Thánh Paulo trên đường truyền giáo, NXB Sài Gòn-Chân Lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thánh Paulo trên đường truyền giáo
Tác giả: Nguyễn Tri Ân
Nhà XB: NXB Sài Gòn-Chân Lý
Năm: 1962
3. Lưu Bành (2007), “Luật pháp tôn giáo ở Trung Quốc: Tiến trình lịch sử và những phát triển gần đây”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật pháp tôn giáo ở Trung Quốc: Tiến trình lịch sử và những phát triển gần đây”, "Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Lưu Bành
Năm: 2007
4. Hải Bằng, Phúc Nguyên (2011), “Lịch sử hình thành và phát triển đạo công giáo ở Trung Quốc”, Tạp chí Công tác Tôn giáo, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử hình thành và phát triển đạo công giáo ở Trung Quốc”, "Tạp chí Công tác Tôn giáo
Tác giả: Hải Bằng, Phúc Nguyên
Năm: 2011
5. Ngô Ngọc Chương (1973), Cách mạng Tân Hợi, một cuộc cách mạng dân chủ vĩ đại trong lịch sử cận đại Trung Quốc, NXB Ngoại văn Bắc Kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng Tân Hợi, một cuộc cách mạng dân chủ vĩ đại trong lịch sử cận đại Trung Quốc
Tác giả: Ngô Ngọc Chương
Nhà XB: NXB Ngoại văn Bắc Kinh
Năm: 1973
6. Nguyễn Duy Chính (2006), “Các giáo sỹ phương Tây tranh khắc đồng đời Thanh”, Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giáo sỹ phương Tây tranh khắc đồng đời Thanh”, "Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Duy Chính
Năm: 2006
7. Ngô Vĩnh Chính (cb) (Lương Duy Thứ dịch), 1994, Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc, NXB Văn hóa Thông tin thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin thành phố Hồ Chí Minh
8. Trần Văn Doanh (2003), “Đạo Thiên Chúa, đạo Gia Tô, đạo Cơ Đốc, đạo Công Giáo nên gọi như thế nào cho chính danh”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo Thiên Chúa, đạo Gia Tô, đạo Cơ Đốc, đạo Công Giáo nên gọi như thế nào cho chính danh”, "Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Trần Văn Doanh
Năm: 2003
9. Đại Thanh thực lục (quyển 1,2,3), Tư liệu của khoa Lịch sử ĐHSPHN- Bản dịch những sự kiện quan hệ giữa nhà Thanh với Việt Nam, thư viện ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Thanh thực lục
10. Đào Duy Đạt (2002), “Những con đường du nhập Tây học ở Trung Quốc trong phong trào Dương Vụ (1861-1894)”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những con đường du nhập Tây học ở Trung Quốc trong phong trào Dương Vụ (1861-1894)”, "Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Đào Duy Đạt
Năm: 2002
11. Hoàng Minh Đô (2005), “Một vài suy nghĩ về vấn đề Công giáo và đạo Tin Lành hiện nay ở Trung Quốc” Nghiên cứu Tôn giáo, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về vấn đề Công giáo và đạo Tin Lành hiện nay ở Trung Quốc” "Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Hoàng Minh Đô
Năm: 2005
13. Yến Khả Giai (2007), Giáo hội Công giáo Trung Quốc, NXB Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo hội Công giáo Trung Quốc
Tác giả: Yến Khả Giai
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2007
14. Lê Giảng (2010), Các triều đại Trung Hoa, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Trung Hoa
Tác giả: Lê Giảng
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2010
15. Gioan Phaolo II (2002), Nói về truyền giáo, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói về truyền giáo
Tác giả: Gioan Phaolo II
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
16. Giulio Andreotti (2007), “Gương hội nhập văn hóa: Linh mục Matteo Ricci”, Nguyệt san Công giáo và Dân tộc, NXB Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gương hội nhập văn hóa: Linh mục Matteo Ricci”, "Nguyệt san Công giáo và Dân tộc, NXB Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Giulio Andreotti
Nhà XB: NXB Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh"
Năm: 2007
17. Mai Thanh Hải (1998), Tôn giáo thế giới và Việt Nam, NXB Công an Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo thế giới và Việt Nam
Tác giả: Mai Thanh Hải
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân
Năm: 1998
18. Mai Thanh Hải (2009), “Về tam giáo đồng nguyên ở Trung Quốc”, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tam giáo đồng nguyên ở Trung Quốc”, "Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Mai Thanh Hải
Năm: 2009
19. Huỳnh Hay (2003), “Hoạt động của giáo hội thừa sai Pari hải ngoại tại Trung Quốc từ 1840 đến 1911”, Nguyệt san Công giáo và dân tộc, NXB Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của giáo hội thừa sai Pari hải ngoại tại Trung Quốc từ 1840 đến 1911”, "Nguyệt san Công giáo và dân tộc, NXB Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Huỳnh Hay
Nhà XB: NXB Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh"
Năm: 2003
20. Henri Marpero (2000) (Lê Diên dịch), Đạo giáo và các tôn giáo Trung Quốc, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo giáo và các tôn giáo Trung Quốc
21. Hoàng Văn Hiến (2000), “Vấn đề tiếp thu văn hóa phương Tây của Trung Quốc và Việt Nam cuối thế kỷ XIX”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tiếp thu văn hóa phương Tây của Trung Quốc và Việt Nam cuối thế kỷ XIX”, "Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
Tác giả: Hoàng Văn Hiến
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w