ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ AN GIANG GIÁO TRÌNH MÔN HỌC Kỹ thuật chụp ảnh NGHỀ THIẾT KẾ ĐỒ HỌA TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP, CAO ĐẲNG (Ban hành theo Quyết định số /QĐ CĐN ngày tháng năm 2[.]
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ AN GIANG
(Ban hành theo Quyết định số: /QĐ-CĐN ngày tháng năm 20
của Hiệu trưởng trường Cao đẳng nghề An Giang)
An Giang, Năm ban hành: 2022
Trang 2T UYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Nghệ thuật luôn đi kèm với khoa học, kỹ thuật ở trình độ điêu luyện Khổ luyện thành tài là ở chỗ này Đối với những khía cạnh thuộc về nghệ thuật, người tham gia cần tự phát triển từng bước, còn kỹ thuật có thể tự học cũng như tham gia các khoá học, nghiên cứu tài liệu, v.v… Kỹ thuật khi đạt đỉnh cao bản thân nó cũng
là một hình thức nghệ thuật, nhưng kỹ thuật chỉ chiếm phần rất nhỏ trong sự thành công của các tác phẩm nghệ thuật – với nhiếp ảnh, có lẽ chỉ 5% là cùng do công cụ
là chiếc máy ảnh đã chiếm một tỷ lệ khá lớn trong phần kỹ thuật của quá trình tạo ra một bức ảnh, nhất là đối với máy ảnh kỹ thuật số ngày nay đã được tích hợp rất nhiều chức năng tự động rất tinh vi, một mặt giúp người chụp ảnh dễ dàng và nhàn nhã hơn thời máy phim “thủ công” trước đây, nhưng cũng đồng thời rút ngắn khoảng cách về kỹ thuật giữa những tay máy điêu luyện với những “tay mơ”, khiến cho phần
kỹ thuật chụp trở nên ngày một kém phần quan trọng trong việc tạo ra thành công trong nhiếp ảnh
Kỹ thuật, kèm với đó là thiết bị tốt (thân máy, ống kính, phụ kiện khác) là điều không thể thiếu được trong nhiếp ảnh, nhưng chỉ có kỹ thuật không thôi thì khó có thể tạo ra những bức ảnh tuyệt tác Và cũng vì vậy, người chơi ảnh cần khẩn trương làm chủ các kỹ thuật chụp càng nhanh càng tốt để còn dành thời gian vào phát triển các khía cạnh nghệ thuật Và cách tốt nhất để làm chủ các kỹ thuật chụp, và chỉnh sửa ảnh, là học một cách hết sức cơ bản, hiểu được nguyên lý hoạt động của máy ảnh, các nguyên lý về ánh sáng cũng như các công cụ chỉnh sửa ảnh số để dần tự hoàn thiện Nếu mất cơ bản, người chụp ảnh chỉ có thể bắt chước theo từng tình huống, và khó có thể tạo ra cái riêng, cái tôi là những cái rất quan trọng để sáng tạo
ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị
Qua giáo trình này tôi truyền tải các giá trị nghệ thuật của kỹ thuật chụp ảnh đến độc giả
Trang 4MỤC LỤC
7 Tỷ lệ phóng quang học và kỹ thuật số (optical zoom & digital zoom) 23
Trang 7GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
Tên môn học: KỸ THUẬT CHỤP ẢNH
Mã môn học: MH 13
Thời gian thực hiện môn học: 45 giờ (Lý thuyết: 12 giờ, thực hành, thí
nghiệm, thảo luận: 31 giờ, kiểm tra: 2 giờ)
I VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA MÔN HỌC
1 Vị trí: học sau môn mỹ thuật cơ bản
2 Tính chất: Là môn học chuyên môn bắt buộc trong ngành thiết kế đồ họa
3 Ý nghĩa: : Là một môn học cơ sở ngành của ngành thiết kế đồ họa
4 Vai trò: Là môn học cơ sở của các môn học thiết kế trong lĩnh vực đồ họa
II MỤC TIÊU CỦA MÔN HỌC
1 Về kiến thức:
+ Trình bày được bố cục trong nhiếp ảnh
+ Trình bày được ánh sáng, góc độ trong nhiếp ảnh
+ Trình bày được các khái niệm liên quan đến nhiếp ảnh và thiết bị sử dụng trong nghệ thuật nhiếp ảnh
+ Thực hiện được các kỹ thuật điều chỉnh độ nhạy sáng, khẩu độ và điều chỉnh tốc độ chụp
2 Về kỹ năng:
+ Sử dụng được máy ảnh
+ Vận dụng thành thạo các qui tắc vàng trong nhiếp ảnh về bố cục và ánh sáng Chụp được ảnh đẹp
+ Hiệu chỉnh thành ảnh poster, ảnh có giá trị thẩm mỹ cao
3 Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Cẩn thận, tỉ mỉ, tự giác học tập và
nghiên cứu
III NỘI DUNG MÔN HỌC
1 Nội dung tổng quát và phân bố thời gian:
Trang 8Thực hành, thí nghiệm, thảo luận, bài tập
Kiểm tra
Bài mở đầu
I Chương 1: Máy ảnh căn bản 4 4 0
I Tổng quan
1 Lịch sử nhiếp ảnh
2 Vị trí nhiếp ảnh trong đời sống
II Khái niệm máy ảnh
III Phân loại máy ảnh
IV Các thuật ngữ thường dùng
trong nhiếp ảnh
II Chương 2: Ống kính máy ảnh 4 2 2
I Khái niệm
II Cấu tạo
III Phân loại
IV Vùng ảnh rõ
V Kỹ thuật tháo, ráp ống kính
III Chương 3: Sử dụng máy ảnh 14 2 11 1
I Hiệu chỉnh các thông số cơ
Trang 9Thực hành, thí nghiệm, thảo luận, bài tập
Kiểm tra
III Ảnh sinh hoạt
IV Ảnh chân dung
Trang 10CHƯƠNG MỞ ĐẦU Mục tiêu:
- Hiểu được nhiếp ảnh là gì
- Phân biệt được kỹ thuật và nghệ thuật
Nội dung chương:
I Nhiếp ảnh là gì?
Đầu tiên, ta hay xem xét đôi chút về từ “nhiếp ảnh” Trong tiếng Anh, nhiếp ảnh là PHOTOGRAPHY Từ này được cấu tạo bởi 2 phần là PHOTO và GRAPH PHOTO có nghĩa gốc là ánh sáng, GRAPH có nghĩa gốc là vẽ, phác thảo PHOTOGRAPHY hiểu một cách cơ bản là vẽ hay tạo ra hình ảnh bằng ánh sáng Vì vậy, với “nhiếp ảnh”, ánh sáng là yếu tố quan trọng nhất Để “nhiếp ảnh” đạt được trình độ cao, người thực hiện “nhiếp ảnh” cần có hiểu biết về ánh sáng, và các cách thức vận dụng, kiểm soát công cụ để vận dụng ánh sáng theo đúng mong muốn của mình trong quá trình tạo ra hình ảnh “bằng ánh sáng”
Trong tiếng Việt, từ “nhiếp ảnh” có gốc Hán “Nhiếp” có nghĩa gốc là “đem lại” hay “dẫn đến” NHIẾP ẢNH, hiểu có bản, có nghĩa là làm ra, tạo ra một bức ảnh – tức là CHỤP ẢNH Nhiếp ảnh chẳng qua là chụp ảnh mà thôi, tuy vậy, trong nhiều kết hợp từ thì lúc dùng “nhiếp ảnh”, lúc dùng “chụp ảnh”, về nghĩa cơ bản là hoàn toàn như nhau Có đôi khi ta cảm thấy từ “nhiếp ảnh” có gì đó cao sang hơn
“chụp ảnh”, nhưng về bản chất hai từ này là một Học nhiếp ảnh cũng là học chụp ảnh, chỉ có vậy!
Nhưng mà từ ngữ chỉ là từ ngữ, kệ nó đi Nhiếp ảnh là một bộ môn nghệ thuật Cũng như bất kỳ môn nghệ thuật nào, dù tài năng dến đâu, nhiếp ảnh đầu tiên đòi hỏi một sự khổ luyện nhất định đối với người tham gia Xét theo “công thức thành công” về thời gian là 10 ngàn giờ (tức 8 tiếng/ngày trong suốt 3 năm liền), để thành công tối thiểu trong nhiếp ảnh, bạn cũng sẽ cần luyện tập trong một khoảng thời gian tương đương Nếu qui đổi khoảng thời gian đó sang số lượng kiểu ảnh, thì với thời máy ảnh sử dụng phim, đó là khoảng 10 ngàn bức ảnh chụp có suy nghĩ, còn với thời máy ảnh số khi người ta có xu hướng bấm máy nhiều hơn (do không phải tốn
Trang 11phim), và nhiều khi là bấm bừa, thì số lượng đó có thể sẽ là 100 ngàn bức ảnh, hoặc nhiều hơn thế tuỳ thuộc mức độ bấm bừa của từng người
Là một môn nghệ thuật, nhiếp ảnh cũng yêu cầu tâm hồn và con mắt nghệ thuật Cả hai điều này phụ thuộc ít nhiều vào năng khiếu bẩm sinh, nhưng chủ yếu đều có thể luyện tập để phát triển Việc thường xuyên xem ảnh, đưa ra nhận xét cá nhân, tìm hiểu các khía cạnh khác nhau trong nhiếp ảnh đều có thể giúp người tham gia phát triển quan niệm thế nào là một bức ảnh đẹp, mức độ “đẹp” đến đâu và đâu
là sự sáng tạo Khi biết được thế nào là một bức ảnh đẹp, kết hợp với kỹ thuật chụp
và hậu kỳ đã rèn luyện cũng như sự sáng tạo cá nhân, người tham gia chắc chắn sẽ
có được thành công trong nhiếp ảnh
II Nghệ thuật và Kỹ thuật
Nghệ thuật luôn đi kèm với khoa học, kỹ thuật ở trình độ điêu luyện Khổ luyện thành tài là ở chỗ này Đối với những khía cạnh thuộc về nghệ thuật, người tham gia cần tự phát triển từng bước, còn kỹ thuật có thể tự học cũng như tham gia các khoá học, nghiên cứu tài liệu, v.v… Kỹ thuật khi đạt đỉnh cao bản thân nó cũng
là một hình thức nghệ thuật, nhưng kỹ thuật chỉ chiếm phần rất nhỏ trong sự thành công của các tác phẩm nghệ thuật – với nhiếp ảnh, có lẽ chỉ 5% là cùng do công cụ
là chiếc máy ảnh đã chiếm một tỷ lệ khá lớn trong phần kỹ thuật của quá trình tạo ra một bức ảnh, nhất là đối với máy ảnh kỹ thuật số ngày nay đã được tích hợp rất nhiều chức năng tự động rất tinh vi, một mặt giúp người chụp ảnh dễ dàng và nhàn nhã hơn thời máy phim “thủ công” trước đây, nhưng cũng đồng thời rút ngắn khoảng cách về kỹ thuật giữa những tay máy điêu luyện với những “tay mơ”, khiến cho phần
kỹ thuật chụp trở nên ngày một kém phần quan trọng trong việc tạo ra thành công trong nhiếp ảnh
Kỹ thuật, kèm với đó là thiết bị tốt (thân máy, ống kính, phụ kiện khác) là điều không thể thiếu được trong nhiếp ảnh, nhưng chỉ có kỹ thuật không thôi thì khó có thể tạo ra những bức ảnh tuyệt tác Và cũng vì vậy, người chơi ảnh cần khẩn trương làm chủ các kỹ thuật chụp càng nhanh càng tốt để còn dành thời gian vào phát triển các khía cạnh nghệ thuật Và cách tốt nhất để làm chủ các kỹ thuật chụp, và chỉnh
Trang 12sửa ảnh, là học một cách hết sức cơ bản, hiểu được nguyên lý hoạt động của máy ảnh, các nguyên lý về ánh sáng cũng như các công cụ chỉnh sửa ảnh số để dần tự hoàn thiện Nếu mất cơ bản, người chụp ảnh chỉ có thể bắt chước theo từng tình huống, và khó có thể tạo ra cái riêng, cái tôi là những cái rất quan trọng để sáng tạo
Trang 13CHƯƠNG 1 MÁY ẢNH CĂN BẢN Mục tiêu:
- Trình bày được lịch sử nhiếp ảnh
- Phân loại được máy ảnh
- Trình bày được các thuật ngữ thường dùng
Nội dung chương:
I Tổng quan
1 Lịch sử nhiếp ảnh
Thập niên 30 của thế kỷ 19, Louis Daguerre đã phát minh thành công kỹ thuật chụp ảnh Thời thanh niên ông là một nhà nghệ thuật Đến năm hơn 30 tuổi, ông thiết kế ra một loại kính đặc biệt, dùng hiệu quả đặc thù để làm hiện lên toàn cảnh của một bức tranh Trong khi ông theo đuổi công việc làm đó thì nảy sinh ra ý tưởng muốn chế tạo một chiếc máy không cần bút vẽ, không cần sơn dầu mà có thể tự động hiện ra mọi cảnh tượng tức là sáng chế ra một máy chụp ảnh
Năm 1827, ông gặp Nielfs Có lẽ lúc đó Nielfs cũng đang cố gắng thiết kế ra một chiếc máy ảnh Hai năm sau họ trở thành đôi bạn cùng cộng tác với nhau Năm
1833, Nielfs đột ngột qua đời, Daguerre kiên trì tiếp tục công trình nghiên cứu của mình Đến năm 1837, ông mới thành công trong việc phát triển một hệ thống chụp ảnh có giá trị thực dụng Thiết bị đó được goị là máy chụp ảnh Daguerre
Năm 1839, Daguerre công bố trước công chúng chiếc máy chụp ảnh đầu tiên của mình nhưng không xin được bằng sáng chế độc quyền Đáp lại, chính phủ Pháp
đã cấp tiền trợ cấp hàng năm cho con của Daguerre và Nielfs Sự công bố về phát minh của Daguerre đã gây dư luận xôn xao trong công chúng Daguerre đã trở thành nhân vật anh hùng và đón nhận nhiều danh dự Cùng lúc đó, chiếc máy ảnh của ông thiết kế đã nhanh chóng được sử dung phổ biến rộng rãi Sau đó không lâu, Daguerre nghỉ hưu
Rất ít có phát minh nào được sử dụng rộng rãi nhiều mặt như máy ảnh Thực
tế, nó đã được sử dụng rộng rãi mọi lĩnh vực trong nghiên cứu khoa học Đối với một số người thì chụp ảnh là một hình thức nghệ thuật nghiêm túc, còn đối với hàng trăm triệu người khác, nó là một trò chơi vui vẻ được nhiều người ưa thích Một bức
Trang 14ảnh chụp sẽ mang đến cho chúng ta tin tức về giáo dục thời sự và quảng cáo Một bức ảnh chụp làm cho chúng ta hồi ức lại quá khứ một cách sinh động Nó là một vật thường thấy nhất trong các đồ kỷ niệm Tất nhiên là kỹ thuật quay phim trong điện ảnh cũng là một bước phát triển quan trọng của kỹ thuật chụp ảnh, ngoài việc phục vụ giải trí, nó còn được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực cũng giống như chụp ảnh
Đại lộ Temple, bức ảnh nổi tiếng của Daguerre chụp ngày 4 tháng 5 năm 1838 tại Paris Bức ảnh chụp một con phố trong khoảng thời gian 10 phút, do hạn chế về
kỹ thuật ở thời kỳ đó Tất cả các xe cộ chuyển động đều không hiện trong tấm hình Riêng ở góc trái, một người đàn ông đứng yên để đánh giày và đây là tấm hình đầu tiên có ghi lại hình ảnh con người Giống như hầu hết các bức hình chụp theo phương pháp Daguerre, hình ảnh trong tấm ảnh này bị lật ngược như khi nhìn qua một tấm gương
Không có một phát minh nào là công lao của một người duy nhất Trước Daguerre đã có nhiều việc cần thiết được chuẩn bị cho sự phát triển của bản thân ông Hộp đen (một dụng cụ tương tự như máy ảnh có một lỗ thủng nhỏ nhưng không
có phim) đã được phát minh trước Daguerre 800 năm Thế kỷ 16, Gerolamo Cardano
đã tiến một bước dài trong việc làm thế nào lắp được thấu kính vào lỗ thủng của hộp
Trang 15đen, mở màn cho việc phát minh ra máy ảnh hiện đại được mọi người yêu thích Do hình ảnh của nó cơ bản không thể giữ lại được nên chưa thể xem là một máy chụp ảnh Một sự phát hiện có tính chất chuẩn bị quan trọng hơn nữa do Theodore Whilliam Schultz hoàn thành vào năm 1727 ông phát hiện nitoras bạc là chất có cảm ứng nhạy đối với ánh sáng Mặc dù ông đã dùng phát minh đó để tạo ra được một số hình ảnh mà tạm thời có thể bảo lưu được nhưng Schultz không đi sâu nghiên cứu thêm về phát hiện đó
Kỹ thuật nhiếp ảnh của Daguerre và Talbot thì kỹ thuật nhiếp ảnh đã có những bước cải tiến lớn lao như việc xử lý âm bản theo dạng ướt, xử lý âm bản theo dạng khô rồi tiến tới có những cuốn phim như hiện nay như phim màu, điện ảnh, nhiếp ảnh bằng đèn chớp và máy phô-tô-cóp-pi Mặc dù có rất nhiều người tham gia vào việc phát triển kỹ thuật nhiếp ảnh nhưng dư luận nói chung vẫn đánh giá sự cống hiến của Daguerre là quan trọng nhất Trước ông, không có một hệ thống nhiếp ảnh nào được gọi là thực dụng trong khi thiết kế của ông đứng về mặt kỹ thuật là hoàn toàn thực dụng và nhanh chóng được sử dụng rộng rãi Hơn nữa, sự phát minh mang tính đại chúng hoá của ông đã có tác dụng xúc tiến to lớn đối với sự phát triển của ngành nhiếp ảnh
Daguerre mất ngày 10 tháng 7 năm 1851 tại Bry-sur-Marre cách thủ đô Paris
12 km Khu mộ ông tại đây có một tượng đài trang trọng để tưởng nhớ tới người con vinh quang này của nước Pháp
Một trong những ảnh nguyên mẫu Daguerre (daguerréotype) đã làm xáo trộn lịch sử ngành nhiếp ảnh Những chuyên gia Pháp và Mỹ tranh luận về việc bức chân dung chụp đầu tiên của nhân loại do Louis Daguerre ký năm 1837
Bức chân dung nhỏ xíu chỉ nằm gọn trong lòng bàn tay nhưng hiệu quả của
nó như một trái bom đã làm xáo trộn thế giới vi mô của những chuyên gia Ðó là một khuôn mặt trắng bệch của một người đàn ông, tóc bù xù, mắt mở to, khắc trên một tấm chì phủ bạc mà khi muốn coi, phải nghiêng một cách kiên nhẫn mới thấy những nét của ông ta nổi lên, cũng như trong cái gương vậy
Trang 16
Sau lưng tấm ảnh có ghi năm 1837 bằng thủ bút, luôn luôn kèm theo tên tác giả là Louis Daguerre Louis Daguerre sáng tác ngành máy ảnh chung với Niépce, nhưng đã đăng riêng tên mình vào phương thức sáng chế và trình ra cho công chúng năm 1839
Bức ảnh này hiện nằm trong tay Marc Pagneux, người buôn ảnh nổi tiếng và
là chủ nhân bức ảnh nguyên mẫu đặc biệt này: "Nó không phải chỉ là một bức ảnh
mà là một vật thuộc lịch sử khoa họ" Bức ảnh đã được in ra -tức là đã tiết lộ- trong báo Le Monde và bài Nghiên cứu phim ảnh (Études photographiques) do nhà sử học nghệ thuật André Gunthert và kỹ sư Jacques Roquencourt viết Những phản ứng đầu tiên không phải từ Pháp, mà từ Hoa Kỳ, một nước sản sinh nhiều nhà nghiên cứu về phương thức Daguerre Nhiều người không tin, nghi ngờ khi chưa thấy ảnh, có người thì chào đón phát minh Chữ ký, ngày chụp, tính chất chung đã biện hộ cho sự chính xác của vật, nhưng cũng có những người chờ phân tích tấm bảng đồng mới tin được
Sự khám phá này cụ thể hóa cho lời tuyên bố của chính Daguerre hồi tháng 2 năm 1838: nước Pháp (Niépce và Daguerre) và nước anh (Talbot) bàn cãi về phát minh ngành nhiếp ảnh
2 Vị trí nhiếp ảnh trong đời sống
Nghệ thuật nhiếp ảnh đóng vai trò khá quan trọng trong nền văn hóa, góp phần phát triển khả năng thẩm mỹ xã hội Đây là một loại hình nghệ thuật độc nhất vô nhị, kết hợp được tính tài liệu với tính nghệ thuật, là hai tính chất hoàn toàn đối lập nhau trong văn học nghệ thuật nói chung
Trong quá trình tồn tại và phát triển, nghệ thuật nhiếp ảnh đã trở thành một trong những hình thức hoạt động mang tính quần chúng rộng rãi nhất Đây cũng là một trong những đặc điểm nổi trội của nghệ thuật nhiếp ảnh, mà không một loại hình nghệ thuật nào có được
Cả hai đặc điểm này đã mang lại cho nghệ thuật nhiếp ảnh những kết quả cực
kỳ quan trọng và rất phong phú, chứa đựng đầy đủ tính chất của nền văn hóa, tính chất tâm lý xã hội, tính tư tưởng và đặc biệt là tính thẩm mỹ cao
Trang 17Thật vậy, hình tượng trong nghệ thuật nhiếp ảnh chứa đựng tài liệu bắt nguồn
từ cuộc sống thực tế, thông qua kỹ thuật nhiếp ảnh, nhà nghệ sỹ ghi được, đã không ngừng nâng cao vai trò thông tin chính xác về mọi hoạt động của con người trong
xã hội, được công chúng thừa nhận và tin tưởng, mà trước đây khi nhiếp ảnh chưa
ra đời khả năng ghi nhận tin tức rất khó khăn và thiếu độ chính xác, nếu không muốn nói sai lệch rất lớn, bởi vì mọi phương pháp “diễn đạt bằng tay” đều mất độ chính xác do nhận thức chủ quan của cá nhân nhà nghệ sỹ
Nhiếp ảnh chỉ có thể ghi được những gì nhìn thấy, sờ thấy, những gì tồn tại khách quan Nhiếp ảnh không có khả năng tái hiện những thứ phi vật chất Bức ảnh trước hết là một sản phẩm công nghiệp ghi lại sự hiện diện của vật thể, một hiện tượng, một sự kiện, một hoạt động…đúng với nguyền hình nguyền trạng của nó ở thời điểm ghi hình với độ chính xác tuyệt đối về tài liệu
Bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh những ngày sống và làm việc tại chiến khu Việt Bắc do họa sỹ nổi tiếng Tô Ngọc Vân vẽ trực tiếp rất sinh động, hấp dẫn, bởi bức vẽ toát lền tâm hồn cao đẹp, chí lớn của Bác Nhưng dù cuốn hút đến mức nào đi nữa, bức chân dung không thể mang lại cho người xem ấn tượng chính xác
về Bác như khi họ được xem bức chân dung của các cố nghệ sỹ nhiếp ảnh Đinh Đăng Định, Vũ Năng An, Lâm Hồng Long chụp về Bác (ở đây không so sánh giá trị nghệ thuật giữa ảnh và hội họa, mà chỉ đề cập đến tính hiện thực của hai thể loại đó) Điều muốn nói là độ chính xác của ảnh là tuyệt đối, không một ai có thể nghi ngờ Nhưng đối với ảnh nghệ thuật là sự kết hợp giữa cái khách quan (hiện thực) với cái chủ quan (tư duy nhận thức của tác giả), tức là giữa cái nhận thức được và cái đã đánh giá để hình thành nền tác phẩm Còn trong ảnh tư liệu (ảnh báo chí) và cả ảnh khoa học điều cốt yếu là làm sao cho cái khách quan (hiện thực) không bị cái chủ quan chi phối Ngược lại hội họa, điều khắc, kiến trúc… cái khách quan bị cái chủ quan của nhà nghệ sỹ chi phối hoàn toàn
Đối với hội họa, mỹ thuật tạo hình nói chung cái khách quan chỉ là cái cớ cho nhà họa sỹ thăng hoa nghệ thuật, bày tỏ tư duy nghệ thuật của mình Đó là đặc điểm khác nhau giữa hội họa và nhiếp ảnh Chính nhờ thuộc tính tài liệu nổi trội này mà
Trang 18nghệ thuật nhiếp ảnh đã giành được vị trí xứng đáng trong đại gia đình nghệ thuật tạo hình
Nhiếp ảnh ra đời đã giúp cho con người khả năng nhìn thấy cái mà trước đây người ta chỉ nghe được thôi, hoặc nhìn thấy nhưng độ tin cậy không cao, còn nghệ thuật nhiếp ảnh mở rộng phạm vi gây ấn tượng bằng mắt của chúng ta, thực hiện việc thu nhận tin tức chính xác bằng cách không phụ thuộc vào mối quan hệ trực tiếp của con người với đối tượng chụp
Nhiếp ảnh mang lại cho con người “khả năng nhìn thấy thế giới một cách vắng mặt” Ngày nay không ra khỏi nhà, chúng ta cũng có thể nhìn thấy được vẻ đẹp một cách chính xác đến từng chi tiết nhỏ của các kỳ quan thế giới như Angkor Vat, Angkor Thom của đất nước Chùa Tháp, chúng ta cũng cảm nhận được sự vĩ đại của Vạn Lý trường Thành… Mặt trăng xưa kia chỉ là điều mơ mộng của tuổi thơ, với hình ảnh “thằng Cuội ngồi gốc cây đa”, ngày nay qua bức ảnh do vệ tinh gửi về mặt đất chúng ta thấy rõ mồn một nét gồ ghề của bề mặt mặt trăng…
Nhiếp ảnh làm dấy lền trong lòng công chúng tình cảm tiếp cận với những sự kiện nóng bỏng xẩy ra trền thế giới: Một trận động đất, sóng thần kinh hoàng vừa xẩy ra ở Nhật Bản đã chôn vùi, cuốn trôi hàng vạn người, hàng chục thành phố, làng mạc đã nhanh chóng đến với toàn thế giới Một vụ đánh bom liều chết ở Afghanistan vài phút trước đây nhân loại đã sững sờ nhìn thấy qua những bức ảnh thờii sự do các hãng thông tấn phát đi… Không những thế nhiếp ảnh đã phá tung cái ranh giới chật hẹp kinh nghiệm sống của từng người, ghi lại được cái cảm giác thầm kin trong mỗi một con người, hướng từng con người vào số phận chung của nhân loại
Trong thời đại hiện nay, cùng với nhiếp ảnh, điện ảnh, truyền hình đặc biệt truyền hình kỹ thuật số đang cùng nhau giải quyết những nhiệm vụ tương tự , trong
đó truyền hình với khả năng nhanh nhạy bằng phương tiện truyền thông công cộng nhanh chóng tiếp cận với cuộc sống đang vận động, đang đổi thay, đang tiến lền Truyền hình và điện ảnh có những thế mạnh sức lan tỏa lớn và nhanh Nhưng so với nhiếp ảnh cũng có những mặt yếu: cả hai đều không thể ghi được tâm trạng con người xẩy ra trong khoảnh khắc, không thể làm cho cái xẩy ra trở thành tài liệu vĩnh cửu cho hậu thế Đó cũng là lý do tại sao mối quan hệ giữa nhiếp ảnh và điện ảnh,
Trang 19truyền hình không phải là mối quan hệ cạnh tranh mà là mối quan hệ tương hỗ, hợp tác để giải quyết những nhiệm vụ chung của xã hội: nâng cao hiệu quả công tác thông tin bằng thị giác trong đời sống tinh thần của con người, làm phong phú đa dạng nền văn hóa thị giác và biến những thành quả này thành những tài sản của công chúng
Trong đời sống xã hội ngày nay, con người luôn luôn đòi hỏi được biết bản chất sự vật, đòi hỏi được biết chính xác cái gì đang xẩy ra trền thế giới, đòi hỏi quyền được thông tin về bất cứ sự bịa đặt nào , bất cứ sự tưởng tượng nào không dựa trền tài liệu chính xác của sự kiện Những đòi hỏi đó, nhiếp ảnh nói chung trong đó có nghiếp ảnh nghệ thuật đã đáp ứng một cách đầy đủ, rõ ràng Các tác phẩm ảnh nghệ thuật còn làm cho việc cảm thụ hiện thực sinh động của chúng ta càng thềm sâu sắc, giúp cho chúng ta nhìn cuộc sống theo con mắt thẩm mỹ có văn hóa, giúp con người hoàn thiện khả năng tiếp thu cái đẹp
Hội họa đồ họa,điều khắc… ra đời đã giúp cho con người cảm thụ cái đẹp Sự
ra đời của nghệ thuật nhiếp ảnh càng làm cho cái nhìn của con người trở nền tích cực hơn, có khuynh hướng rõ ràng hơn Nghệ thuật nhiếp ảnh có khả năng hướng con người có cách nhìn thế giới bằng đôi mắt thẩm mỹ , góp phần giáo dục nâng cao trình độ thẩm mỹ cho con người
Điều đặc biệt là trong lĩnh vực nghệ thuật nhiếp ảnh giữa người sáng tác không chuyền và người sáng tác chuyền nghiệp ít có sự cách biệt về trình độ thẩm mỹ như các ngành nghệ thuật khác Điều đó chứng tỏ rằng việc nắm vững kỹ thuật nhiếp ảnh không khó khăn, phức tạp như hội họa, điều khắc
Trong khi hoạt động tạo hình nhà nhiếp ảnh rất yền tâm khi trong tay đã có bộ máy ảnh tốt, lại nắm vững kỹ thuật, nhưng điều mà nhà nhiếp ảnh chú ý nhất là sự lựa chọn đối tượng,quan sát đối tượng và xử lý hình tượng… đều theo tiều chuẩn thẩm mỹ Đó chính là khả năng tập trung toàn bộ nghị lực vào phương diện nghệ thuật của nhà nghệ sỹ để tạo cho tác phẩm một vai trò đặc biệt trong việc thức tỉnh
và phát triển năng khiếu sáng tạo nghệ thuật cho công chúng
Trang 20Ảnh nghệ thuật có ý nghĩa tư tưởng rất lớn Nó là sự “mở mắt” cho mọi người nhìn thấy giá trị tinh thần và xã hội nằm trong sự kiện đời sống mà con người chứng kiến rõ ràng qua ảnh
Ảnh nghệ thuật phụ thuộc vào việc người nghệ sỹ nhiếp ảnh hướng sự chú ý của xem vào những cảnh ngộ nào, hiện tượng nào, phụ thuộc vào anh ta buộc người xem phải cảm xúc,đánh giá và suy nghĩ như thế nào vào những cái mà anh ta giới thiệu với họ, phụ thuộc vào việc anh ta đặt ra cho người xem lập trường tư tưởng, tâm lý nào thể hiện trong cái mà anh ta lựa chọn đưa vào tác phẩm; phụ thuộc vào anh ta đem lại cho người xem tin tức về một trạng thái tinh thần nào, thông qua tác phẩm của mình
Phụ thuộc vào tất cả những yếu tố đó, rõ ràng ảnh nghệ thuật chứa đựng một nội dung tư tưởng nhất định Do đó nhiếp ảnh nghệ thuật đã trở thành một vũ khí đấu tranh tư tưởng Tùy lập trường tư tưởng giai cấp của người cầm máy, ảnh nghệ thuật có thể nhân đạo, hoặc vô nhân đạo, có thể thiện hoặc ác, có thể khám phá ra sự thật, hoặc giả dối, có thể giáo dục con người lòng tự trọng hoặc sự khinh bỉ lẫn nhau,
có thể đấu tranh cho hòa bình hoặc kích động chiến tranh, có thể tuyền truyền cho
tư tưởng đoàn kết hữu nghị quốc tế hoặc gây hận thù phân biệt chủng tộc…
Tóm lại nghệ thuật nhiếp ảnh đối với chúng ta là một phương tiện tích cực hướng nhận thức của quần chúng vào những tư tưởng tiến bộ
II Khái niệm máy ảnh
Máy ảnh hay máy chụp hình là một dụng cụ dùng để thu ảnh thành một ảnh tĩnh hay thành một loạt các ảnh chuyển động (gọi là phim hay video) Tên camera
có gốc từ tiếng La tinh camera obscura nghĩa là "phòng tối", từ lý do máy ảnh đầu tiên là một cái phòng tối với vài người làm việc trong đó Chức năng của máy ảnh giống với mắt người Máy ảnh có thể làm việc ở phổ ánh sáng nhìn thấy hoặc ở các vùng khác trong phổ bức xạ điện từ
III Phân loại máy ảnh
Mỗi máy ảnh thường có một khoảng kín, khoảng này có một đầu là lỗ ống kính để cho ánh sáng đi vào và đầu kia là nơi ghi ảnh hay xem ảnh Hầu hết các máy
Trang 21ảnh đều có ống kính gắn ở phía trước để gom ánh sáng lại và hội tụ thành ảnh trên
bề mặt ghi ảnh Đường kính của lỗ ống kính thường được kiểm soát bằng cơ chế diaphragm, nhưng cũng có những máy ảnh có lỗ ống kính không đổi
Kích thước của lỗ ống kính và độ sáng của cảnh chụp quyết định lượng ánh sáng đi vào máy ảnh trong một khoảng thời gian, và màn trập điều khiển thời gian
mà ánh sáng chiếu lên bề mặt ghi ảnh Ví dụ, trong điều kiện ít sáng,, tốc độ màn trập nên chậm (tức là mở lâu hơn) để tấm phim nhận được thêm ánh sáng
Do tính chất của ống kính máy ảnh, chỉ có những vật nằm trong một khoảng cách nào đó mới được thấy rõ Quá trình điều chỉnh khoảng cách đó gọi là lấy nét trên máy ảnh Có vài cách để lấy nét Máy ảnh đơn giản nhất dùng cách lấy nét cố định với một lỗ ống kính nhỏ và ống kính góc rộng sao cho mọi thứ trong khoảng cách nào đó từ ống kính (thường là từ 3 mét tới vô cực) đều tương đối rõ nét Cách này thường thấy ở loại máy ảnh dùng một lần rồi bỏ hoặc máy ảnh rẻ tiền Một kiểu máy ảnh khác có một số khoảng rõ nét gọi là lấy nét bậc, các khoảng này được chỉ trên thân máy Người dùng sẽ ước lượng khoảng cách của đối tượng rồi chọn bậc rõ nét tương ứng Các bậc có thể được vẽ thành các biểu tượng như đầu và vai, hai người đứng, một cái cây, ngọn núi
Máy ảnh đo khoảng cách qua lỗ ngắm cho phép đo khoảng cách tới đối tượng bằng một máy đo thị sai trên đầu máy Máy ảnh SLR cho phép người chụp nhìn qua
lỗ ngắm thấy ảnh sắp chụp và lấy nét trước khi chụp Máy ảnh phản chiếu hai ống kính dùng một ống kính để chụp và một ống kính để lấy nét, hai ống kính này được liên kết với nhau để chỉnh cùng một lúc Máy ảnh ngắm thẳng cho ảnh rọi lên một tấm kính mờ để ngắm, ngắm xong thì thay tấm kính mờ bằng tấm phim để chụp
Máy ảnh thời nay thì có chức năng lấy nét tự động
Máy ảnh thường thu ánh sáng trên tấm phim ảnh hoặc kính ảnh Máy quay video và máy ảnh số dùng dụng cụ điện tử, thường là bộ cảm biến CCD hoặc CMOS
để thu ánh sáng rồi ghi vào băng hoặc bộ nhớ, sau đó có thể xem lại hoặc xử lý ảnh
Máy ảnh thu nhiều ảnh liên tiếp gọi là máy quay phim; máy chỉ thu từng ảnh gọi là máy chụp ảnh Tuy nhiên ranh giới giữa hai loại này không còn rõ ràng nữa
Trang 22Máy quay video là loại máy quay phim nhưng thu hình bằng phương pháp điện tử (analog hoặc digital)
Máy ảnh nổi chụp được hình giống như có ba chiều bằng cách chụp 2 hình khác nhau rồi ghép lại để tạo ảo giác về bề sâu của hình Máy ảnh nổi có 2 ống kính cạnh nhau
Một số máy ảnh phim có tính năng in ngày, để in ngày lên tấm phim
IV Các thuật ngữ thường dùng trong nhiếp ảnh
1 Cửa chập (shutter)
Là mành chắn được đóng mở cho phép ánh sáng lọt qua để đi tới phim hay bộ cảm biến khi bấm máy chụp Khoảng thời gian mành mở để ánh sáng lọt (qua mành) vào phim hay bộ cảm biến nhận ánh sáng đối với máy ảnh số – cũng chính là thời gian phơi sáng của phim hay bộ cảm biến (exposure time) – được điều chỉnh bởi tốc
độ cửa chập (shutter speed) và thường được tính bằng giây và phần của giây, ví dụ
1 giây, 1/60 (một phần 60 của giây), 1/3200 (một phần 3200 của giây) Tốc độ cửa chập càng nhanh cho phép chụp được các đối tượng di chuyển nhanh mà không bị nhòe hình do “dừng” được hình ảnh trong một khoảnh khắc rất nhỏ, ví dụ để “dừng” được chuyển động của một con chim đang bay, tốc độ cửa chập phải đạt được tối thiểu từ 1/1250 đến 1/1600 giây mới đảm bảo không bị nhòe Tốc độ cửa chập càng nhanh đòi hỏi ánh sáng càng mạnh mới đảm bảo ảnh không bị quá tối
2 Khẩu độ mở (apature)
Là lỗ lọt sáng nằm trên ống kính của máy ảnh Độ to nhỏ của khẩu độ được điều chỉnh bằng thông số f (f-number), ví dụ f/2.8 hay f/32, và phụ thuộc khả năng của ống kính Các khẩu độ phổ biến gồm f/1.4, f/2, f/2.8, f/4, f/5.6, f/8, f/11, f/16, and f/22 Lưu ý: thông số f này càng nhỏ thì độ mở của lỗ lọt sáng càng lớn, ví dụ f/5.6 cho lỗ lọt sáng lớn hơn so với f/8, như vậy, f/5.6 cho nhiều ánh sáng lọt qua hơn so với f/8 – đây là cánh tính hay làm nhiều người nhầm lẫn về khẩu độ mở Các ống kính càng tốt (và càng đắt tiền do đòi hỏi công nghệ sản xuất cao hơn) cho phép
mở khẩu độ càng to, hiện nay hãng Leica đã sản xuất ống kính thông thường với độ
mở lên tới f/0.95 Khẩu độ mở to (thông số f nhỏ) cho phép ánh sáng lọt vào phim
Trang 23nay bộ cảm biến nhiều hơn, tạo khả năng tăng tốc độ cửa chập (shutter speed) giúp đảm bảo hình không bị nhòe (do rung tay hay vật chuyển động), nhất là trong các môi trường ánh sáng yếu mà vẫn bảo đảm ánh sáng của ảnh Tuy nhiên, khẩu độ mở còn chi phối chiều sâu của ảnh (depth of field): Khẩu độ mở càng to càng làm giảm chiều sâu của ảnh
3 Căn nét / lấy nét (focus)
Điều chỉnh ống kính (nhiều khi là cả vị trí của máy ảnh) để căn chỉnh tạo hình ảnh sắc nét trên phim hay bộ cảm biến Ở một số máy ảnh, khi điều chỉnh, vị trí của phim hay bộ cảm biển cũng di chuyển để tạo độ nét Lưu ý: có nhiều người còn gọi việc này là “canh nét”
4 Tiêu điểm (focal point)
Là điểm trên trục quang học (của ống kính) ở đó các tia sáng (sau khi đã đi qua các thấu kính) tạo thành hình ảnh sắc nét của đối tượng được chụp ảnh Việc điều chỉnh ống kính (và vị trí của máy ảnh) để hình ảnh sắc nét nằm trên phim hay
bộ cảm biến gọi là lấy/căn/canh nét
5 Tiêu cự (focal length)
Khoảng cách giữa bề mặt của phim (hay bộ cảm biến nhận sáng ở máy ảnh số) tới trung tâm quang học của ống kính (gồm hệ thấu kính) Tiêu cự thường được tính bằng milimet (mm) và được ghi trên ống kính Đối với định dạng phim (kích cỡ cảm biến toàn khổ) 35mm, tiêu cự ở 50mm được coi là tiêu chuẩn (normal, thường được đọc là nóc-man – ở tiêu cự này hình ảnh qua ống kính sát thực với hình ảnh nhìn thông thường qua mắt người nhất, và cho độ chính xác cao nhất) Các tiêu cự ngắn hơn 50mm được gọi là góc rộng (wide) và các tiêu cự dài hơn 50mm có thể được gọi là lớn hay tê-lê (tele) Ở cùng một khoảng cách giữa máy ảnh và đối tượng cần chụp, ống kính góc rộng cho hình ảnh rộng hơn (phù hợp với chụp một nhóm người hay toàn cảnh trong nhà, v.v…) còn ống tele giúp chụp được đối tượng to hơn trong ảnh Ghi chú: Việc sản xuất các ống tele có khẩu độ mở lớn (f-number nhỏ) đòi hỏi kỹ thuật cao, nên các ống kính này rất đắt)
Trang 24Các ống kính có khả năng thay đổi tiêu cự gần xa được gọi là các ống zoom Các ống chỉ có một tiêu cự duy nhất gọi là ống cố định (fixed lens / prime lens) Các chỉ số này thường được ghi trên trên ống kính hoặc trên thân máy (máy liền ống kính) với chỉ số tiêu cự nhỏ nhất tới lớn nhất kèm ký hiệu X (đọc là nhân), ví dụ 17-50mm, 18-135mm hay 12x Ghi chú: Thuật ngữ tiếng Việt “phóng” và “cố định” ở đây chỉ được dùng để giải thích; trên thực tế ở Việt Nam, người chơi ảnh thường sử dụng thuật ngữ vay mượn trong tiếng Anh và gọi là ống zoom (đọc là dum) và ống fixed (đọc là phích)
7 Tỷ lệ phóng quang học và kỹ thuật số (optical zoom & digital zoom)
Tỷ lệ phóng quang học (optical zoom) là khả năng phóng to hay thu nhỏ hình ảnh đối tượng được chụp ở cùng một khoảng cách từ máy ảnh tới đối tượng trên ảnh chụp được tạo ra qua điều chỉnh ống kính (hệ thống thấu kính bên trong ống kính) Đối với các máy ảnh số, việc phóng to thu nhỏ này còn có thể được thực hiện bằng cách sử dụng tính năng zoom kỹ thuật số (digital zoom) để phóng to một phần hình ảnh thu nhận được qua ống kính sao cho bằng với kích thước toàn bộ của khuôn hình Tưởng tượng đơn giản, bạn có một hình to bằng khổ giấy A4, bạn cắt lấy một góc phần tư của ảnh và đem ra hàng photocopy phóng to lên gấp 4 lần sẽ được một hình to bằng khổ giấy A4 với những chi tiết đã chọn to hơn trước gấp 4 lần Việc phóng to như vậy thường làm giảm chi tiết và chất lượng của ảnh Việc làm này cũng có thể thực hiện trên máy tính mà không cần tính năng zoom số của máy ảnh
Vì vậy, khi mua máy ảnh, người ta thường quan tâm tới tỷ lệ phóng to quang học hơn là phóng to kỹ thuật số Ghi chú: Cũng như trên, các thuật ngữ phóng to thu nhỏ
ở đây được dùng chủ yếu để giải thích, trên thực tế ở Việt Nam, phần lớn mọi người đều sử dụng từ vay mượn là “zoom” với các cách nói như “dum” ra, “dum” vào hay
“dum” to, “dum” nhỏ
8 Chế độ căn nét (focus mode)
Chế độ điều chỉnh ống kinh để căn nét cho hình ảnh Thông thường có hai loại
là căn nét thủ công bằng tay (manual focus) hoặc căn nét tự động (auto focus) Ở chế
Trang 25độ căn nét tự động, nhiều hãng máy ảnh còn phân biệt giữa căn nét cho các vật đứng
im và các vật chuyển động
9 Chiều sâu ảnh trường (depth of field – DOF)
Đối với một số trường hợp, do sử dụng ống kính hay khoảng cách giữa các đối tượng được chụp, khi căn nét một đối tượng thì các đối tượng khác ở trước và sau đối tượng căn nét bị nhòe đi, những trường hợp như vậy sẽ cho hình ảnh gọi là nông về chiều sâu của ảnh; trong những trường hợp khác, các đối tượng trước và sau đối tượng được căn nét vẫn tương đối nét hoặc thậm chí có độ nét ngang bằng với đối tượng căn nét Trong các trường hợp trình bày sau này, ảnh có chiều sâu lớn hơn Hiệu ứng này được tạo ra bởi nhiều yếu tố khác nhau bao gồm tiêu cự (focal lengh), khẩu độ mở ống kính (f-number), cự ly chụp (khoảng cách từ máy ảnh tới đối tượng chụp) Khẩu độ mở càng lớn, tiêu cự càng dài và cự ly chụp càng ngắn thì chiều sâu của ảnh càng giảm, và ngược lại So với ống kính tiêu chuẩn (normal lens), ống góc rộng cho chiều sâu ảnh lớn hơn nếu đặt ở khẩu độ mở (f-number) như nhau, còn các ống tele sẽ cho chiều sâu nông hơn
Đây là một khái niệm quan trọng trong nhiếp ảnh, nhất là trong việc tạo tính nghệ thuật cho một bức ảnh Một cách đơn giản hơn để hiểu khái niệm này là khoảng cách giữa các đối tượng (đối tượng lấy nét, đối tượng trước và sau đối tượng lấy nét)
có độ nét chấp nhận được trong một bức ảnh Khoảng cách này càng xa thì ảnh càng
có chiều sâu Ảnh phong cảnh thường có chiều sâu lớn để mọi vật đều nét (nhìn rõ chi tiết), ảnh chân dung thường có chiều sâu nông để người xem tập trung vào người được chụp (hay khuôn mặt) hơn là các cảnh vật xung quanh (thường nhòe đi để không gây chú ý cho người xem)
10 Bô-kê (bokeh / boke)
Bô-kê là một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Nhật có nghĩa là “nhòa mờ” (blur), được sử dụng trong nhiếp ảnh ngày nay để mô tả hiện tượng nhòa mờ nhưng mịn của vùng xung quanh điểm được căn nét trong khuôn hình một bức ảnh có chiều sâu ảnh trường nông do hiệu ứng của ống kính tạo ra Bô-kê tạo cho người xem cảm giác mịn màng dễ chịu ở vùng xung quanh điểm lấy nét và thường được sử dụng để
Trang 26tạo tính nghệ thuật trong nhiếp ảnh Đây là khái niệm khó đo lường và thường được đánh giá bằng mắt thường Chất lượng bô-kê có thể được đánh giá bằng các vòng tròn ánh sáng nhòa mờ, mịn và phân bố ánh sáng đều (hơn là chỉ tập trung sáng ở đường viền của mỗi hình tròn) xung quanh các điểm sáng ngoài vùng nét trong bức ảnh Các ống kính có nhiều mảnh thép tạo lỗ lọt sáng (apature) hoặc các mảnh này cắt cong sẽ tạo được hiệu ứng các hình tròn mờ mịn tốt hơn và cho chất lượng bô-
kê đẹp hơn Các ống kính có khẩu độ mở lớn hơn (f-number nhỏ hơn) có khả năng giảm chiều sâu và tạo bô-kê đẹp hơn
Câu hỏi bài tập
1 Hãy trình bày được lịch sử nhiếp ảnh?
2 Hãy phân loại các loại máy ảnh?
3 Hãy trình bày các thuật ngữ thường dùng?
Trang 27CHƯƠNG 2 ỐNG KÍNH MÁY ẢNH Mục tiêu:
- Trình bày được cấu tạo ống kính máy ảnh
- Phân loại được các ống kính
- Thực hiện được tháo lắp, ráp ống kính
Nội dung chương:
I Khái niệm
Ống kính máy ảnh hay còn gọi là Lens được xem như là một bộ phận không thể thiếu của chiếc máy ảnh, còn được xem như là “con mắt” của chiếc máy ảnh hiện nay Cơ chế hoạt động của nó là khi các tia sáng phải được đi qua ống kính trước khi chiếu lên kính ngắm máy ảnh, bề mặt tấm phim (của máy chụp phim) hay cảm biến để tạo nên hình ảnh Chất lượng của tia sáng và lượng sáng qua ống kính sẽ quyết định toàn bộ đến chất lượng của hình ảnh
Vì vậy, ống kính có một vai trò hết sức quan trọng trong việc xử lý hình ảnh cũng như tạo nên một tấm ảnh vô cùng đẹp Tuy thế, không phải ai mới tiếp xúc với máy ảnh cũng có thể hiểu rõ hết được các loại Lens cũng như công dụng của chúng
II Cấu tạo
Cấu tạo của một máy ảnh
Trang 28III Phân loại
1 Ống kính zoom (Lens zoom)
Ống kính zoom là loại ống kính có thể phóng to để hình ảnh trở nên lớn hơn Ống kính zoom được cấu tạo từ nhiều bộ thấu kính ghép lại với nhau và có khả năng thay đổi tiêu cự, ngược lại với loại ống kính fixed (hay prime) là loại ống kính có tiêu cự cố định
Ống kính zoom có thể thay đổi tiêu cự bằng các nút chức năng hoặc ở một số máy ảnh bạn xoay chuyển vòng cao su trên thân ống kính để thay đổi tiêu cự
Những ống kính có khả năng zoom thường được phân biệt bằng 2 chỉ số tiêu
cự (đơn vị tính bằng mm) in trên thân ống hoặc trong tên gọi sản phẩm Ví dụ: Canon EF-S 55-250mm/f4-5.6 IS, Nikkor AF-S 70-300mm/f4.5-5.6G VR,
Với lens zoom, người chụp có thể zoom ở nhiều dải tiêu cự từ 18 đến 300mm Một chiếc lens zoom phổ biến như Canon EF 24-70mm f 2.8 L có thể đáp ứng được các nhu cầu thông thường như chụp ảnh phong cảnh, chân dung, thể thao hay tĩnh vật
Ngoài việc ứng dụng trong chụp ảnh, ống kính zoom còn được dùng như một kính viễn vọng có thể thay đổi độ phóng đại, hay dùng để phát tia laser có thể thay đổi khoảng cách xa gần trên một diện tích
Trang 292 Ống kính góc rộng (wide-angle lens)
Thông thường tiêu cự của ống kính tiêu chuẩn là 50mm, đây là tiêu cự cho góc ảnh giống nhất với khả năng thu nhận không gian hình ảnh của mắt con người Ống kính được gọi là ống kính góc rộng khi có chiều dài tiêu cự nhỏ hơn so với tiêu
cự chuẩn 50mm
Lens góc rộng có khả năng mở rộng góc nhìn cho hình ảnh bao quát cả không gian lớn trong một bức tranh Loại ống kính này rất phù hợp để chụp phong cảnh, ảnh nội thất, bạn không cần phải di chuyển nhưng vẫn có một cái nhìn toàn cảnh trong tấm hình
Ngoài ra ống kính này còn dùng để nhấn mạnh sự khác biệt về khoảng cách giữa chủ thể với hậu cảnh, vì đối tượng chụp càng gần máy sẽ có kích thước càng lớn ngược lại
Các lens góc rộng được chia làm 3 loại chính: Góc rộng, góc siêu rộng và góc cực siêu rộng Ống kính góc rộng cũng có dạng tiêu cự cố định và loại zoom có thể thay đổi chiều dài tiêu cự
3 Ống kính Prime (Lens Prime hay Lens Fixed)
Ống kính prime là loại ống kính có tiêu cự cố định không thay đổi được Điều này có nghĩa là nếu bạn muốn chụp xa hoặc gần chủ thể bạn bắt buộc phải di chuyển
Vì vậy loại ống kính này ít được sử dụng so với ống kính zoom và thường dùng để chụp tĩnh vật hoặc chân dung
Trang 30Ống kính prime có đặc điểm giá rẻ hơn ống kính zoom, chất lượng quang học tốt, gọn nhẹ hơn, và dải tiêu cự thường thấy ở lens prime cố định ở các mức như 20mm, 24mm, 28mm, 35mm, 50mm, 85mm, 105mm, 200mm, 300mm, 400mm, 600mm,…
IV Vùng ảnh rõ
Khi chúng ta nhìn xung quanh- quyển sách cầm ở trên tay, cái ghế trong phòng hay bất cứ vật thể nào đều sắc nét Chúng ta có được khả năng này do mắt người luôn tự động chỉnh tiêu cự (điều chỉnh thấu kính trong mắt) mỗi khi chúng ta “nhìn” làm ảnh của chủ đề luôn hiện lên võng mạc
Tuy nhiên hình ảnh chúng ta thu được khi chụp không phải lúc nào cũng giống với hình ảnh chúng ta nhìn thấy Để hiểu rõ điều này chúng ta cần hiểu về hệ thống canh nét của máy ảnh và khái niệm vùng ảnh rõ Khi chụp ảnh bạn đã xác định chủ đề cần chụp (Chẳng hạn như anh chàng bán xăng ), sau đó điều chỉnh lấy nét (canh nét) - đây lại là yếu tố sống còn quyết định vùng nào trên hình ảnh sẽ sắc nét nhất- vùng này thường được gọi là mặt phẳng rõ nét (plane of critical focus) - thực chất là điều chỉnh thấu kính trong ống kính để chủ đề hiện lên mặt film mà thôi
Trang 31Khoảng không gian từ A đến C được gọi là vùng ảnh rõ, B là mặt phẳng rõ nét
V Kỹ thuật tháo, ráp ống kính
Hướng dẫn cách tháo lens máy ảnh Canon
Lưu ý môi trường xung quanh khi thay ống kính
Khi tách ống kính ra khỏi thân máy ảnh Canon sẽ nhìn thấy các linh kiện ở trong Chú ý là phần cảm biến hình ảnh sẽ dễ dàng ra không khí bên ngoài và tiếp xúc với các tác nhân xấu như bụi bẩn, hạt cát Do đó, hãy ghi nhớ khi cách tháo lắp lens Canon là bạn nên thay ống kính khi đang ở môi trường sạch sẽ
Cách lắp và vị trí lắp ống kính đúng
Hiện nay, hầu hết các ống kính Canon hiện đại đều có một chấm đỏ ở trên thân ống kính Bạn cần đọc kỹ các hướng dẫn sử dụng để hiểu rõ hơn về thứ tự lắp đặt Tiếp theo bạn để sao cho chấm đỏ trên ống kính phải thẳng hàng với chấm đỏ trên thân máy Sau đó bạn hãy lắp ống kính vào khung là hoàn thành
Trang 32Đừng mạnh tay khi lắp ống kính
Bạn cũng không nên mạnh tay khi lắp ống kính Nếu quá trình thực hiện bạn thấy khó khăn quá và phải dùng lực thì hãy xem vị trí của các chấm biểu thị và kiểm
tra tất cả đã thẳng hàng chưa
Xoay ống kính đúng chiều để khóa vị trí cho chuẩn
Đây là thao tác rất quan trọng khi thay để chắc chắn sự an toàn cho cả ống kính và phần thân máy Hãy xoay ống kính theo đúng chiều kim đồng hồ để khóa vị trí chính xác Khi bạn nghe thấy tiếng cạch bé thì hãy yên tâm vì chứng tỏ vị trí khóa
đã đúng
Dùng lực vừa phải khi khóa ống kính
Lực tay bạn cần điều chỉnh vừa phải để không làm thân máy hay lens hư hỏng
gì Các loại máy ảnh chất lượng đều có cấu trúc ren vặn hỗ trợ cho người chụp có thể thuận tiện thay các ống kính khác
Nhấn nút để tháo ống kính một cách nhanh chóng
Phía bên trái máy ảnh có một nút bấm nhỏ để tháo ống kính, bạn hãy nhấn nút rồi vặn ngược lại chiều kim đồng hồ để chia lens với thân máy ra Hãy thực hiện việc này nhanh chóng để tránh bụi bẩn xâm nhập vào trong máy
Chọn ống kính thích hợp với máy
Trang 33Chú ý là thân máy và ống kính chỉ được gắn với nhau theo một cách duy nhất
Vì vậy hãy cân nhắc kỹ càng cách chọn lens Canon phù hợp với dòng máy ảnh chuyên nghiệp này
Cất nắp đậy ống kính ở nơi an toàn
Đây là phụ kiện vô cùng quan trọng đi cùng với máy ảnh có chức năng giúp máy không bị tác động bởi các yếu tố như bụi, hơi nước,…Vì thế, bạn hãy nhớ để nắp đậy này vào vị trí cố định và tránh rơi gãy nhé
Câu hỏi ôn tập
1 Hãy trình bày cấu tạo ống kính máy ảnh?
2 Hãy phân loại các loại ống kính?
3.Hãy trình bài cách thực hiện được tháo lắp, ráp ống kính?
Trang 34CHƯƠNG 3 SỬ DỤNG MÁY ẢNH
Mục tiêu:
- Trình bày được các thông số cơ bản
- Trình bày được các chế độ chụp ảnh
- Hiệu chỉnh được các thông số cơ bản
Nội dung chương:
I Hiệu chỉnh các thông số cơ bản, ISO, khẩu độ, tốc độ,WB, Image quality, Picture Style
Đơn vị tính độ nhạy của phim hay của bộ cảm biến nhận ánh sáng ở máy ảnh
số do Tổ chức tiêu chuẩn thế giới qui chuẩn Độ nhạy ISO ở các máy ảnh số thường được tính từ 80 tới 25000 và càng ngày càng cao hơn Đối với phim nhựa truyền thống, độ nhạy được qui định ở loại phim, ví dụ phim ISO100, ISO400; đối với máy ảnh số, có thể thay đổi ISO thông qua chức năng điều chỉnh ISO trên máy Máy ảnh loại tốt cho phép điều chỉnh ISO cao hơn Độ nhạy ISO càng lớn cho phép giảm thời gian lộ sáng (phơi sáng) – tức là tăng tốc độ cửa chập (shutter speed) Tuy nhiên, ISO càng lớn thường làm cho ảnh càng bị nhiễu (noise) nhiều hơn, khi phóng to bị rạn và sần Trong điều kiện ảnh sáng tốt, nên để ISO thấp nhất có thể
Trang 352 Ch ế Độ Chụp – Av
Chế độ chụp Ưu tiên độ mở ống kính (Aperture Priority)
Ở chế độ chụp này, ngoại trừ việc kiếm soát các thiết lập ISO, Metering mode, EV,… như trên, người dùng còn được phép kiểm soát độ mở ống kính thông qua phím xoay điều khiển trên máy Máy sẽ dựa trên các thiết lập của người dùng để đưa
ra tốc độ chụp thích hợp
Chế độ chụp Ưu tiên khẩu độ thích hợp nhất đối với các thể loại ảnh chụp mà người dùng cần kiểm soát DOF, hay nói nôm na là khống chế hậu cảnh như ảnh chân dung hoặc tĩnh vật