1. Trang chủ
  2. » Tất cả

(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa

206 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Đầu Tư Của Các Doanh Nghiệp Vào Khu Kinh Tế Trường Hợp Khu Kinh Tế Nghi Sơn, Thanh Hóa
Tác giả Lê Thị Lan
Người hướng dẫn GS.TS Nguyễn Thành Độ, PGS. TS Lê Quang Cảnh
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 3,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP VÀO KHU KINH TẾ (17)
    • 1.1 Tổng quan về Khu kinh tế (17)
      • 1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của Khu kinh tế (17)
      • 1.1.2 Các mô hình khu kinh tế (19)
      • 1.1.3 Vai trò của Khu kinh tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội (25)
    • 1.2 Tổng quan về quyết định đầu tư vào khu kinh tế (27)
      • 1.2.1 Đầu tư và quyết định đầu tư vào KKT (27)
      • 1.2.2 Lý thuyết quyết định đầu tư (28)
    • 1.3 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào khu kinh tế (35)
      • 1.3.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài (35)
      • 1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam (37)
    • 1.4 Tổng quan kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào khu kinh tế (40)
  • CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (46)
    • 2.1 Quy trình nghiên cứu (46)
    • 2.2 Nghiên cứu định tính (48)
      • 2.2.1 Đối với nhóm chuyên gia (48)
      • 2.2.2 Đối với các doanh nghiệp (49)
    • 2.3 Nghiên cứu định lượng (50)
      • 2.3.1 Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào KKT (50)
      • 2.3.2 Xây dựng phiếu khảo sát (55)
      • 2.3.3 Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu (64)
      • 2.3.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu (70)
      • 2.3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu (73)
    • 3.1 Sự hình thành và phát triển của các KKT Việt Nam (81)
      • 3.1.1 Sự hình thành của các KKT Việt Nam (81)
      • 3.1.2 Tình hình đầu tư cơ sở hạ tầng cho các KKT Việt Nam (83)
      • 3.1.3 Tình hình thu hút đầu tư của các KKT Việt Nam (85)
      • 3.1.4 Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong KKT Việt Nam (89)
    • 3.2 Kết quả nghiên cứu thống kê mô tả các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định đầu tư vào KKT Nghi Sơn (92)
      • 3.2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (92)
      • 3.2.2 Phân tích thực trạng các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào KKT (96)
    • 3.3 Kết quả thực nghiệm ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào KKT (111)
      • 3.3.1 Mẫu nghiên cứu (111)
      • 3.3.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha (116)
      • 3.3.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) (119)
      • 3.3.4 Kết quả kiểm định giả thuyết (122)
    • 3.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu (131)
      • 3.4.1 Ảnh hưởng của các nhân tố bên trong doanh nghiệp đến quyết định đầu t ư vào KKT (131)
      • 3.4.2 Ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp đến quyết định đầu tư vào KKT (132)
  • CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ VÀO (81)
    • 4.1 Định hướng và mục tiêu phát triển của KKT Việt Nam (140)
      • 4.1.1 Định hướng phát triển các KKT của Việt Nam (140)
      • 4.1.2 Mục tiêu phát triển của Khu kinh tế Nghi Sơn (143)
    • 4.2 Một số giải pháp nhằm thu hút doanh nghiệp đầu tư vào KKT Việt Nam (146)
      • 4.2.1 Giải pháp đối với các doanh nghiệp trong KKT (146)
      • 4.2.2 Nhóm giải pháp đối với ban quản lý các KKT (151)
    • 4.3 Những hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu tiếp theo (165)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (171)

Nội dung

(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế Trường hợp khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP VÀO KHU KINH TẾ

Tổng quan về Khu kinh tế

1.1.1 Khái ni ệ m và đặ c tr ư ng c ủ a Khu kinh t ế

Khu kinh tế có nhiều tên gọi như khu đặc khu kinh tế (special economic zones - SEZ), khu kinh tế mở (Open economic zones - EZ), khu thương mại tự do (Free trade zones - FTZ) và khu kinh tế tự do hay đơn giản là khu tự do; thậm chí có những khu không mang tên gọi chính thức vẫn hoạt động như khu kinh tế tự do Dù theo tên gọi nào, mục tiêu của các khu kinh tế là tăng cường thu hút đầu tư trong và ngoài nước bằng các biện pháp khuyến khích đặc biệt (Chikatisrinu, 2013) Bản chất của khu kinh tế là một hình thức kinh tế mà ở đó Nhà nước áp dụng các thiết chế đặc biệt tùy theo mối quan tâm và khả năng nhằm theo đuổi các mục tiêu nhất định.

Đặc khu kinh tế (SEZ) là một khu đất được hợp pháp hóa bởi các luật thương mại riêng biệt như thuế quan, hạn ngạch hoặc các nghĩa vụ khác so với phần còn lại của đất nước, theo định nghĩa của Tổ chức Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO, 2015, tr12) Điều này cho thấy SEZ là một khung pháp lý đặc thù cho một khu vực nhằm điều chỉnh hoạt động kinh tế và thương mại ở mức độ khác biệt so với phần còn lại của quốc gia.

Theo quan điểm của đơn vị tư vấn môi trường đầu tư của Ngân hàng Thế giới (FIAS, 2008, tr11), đặc khu kinh tế nói chung được định nghĩa là một khu vực địa lý phân biệt, được quản lý bởi một cơ thể duy nhất, nhằm cung cấp cho các doanh nghiệp trong khu những ưu đãi nhất định, thường là miễn thuế nhập khẩu và sắp xếp hợp lý các thủ tục hải quan.

Trên thực tế hoạt động của các khu kinh tế ở Ấn Độ, Chikatisrinu (2013, tr86) đã đề cập khái niệm ngắn gọn: khu kinh tế là một khu vực địa lý có luật lệ kinh tế được nới rộng tự do so với hệ thống pháp luật chung của quốc gia Khái niệm này làm nổi bật đặc điểm của khu kinh tế như sự nới lỏng các quy định kinh tế nhằm thu hút đầu tư, thúc đẩy thương mại và tạo thuận lợi cho phát triển khu vực Việc nhận diện và phân tích KKT giúp đánh giá tác động của mô hình khu vực đặc thù này đối với chiến lược phát triển kinh tế tổng thể của một quốc gia, đặc biệt là ở Ấn Độ.

Một nghiên cứu trước đây của Amado (1989) về các khu kinh tế trên thế giới đã xây dựng khái niệm KKT hiện đại dựa trên sự phát triển của các khu thương mại tự do (Free Trade Zones) Theo đó, KKT được xem là một mô hình sản xuất tích hợp với các kỹ thuật công nghiệp, đồng thời cung cấp cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất nhằm thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài.

Mô hình Khu kinh tế (KKT) là nền tảng để thử nghiệm các cơ chế chính sách mới nhằm hoàn thiện môi trường đầu tư ở nhiều nước trên thế giới KKT được xem là công cụ phát triển năng lực thương mại và là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh thông qua các ưu đãi về thuế và hoạt động kinh doanh để thu hút đầu tư và công nghệ nước ngoài, theo UNIDO (2015) ở nhiều quốc gia khác nhau Dù mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng, các KKT đều chia sẻ các đặc điểm chung nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư và thương mại.

Cơ sở hạ tầng công cộng và cơ sở vật chất hiện đại, gồm các tiện ích kết nối và hệ thống đường rộng mở, được đầu tư đồng bộ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư và mở rộng hoạt động Nhờ các yếu tố này, đầu tư từ doanh nghiệp được khuyến khích mạnh mẽ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng hạ tầng cho cộng đồng.

Có phạm vi địa lý xác định;

Có các ưu đãi hoặc hỗ trợ tài chính nhằm khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp;

Có cơ chế quản lý riêng cho khu do chính phủ sở hữu hoặc thuê của chính phủ

Từ nghiên cứu hoạt động thực tế của các KKT trên thế giới, FIAS (2008) cũng cho rằng để thành công các KKT phải đảm bảo các nguyên tắc:

- Các doanh nghiệp hoạt động trong KKT theo một cơ chế khác với phần còn lại của quốc gia

- Chế độ hoạt động của KKT được đảm bảo linh hoạt nhằm thúc đẩy các hoạt động thương mại cũng như các hoạt động sản xuất

- Các KKT sẽ thúc đẩy phát triển tư nhân hơn chứ không phải là khu vực kinh tế nhà nước

- Xây dựng một khuôn khổ pháp lý, quy định và thể chế phù hợp để đảm bảo quy định và thuận lợi đầy đủ

Theo quan điểm của tác giả, khu kinh tế là một không gian kinh tế riêng biệt với phần còn lại của quốc gia, có cơ sở hạ tầng và các cơ chế quản lý thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp Ở Việt Nam, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP quy định khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ.

Khu kinh tế ở Việt Nam là một khu vực có không gian kinh tế riêng biệt, với môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi và bình đẳng, đồng thời có các công trình hạ tầng công nghiệp và hạ tầng xã hội hiện đại Các khu kinh tế được hưởng các chính sách ưu đãi, khuyến khích và cơ chế quản lý thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài Theo quy định của Chính phủ Việt Nam, một khu kinh tế phải có diện tích tối thiểu là 10.000 ha (100 km²).

Bảng 1.1: So sánh KKT Việt Nam với các đặc khu kinh tế của thế giới Tiêu thức Special economic zones –SEZ

Khu kinh tế Việt Nam (theo Chính phủ, 2008) Không gian Phạm vi địa lý xác định Phạm vi địa lý xác định với không gian kinh tế riêng biệt

Đầu tư vào hạ tầng và cơ sở vật chất hiện đại là nền tảng để khuyến khích đầu tư của các doanh nghiệp Hệ thống cơ sở hạ tầng công cộng và các tiện ích kết nối cùng mạng lưới đường sá được nâng cấp đồng bộ, giúp tối ưu hóa kết nối, rút ngắn thời gian di chuyển và tăng cường năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Nhờ môi trường hạ tầng bài bản, đầu tư từ các doanh nghiệp được kích thích, thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương.

Cơ sở hạ tầng hiện đại

Có các ưu đãi hoặc hỗ trợ tài chính nhằm khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp

Chế độ ưu đãi cao nhất trong khung ưu đãi để khuyến khích đầu tư

Có cơ chế quản lý riêng cho khu do chính phủ sở hữu hoặc thuê của chính phủ

Ở Việt Nam, các Khu kinh tế (KKT) được quản lý bởi một Ban quản lý KKT riêng và chịu sự quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với chính quyền địa phương Theo tác giả tổng hợp, về cơ bản các KKT ở Việt Nam có những đặc trưng tương đồng với KKT trên thế giới Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng của các KKT còn đang trong quá trình xây dựng và vẫn tồn tại nhiều hạn chế Bên cạnh đó, Việt Nam chưa thực sự có một đặc khu kinh tế đúng nghĩa với cơ chế quản lý riêng, mà vẫn chịu sự quản lý của các cấp quản lý khác nhau Nguồn: Tác giả tổng hợp.

1.1.2 Các mô hình khu kinh t ế

Các khu vực lãnh thổ kinh tế (Economic Zone - EZ) là một khu vực địa lý được thiết kế để cung cấp lợi thế phi tiền tệ và/hoặc tiền tệ cho các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho một quốc gia, một khu vực hoặc một khu đô thị.

Theo UNIDO (Tổ chức Công nghiệp Liên hiệp Quốc), có 5 loại hình khu vực kinh tế (EZ) được xếp theo trình tự phát triển từ cơ bản đến nâng cao: đầu tiên là khu công nghiệp, nơi tập trung hoạt động sản xuất và gia công; thứ hai là khu chế xuất để thu hút đầu tư và xuất khẩu; thứ ba là khu kinh tế (thường được thể hiện qua các khu kinh tế đặc biệt hoặc khu kinh tế mở rộng với cơ chế ưu đãi); thứ tư là khu công nghệ cao, tập trung vào đổi mới sáng tạo và nghiên cứu, phát triển công nghệ; và cuối cùng là khu vực kinh tế cửa khẩu hoặc khu kinh tế liên vùng nhằm thúc đẩy thương mại và liên kết khu vực.

(IP), đặc khu kinh tế (SEZ), Công viên sinh thái công nghiệp (EIP), Khu Công nghệ

(TP), và Đô thị đổi mới (ID) Như vậy mô hình đặc khu kinh tế là giai đoạn phát triển thứ 2 của các loại lãnh thổ kinh tế

Các giai đoạn phát triển của

Hình 1.1: Các giai đoạn phát triển của KKT

Đặc khu kinh tế (SEZ) là thuật ngữ chung để chỉ các khu vực được hưởng ưu đãi nhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư, bao gồm khu thương mại tự do (FTZ), khu chế xuất (EPZ) và cảng tự do (FPS) Theo UNIDO (2015), các mô hình SEZ được thiết kế để tối ưu hoá điều kiện kinh doanh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, cải thiện hạ tầng và đơn giản hoá thủ tục, từ đó nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng và khả năng cạnh tranh quốc tế Các hình thức FTZ, EPZ và FPS đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và mở rộng cơ hội xuất khẩu, đồng thời thúc đẩy phát triển khu vực công nghiệp và thương mại Nguồn: UNIDO, 2015.

Đặc khu kinh tế (Special Economic Zone - SEZ) là khu vực địa lý được hợp pháp hóa bằng các công cụ luật thương mại như thuế quan, hạn ngạch và các nghĩa vụ khác so với phần còn lại của đất nước (UNIDO, 2015).

Tổng quan về quyết định đầu tư vào khu kinh tế

1.2.1 Đầ u t ư và quy ế t đị nh đầ u t ư vào KKT

Có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư Theo Sharpe và các cộng sự (1999), Đầu tư là hy sinh giá trị chắc chắn có ở hiện tại để đạt được giá trị (có thể không chắc chắn) trong tương lai Ở góc độ kinh tế, Đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một thời gian xác định nhằm đạt được kết quả hoặc một tập hợp mục tiêu xác định trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định (Từ Quang Phương, 2013) Như vậy, dù theo quan điểm nào, hoạt động đầu tư cũng đồng nghĩa với việc hy sinh một số nguồn lực để kỳ vọng đạt được các kết quả mong muốn Vì vậy, quyết định đầu tư là một hoạt động quan trọng và không thể thiếu đối với các nhà quản trị.

Quyết định quản trị là hành vi sáng tạo của nhà quản trị nhằm định hình chương trình và tính chất hoạt động của tổ chức để giải quyết một vấn đề đã chín muồi Quá trình này dựa trên hiểu biết các quy luật vận động khách quan của hệ thống bị quản trị và việc phân tích các thông tin của hệ thống đó, theo Stoner và Wankel (1987).

Robbins và Coulter (1996) mô tả một quy trình ra quyết định gồm bảy bước nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bắt đầu bằng xác định vấn đề và kết thúc bằng đánh giá hiệu quả của quyết định Theo đó, tiến trình gồm: (i) xác định vấn đề, (ii) thiết lập các tiêu chuẩn quyết định, (iii) lượng hóa các tiêu chuẩn, (iv) xây dựng các phương án, (v) đánh giá và lựa chọn phương án tối ưu, (vi) tổ chức thực hiện phương án và (vii) đánh giá kết quả để điều chỉnh khi cần.

Quyết định đầu tư của doanh nghiệp là quyết định sử dụng vốn và các nguồn lực khác nhằm tăng thêm tài sản mới, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao đời sống của các thành viên trong doanh nghiệp Đầu tư vào KKT (Khu kinh tế) được xem là quyết định chọn địa điểm đầu tư và mang tính chiến lược, là bước ngoặt quan trọng trong chiến lược doanh nghiệp; từ góc độ marketing, quyết định chọn địa điểm được xem như một quyết định mua hàng đặc biệt Theo Kostecki (1997), quá trình ra quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư gồm bảy giai đoạn: nhận biết vấn đề, thành lập nhóm công tác chịu trách nhiệm quản lý và điều hành dự án, xác định và làm rõ vai trò của các nhà tư vấn, xác định và phân tích các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến dự án, lập danh sách các địa điểm tiềm năng, khảo sát các địa điểm và đàm phán, và lựa chọn cuối cùng.

Bảng 1.4: So sánh các bước ra quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư với quyết định lựa chọn hàng hóa

Thứ tự Ra quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư

Ra quyết định lựa chọn hàng hóa

(Kotler, 2002) Bước 1 Nhận biết vấn đề và hình thành ban quản lý dự án đầu tư

Trong quy trình mua sắm, bước 2 tập trung xác định và làm rõ các đặc điểm của yêu cầu đồng thời thiết lập các tiêu chuẩn kỹ thuật để đảm bảo chất lượng và tính phù hợp; bước 3 xây dựng danh sách một số địa điểm tiềm năng và lựa chọn các phương án mua hàng tối ưu dựa trên chi phí, chất lượng và thời gian giao hàng; bước 4 tiến hành tham quan, khảo sát các địa điểm, tổ chức đàm phán và đánh giá các phương án nhằm đưa ra quyết định mua sắm hiệu quả.

Bước 5 Lựa chọn địa điểm đầu tư Lựa chọn nhà cung cấp

Bước 6 Xây dựng và triển khai dự án đầu tư Quyết định mua

Bước 7 Những phản ứng sau quyết định lựa chọn địa điểm để triểnkhai dự án đầu tư

Những phản ứng sau mua

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Xét từ góc độ marketing, nhà đầu tư được xem như khách hàng của địa phương, vì vậy hiểu rõ quá trình ra quyết định đầu tư giúp các nhà lãnh đạo và người hoạch định chính sách thiết kế các chính sách và hoạt động phù hợp Điều này cho phép tác động có chủ đích đến hành vi và quyết định đầu tư của các doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương Bằng cách kết hợp phân tích thị trường, thông tin về hành vi nhà đầu tư và các công cụ ưu đãi, môi trường kinh doanh thuận lợi và sự đồng bộ giữa chính sách công và hỗ trợ vốn sẽ nâng cao sức hấp dẫn của địa phương đối với các doanh nghiệp.

1.2.2 Lý thuy ế t quy ế t đị nh đầ u t ư

1.2.2.1 Lý thuyết chiết trung – Mô hình OLI ( OLI paradigm or Eclectic Theory)

John Dunning (1997), giáo sư danh dự tại Đại học Reading (Anh) và Đại học Rutgers (Mỹ), đã phát triển lý thuyết chiết trung hay còn gọi là mô hình OLI Theo lý thuyết này, có 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư nước ngoài: (i) Lợi thế sở hữu (Ownership advantages – O), gồm tài sản và chi phí giao dịch; (ii) Lợi thế về khu vực (Locational advantages – L), gồm tài nguyên thiên nhiên, tốc độ tăng trưởng của thị trường, hệ thống cơ sở hạ tầng và các chính sách của Chính phủ; (iii) Lợi thế nội hoá (Internalisation advantages – I), gồm các lợi thế về chi phí giao dịch, khả năng kiểm soát thông tin và lợi thế về chi phí thực hiện các bản quyền phát minh, sáng chế Dunning (1997) xác nhận lý thuyết này dựa trên dữ liệu từ các công ty Mỹ hoạt động trong 14 ngành công nghiệp ở 7 quốc gia khác nhau.

Phát triển trên cơ sở lý thuyết của Dunning (1997), Gilomre, Donnel, và Cummins (2003) cho rằng các nhân tố sau ảnh hưởng đến sự lựa chọn thị trường đầu tư:

Kiến thức và kinh nghiệm về các thị trường giúp doanh nghiệp nhận diện cơ hội và rủi ro cho một vị trí đầu tư nhất định Càng có nhiều thông tin và hiểu biết về thị trường mục tiêu, công ty càng có khả năng đưa ra quyết định đầu tư chính xác và tối ưu hóa nguồn lực tại vị trí đó Nhờ hiểu biết sâu sắc về đặc thù thị trường, doanh nghiệp có thể giảm thiểu chi phí nghiên cứu thị trường và giảm sự bất định của các hoạt động đầu tư khi mở rộng vào thị trường mới.

Trong phân tích kích thước và tăng trưởng thị trường, Gilmore (2003) cho rằng các yếu tố quan trọng bao gồm sự gần gũi và tiếp cận thuận lợi với khu vực thương mại tự do, quy mô của thị trường nước ngoài và tiềm năng tăng trưởng của chúng Những yếu tố này xác định mức độ hấp dẫn của thị trường nước ngoài và hỗ trợ nhận diện cơ hội đầu tư cùng chiến lược thâm nhập thị trường hiệu quả.

Quan điểm của Chính phủ và các khuyến khích tài chính cho thấy khi nước chủ nhà tích cực thu hút đầu tư bằng các ưu đãi và cơ chế hỗ trợ, quốc gia, địa phương hoặc khu vực đó sẽ hấp dẫn hơn so với nơi mà nhà đầu tư phải mất nhiều thời gian và thủ tục để dự án đầu tư được phê duyệt Các chính sách như ưu đãi thuế, đơn giản hóa thủ tục, bảo đảm đầu tư và các chương trình hỗ trợ vốn có thể rút ngắn thời gian cấp phép, giảm chi phí và tăng khả năng sinh lợi cho dự án Do đó, mức độ chủ động của chính phủ và sự thuận lợi về tài chính đóng vai trò quyết định trong quyết định rót vốn và địa điểm đầu tư.

- Lạm phát, chính sách kinh tế, mức thuế suất và cơ cấu thuế - là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư

Trong quyết định đầu tư, ba chi phí chủ chốt mà công ty thường xem xét là giao thông vận tải, vật liệu và chi phí lao động Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến tổng chi phí sản xuất, thời gian hoàn vốn và khả năng cạnh tranh của dự án Giao thông vận tải tối ưu giúp giảm chi phí vận chuyển và rủi ro về giao nhận, trong khi chi phí vật liệu quyết định giá thành sản phẩm và biên lợi nhuận Chi phí lao động ảnh hưởng tới năng suất và hiệu quả hoạt động, do đó các doanh nghiệp cân nhắc kỹ địa điểm, mức lương và cơ cấu tổ chức khi đầu tư Việc phân tích ba yếu tố này ở giai đoạn lên kế hoạch giúp tối ưu hóa chi phí, cải thiện chu trình cung ứng và tăng cơ hội thành công của dự án đầu tư.

Tài nguyên đóng vai trò then chốt trong quyết định địa điểm của doanh nghiệp Sự sẵn có của các nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn lao động và nguyên liệu thô, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, khả năng duy trì chuỗi cung ứng và sự ổn định hoạt động Do đó, khi xác định vị trí, các công ty cần cân nhắc kỹ lưỡng mức độ phong phú của nguồn lực tại từng khu vực, chi phí nhân công, cơ sở hạ tầng và tiềm năng thị trường nhằm tối ưu hóa hiệu quả vận hành và lợi thế cạnh tranh.

- Công nghệ - Công nghệ được coi là một trong những nhân tố quan trọng nhất liên quan đến quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư

- Sự ổn định chính trị - một quốc gia với sự ổn định chính trị là rất hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài

Dựa trên mô hình OLI, Phùng Xuân Nhạ (2001) phân thành hai nhóm yếu tố kéo–đẩy trong đầu tư nước ngoài: nhóm Đẩy là các yếu tố từ môi trường của nước đầu tư như tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, sự biến động của chính sách vĩ mô và các hoạt động thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài của chính phủ; nhóm Kéo (thu hút) từ nước nhận đầu tư gồm tình hình chính trị, chính sách pháp luật, vị trí địa lý—điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế và các đặc điểm văn hóa xã hội Ngoài hai nhóm yếu tố này, quyết định đầu tư còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc môi trường chung được xem như dung môi hỗ trợ kết nối và tác động lên quyết định đầu tư giữa hai nước.

Hình 1.2: Mô hình các nhân tố kéo và đẩy trong đầu tư

Dựa trên mô hình OLI, nhiều nghiên cứu đã cụ thể hóa và vận dụng vào các trường hợp nghiên cứu địa phương, giúp giải thích vì sao nhà đầu tư nước ngoài chọn một thị trường hay quốc gia để đầu tư; tuy nhiên, các nghiên cứu này thường tập trung vào đầu tư nước ngoài ở cấp độ quốc gia và xem xét các yếu tố như tình hình chính trị, trình độ khoa học công nghệ Trong luận án này, tác giả kế thừa và vận dụng lý thuyết OLI trong điều kiện Việt Nam và phạm vi khu vực khu kinh tế, kế thừa các thang đo về chính sách ưu đãi của chính phủ, cơ sở hạ tầng, vị trí địa lý của khu kinh tế và nguồn nhân lực của địa phương để vận dụng vào khu kinh tế Việt Nam 2.2.1.2 Lý thuyết về thể chế và môi trường đầu tư sẽ được xem xét để làm rõ vai trò của thể chế đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam và khu kinh tế.

Thể chế gồm hai thành phần là thể chế chính thức và thể chế phi chính thức Thể chế chính thức là tập hợp các ràng buộc được thiết lập và thi hành bởi nhà nước, thể hiện qua hệ thống pháp lý gồm luật, hiến pháp, quy định và các cơ quan công quyền Thể chế phi chính thức là những chuẩn mực xã hội, tập quán và thói quen ứng xử giúp định hình hành vi mà không dựa trên văn bản pháp lý Cả hai loại thể chế cùng tác động lên cách ra quyết định, phân bổ nguồn lực và tổ chức xã hội, đồng thời ảnh hưởng đến mức độ ổn định, hiệu quả và khả năng thích ứng của một hệ thống Việc phân tích sự tương tác giữa thể chế chính thức và phi chính thức giúp giải thích tại sao cùng một khung pháp lý có thể cho kết quả khác nhau ở các bối cảnh khác nhau, từ đó hỗ trợ các chiến lược phát triển kinh tế và cải cách hành chính hiệu quả hơn.

Môi trường đầu tư quốc tế (Dung môi)

Môi trường đầu tư ở nước nhận đầu tư (các nhân tố kéo)

Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào khu kinh tế

Các khu kinh tế là công cụ hữu hiệu để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế của vùng lãnh thổ theo hướng xuất khẩu, là cầu nối ngắn nhất giữa thị trường nội địa và thị trường quốc tế, đồng thời khai thác tối đa lợi thế so sánh và tăng cường áp dụng công nghệ mới tại mỗi quốc gia Vì vậy, có nhiều nghiên cứu liên quan đến khu kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào khu kinh tế.

Cho đến nay, nghiên cứu của Amado D.J (1989) “Free Industrial Zones:

Nghiên cứu "Law and Industrial Development in the New International Division of Labor" được xem là một trong những công trình đầu tiên đề cập đến khu kinh tế (KKT) Ban đầu các KKT phát triển dưới mô hình cảng tự do và khu công nghiệp tự do với các chính sách thông thoáng hơn so với phần còn lại của đất nước Nghiên cứu chỉ ra rằng các mô hình phát triển ở giai đoạn đầu của KKT chủ yếu xuất hiện tại các nước thuộc khu vực châu Âu.

Một nghiên cứu do World Bank (Ngân hàng Thế giới) tài trợ năm 1992 mang tên 'Export Processing Zone – Industry and Development Division' đã phân tích tình hình hoạt động của các khu chế xuất và khu công nghiệp Nghiên cứu này đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của những khu vực này và cho rằng chúng là tiền đề cho sự hình thành của các khu kinh tế tự do sau này Kết quả cho thấy sự phát triển của khu chế xuất và khu công nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố và có vai trò then chốt trong quá trình xây dựng khu kinh tế tự do ở tương lai.

Nghiên cứu của P.Amitendu & S Bhattacharjee (2008) “Special Economic

Zones in India: Myths and Realities” lại tập trung vào nghiên cứu trường hợp các

Khu kinh tế Ấn Độ Nghiên cứu này cũng đánh giá về thực trạng hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng tới sự đầu tư của doanh nghiệp vào các KKT Ấn Độ Bên cạnh đánh giá những mặt tích cực “như truyền thuyết”, nghiên cứu này đã chỉ ra những

“sự thật” là mặt trái của sự phát triển của khu kinh tế như là sự ô nhiễm môi trường, sự mất đất nông nghiệp và các hệ lụy xã hội khác Cùng quan điểm này, Chikatisrinu (2013), trong nghiên cứu “Challenges and future of special economic zones in India – A perspective”, cũng đã đánh giá những thách thức trong tương lai của sự phát triển các KKT Ấn Độ Một nghiên cứu khác của Tarun Dhingra and Tripti Singh (2009) “Location statregy for competitiveness of special economics zone A generic framework for Indian” cũng nghiên cứu về các KKT Ấn Độ Trên cơ sở đánh sự phát triển của các KKT Ấn Độ, nghiên cứu này đề xuất các chiến lược để nâng cao năng lực cạnh cạnh tranh cho các KKT Ấn Độ

Trung Quốc được xem là một trong những quốc gia thành công nhất trong sự phát triển của các khu kinh tế đặc biệt (KKT), và điều này giải thích vì sao có nhiều nghiên cứu tập trung vào chủ đề này Nhiều công trình khoa học đã phân tích vai trò và hiệu quả của KKT Trung Quốc, như công trình của Yue-man Y., J Leea & G Keea (2009) trong nghiên cứu “China's Special Economic Zones”, giúp làm rõ cách thức vận hành, ưu đãi và tác động đến tăng trưởng và thu hút đầu tư nước ngoài Các nghiên cứu này đóng góp vào hiểu biết về mô hình phát triển KKT, cung cấp bài học cho các nước đang xem xét xây dựng hoặc cải tiến khu kinh tế đặc biệt và nhận diện tác động của KKT đối với hội nhập kinh tế toàn cầu.

Zones at 30”, đã tổng hợp đánh giá 30 năm hình thành và phát triển của các KKT

Trong nghiên cứu này, các nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào KKT được nêu bật, gồm cơ sở hạ tầng, chính sách đặc biệt ưu đãi và thể chế tự do, và chính các yếu tố này góp phần vào sự thành công của các KKT Trung Quốc Bên cạnh đó, một nghiên cứu khác của Yang, X và các cộng sự (2011) mang tựa đề ‘Factors Affecting Firm-Level Investment and Performance in Border Economic …’ cũng nhấn mạnh vai trò của yếu tố vùng biên và môi trường kinh doanh đối với quyết định đầu tư cấp doanh nghiệp và hiệu suất hoạt động Như vậy, các yếu tố hạ tầng, ưu đãi và thể chế tự do là những yếu tố cốt lõi định hình sự phát triển của các KKT và khu vực kinh tế biên giới, đồng thời thúc đẩy đầu tư và hiệu quả kinh doanh ở Trung Quốc.

Nghiên cứu 'Zones and Implications for Developing Cross-Border Economic Zones between the People’s Republic of China and its Neighboring GMS countries' đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư và hoạt động tại các khu kinh tế biên giới, từ đó đề xuất các gợi ý nhằm phát triển các khu kinh tế xuyên biên giới giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và các nước láng giềng thuộc khu vực GMS Kết quả cho thấy việc cải thiện hạ tầng, khung pháp lý và môi trường đầu tư là những yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả vận hành và thu hút nguồn vốn Các khuyến nghị được trình bày nhằm tăng cường hợp tác kinh tế biên giới, nâng cao tính cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững giữa Trung Quốc và các nước GMS.

Các quốc gia châu Á là khu vực có sự phát triển mạnh mẽ của các khu kinh tế (KKT) Nghiên cứu của Văn phòng UNIDO Việt Nam thực hiện vào năm 2015 đã tổng hợp tình hình hoạt động của các KKT ở châu Á và được công bố trong báo cáo “Economics zones in ASEAN”.

Nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào các khu kinh tế ở Châu Á gồm vị trí địa lý thuận lợi, cơ sở hạ tầng đầy đủ, chính sách ưu đãi đầu tư và nguồn lao động dồi dào Những yếu tố này tạo thành khung hấp dẫn cho các dự án đầu tư, giúp tối ưu chi phí, giảm rủi ro và tăng khả năng thu hút vốn cho doanh nghiệp khi mở rộng hoạt động tại các khu kinh tế Châu Á.

Có nhiều nghiên cứu về quyết định đầu tư của các doanh nghiệp, nhưng cho tới nay các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao nghiên cứu về quản trị (Management) của Stoner, J.A.F và Wankel, C (1987) Nghiên cứu này trình bày các lý thuyết liên quan đến quyết định đầu tư và đề xuất 8 bước trong tiến trình ra quyết định của doanh nghiệp Bên cạnh đó, một số nghiên cứu khác xem xét việc đầu tư của doanh nghiệp ở góc độ hành vi, ví dụ như công trình của Sultana, S T., & Pardhasaradhi, S (2012) – “An Empirical Analysis of Factors Influencing …”

“Indian Individual Equity Investors’ Decision Making and Behavior” là một nghiên cứu xem xét quyết định của doanh nghiệp ở góc độ hành vi Bên cạnh các yếu tố môi trường, nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của các yếu tố cá nhân của người ra quyết định và cho rằng nhận thức về rủi ro, kinh nghiệm đầu tư, sở thích và khuynh hướng hành vi của nhà đầu tư cá nhân có tác động đáng kể tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp Kết quả cho thấy sự kết hợp giữa yếu tố môi trường và yếu tố cá nhân hình thành quá trình ra quyết định, từ đó định hình chiến lược và kết quả đầu tư trên thị trường cổ phiếu.

1.3.2 Tình hình nghiên c ứ u ở Vi ệ t Nam

Võ Đại Lược được biết đến với hai nghiên cứu nổi bật về Khu kinh tế tự do ở Dubai, Hàn Quốc và Trung Quốc (2008) và Giải pháp đột phá cho phát triển các khu kinh tế ven biển Việt Nam (2009), được xem là những công trình đầu tiên và công phu nhất về KKT Việt Nam Nghiên cứu đánh giá hoạt động của các KKT tại Dubai, Hàn Quốc và Trung Quốc và từ đó đề xuất các giải pháp phát triển cho Việt Nam Kết luận chỉ ra rằng sự thành công của các KKT phụ thuộc vào ba yếu tố chính: chuyên môn hóa theo lĩnh vực cho từng khu (Dubai), phát triển cơ sở hạ tầng (Hàn Quốc) và sự nhất quán về chủ trương của nhà nước (Trung Quốc) Đồng thời, bài học dành cho Việt Nam nhấn mạnh cần có cơ chế, chính sách riêng để thu hút đầu tư và sự tham gia của các thành phần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp nước ngoài.

Nguyễn Quang Thái (2010) trình bày một nghiên cứu về vấn đề phát triển các Khu kinh tế mở hiện đại vùng ven biển Việt Nam, tổng hợp tình hình hoạt động của các KKT Việt Nam và đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư vào các khu này Trên cơ sở phân tích các điểm mạnh và thách thức, nghiên cứu làm rõ những điểm còn tồn tại và những hạn chế trong công tác thu hút đầu tư, từ đó đề xuất các giải pháp để tăng cường hiệu quả huy động nguồn vốn, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống KKT ở Việt Nam.

“chưa hấp dẫn” các nhà đầu tư, nghiên cứu này cũng đề ra các giải pháp để phát triển các KKT Việt Nam

Phan Minh Mẫn (2012) trình bày tổng quan về một số mô hình kinh tế hiện nay và nhấn mạnh sự cần thiết của việc xây dựng các mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện Việt Nam, rút ra bài học từ kinh nghiệm của các mô hình thành công trên thế giới và Trung Quốc để định hình mục tiêu và quan điểm phát triển các khu kinh tế ở Việt Nam Từ kinh nghiệm này, tác giả cho thấy cách học hỏi từ các mô hình khu kinh tế thành công ở nước ngoài nhằm định hướng phát triển khu kinh tế Việt Nam và rút ra bài học cho chiến lược phát triển Nghiên cứu tương tự của Thân Trọng Thụy và Phạm Xuân Hậu (2012) về Phát triển các khu kinh tế ven biển mô tả hoạt động của 15 khu kinh tế ven biển Việt Nam và cho rằng để các khu kinh tế ven biển phát triển đúng vai trò hạt nhân và trung tâm phát triển kinh tế địa phương trong thời kỳ hội nhập, cần hai nhóm giải pháp: (1) cơ chế, chính sách và (2) khai thác và sử dụng nguồn lực.

Tổng quan kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào khu kinh tế

Quyết định đầu tư của doanh nghiệp là quyết định sử dụng vốn và các nguồn lực khác tại thời điểm hiện tại nhằm tăng thêm tài sản mới, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao đời sống của các thành viên trong doanh nghiệp Đây là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự cân nhắc và đánh giá các nhân tố liên quan Theo Từ Quang Phương (2013), quyết định đầu tư bị ảnh hưởng bởi các nhân tố như lợi nhuận kỳ vọng, lãi suất tiền vay, tốc độ phát triển của sản lượng, đầu tư của nhà nước, chu kỳ kinh doanh và môi trường đầu tư, cũng như hoạt động xúc tiến đầu tư Tuy nhiên, trong các điều kiện khác nhau, các nhân tố ảnh hưởng có thể khác nhau.

Theo các học thuyết hành vi, quyết định đầu tư của doanh nghiệp là kết quả từ quyết định của các nhà quản trị và chịu ảnh hưởng của các nhân tố cá nhân; nghiên cứu của Kahneman (1979) và Waweru và các cộng sự (2008) cho thấy quá trình ra quyết định đầu tư còn chịu tác động của yếu tố tâm lý, cảm xúc và hành vi, cụ thể là mong muốn cá nhân, mục tiêu, định kiến và cảm xúc của nhà đầu tư Các lý thuyết về hành vi tài chính đưa ra các tiêu chí như chẩn đoán, thiên vị, hiệu ứng, cảm giác mất mát và lo ngại rủi ro, từ đó tác động và làm thay đổi quyết định đầu tư (Pavabutr, 2002) Cùng quan điểm hành vi này, các nhà marketing địa phương cho rằng quyết định đầu tư có những điểm tương đồng với hành vi mua hàng (Kotler, 2002; Kostecki, 1997) Quyết định đầu tư cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc tổ chức như nhu cầu của công ty và tiềm lực của công ty (Nelson, 2005).

Quyết định đầu tư chịu ảnh hưởng mạnh bởi các nhân tố bên ngoài, có thể thúc đẩy hoặc cản trở quyết định này, đặc biệt là những yếu tố liên quan đến triển vọng kinh tế vĩ mô và chính sách tiền tệ được thể hiện qua dự báo tăng trưởng GDP và lãi suất (Karim và Azman-Sainib 2012) Bên cạnh đó, hành động đầu tư còn chịu tác động từ các quyết định của chính phủ, trong đó chính sách thuế được xem là yếu tố quan trọng nhất trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (Alam và Stafford 1985; Hodgkinson 1989; Morgan 1987, 1992; Overesch và Wamser, 2010; Santoro và Wei, 2012) Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy quyết định đầu tư phụ thuộc vào các yếu tố cơ sở hạ tầng (Dunning, 1997; Lê Hoằng Bá Huyền, 2012; Phạm Văn Nam, 2010), hoặc phụ thuộc vào GDP và lãi suất (Triệu Hồng Cẩm, 2010) Các nhân tố về lực lượng lao động cũng được đề cập đến như là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư (Gilson, 2003; Lê Hoằng Bá Huyền, 2012; Phạm Văn Nam, 2010).

Nghiên cứu của Al-Tamimi (2005) về các nhân tố quyết định hành vi của nhà đầu tư cá nhân ở United Arab Emirates (UAE) cho thấy có sáu yếu tố ảnh hưởng, được sắp xếp theo mức độ quan trọng: thu nhập dự kiến của công ty, làm giàu nhanh chóng, chứng khoán được tiếp thị, hoạt động trong quá khứ, cổ phần của chính phủ và việc tạo ra các thị trường tài chính được tổ chức.

Sultana và Pardhasadhi (2012) điều tra các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định và hành vi của quỹ đầu tư vốn chủ sở hữu Ấn Độ, bằng cách áp dụng phân tích các yếu tố liên quan đến cá nhân, sự giàu có, giảm thiểu rủi ro, nhận thức thương hiệu, trách nhiệm xã hội, kỳ vọng tài chính, thông tin kế toán, vai trò của chính phủ và các phương tiện truyền thông, cùng với kỳ vọng kinh tế.

Quyết định đầu tư ở vai trò chọn địa điểm đầu tư phụ thuộc vào nhiều nhân tố, bao gồm các chính sách và ưu đãi từ chính phủ, các yếu tố xã hội, bản chất của cơ sở cung cấp và tình hình chính trị của quốc gia Các nhân tố này đã được nghiên cứu bởi nhiều nhà nghiên cứu theo những cách tiếp cận khác nhau Liang & Wang (1991) phân loại thành hai nhóm: (i) thuộc tính khách quan, được đo bằng chi phí như chi phí vận chuyển và chi phí lao động, và (ii) thuộc tính chủ quan Dilworth (1996) chia các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư thành ba loại chính: các yếu tố liên quan đến thị trường, các yếu tố chi phí hữu hình và các yếu tố vô hình Cùng với góc độ đầu tư quốc tế, Từ Quang Phương (2013) cho rằng quyết định đầu tư bị tác động bởi ba nhóm nhân tố: nhóm nhân tố thuộc nước nhận đầu tư (tình hình chính trị, khung pháp lý, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế, đặc điểm văn hóa xã hội); nhóm nhân tố thuộc nước đi đầu tư và nhóm nhân tố trong khu vực và quốc tế.

Qua ba thập kỷ nghiên cứu sự phát triển của các khu kinh tế (KKT), Amado (1989) cho rằng để thu hút nhà đầu tư, KKT phải đảm bảo có chính sách khuyến khích đầu tư hấp dẫn, cơ sở hạ tầng tốt, vị trí thuận lợi và cơ chế quản lý năng động Kinh nghiệm này cho thấy việc dùng các biện pháp khuyến khích hào phóng để bù đắp các bất lợi khác như vị trí kém hoặc thiếu cơ sở vật chất là không hiệu quả Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng lý do thất bại của các KKT đến từ sự thiếu đồng bộ giữa các yếu tố trên với thực thi và môi trường đầu tư nói chung, dẫn đến hiệu quả đầu tư không đạt kỳ vọng.

-Vị trí của KKT không thuận tiện

Chính sách không cạnh tranh vì phụ thuộc quá nhiều vào hỗ trợ thuế, khiến cạnh tranh bị méo mó và hiệu quả thị trường bị hạn chế Quy trình thực hiện cứng nhắc làm suy giảm tính linh hoạt của doanh nghiệp và khó thích ứng với biến động của thị trường Chính sách lao động nghèo nàn và không thực tế gây khó khăn cho người lao động và doanh nghiệp, làm giảm năng suất và tăng chi phí tuân thủ Để nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả, cần cân đối giữa ưu đãi thuế và đầu tư vào nguồn lực con người, đơn giản hóa quy trình hành chính và xây dựng chính sách lao động phù hợp với thực tế kinh tế.

- Được trợ cấp tiền thuê đất và các dịch vụ khác

- Thủ tục rườm rà và phức tạp

- Cơ cấu hành chính không đầy đủ hoặc quá nhiều cơ quan liên quan trong quản lý khu

- Phối hợp yếu kém giữa các nhà phát triển tư nhân và chính phủ trong việc cung cấp cơ sở hạ tầng

Theo UNIDO, yếu tố trọng yếu quyết định sự thành công của các khu kinh tế đặc biệt (SEZ) là vị trí Thực tế cho thấy SEZ nằm cạnh khu vực đô thị có thể tiếp cận vốn và lao động dễ dàng hơn và dễ hòa nhập với các doanh nghiệp địa phương Vì vậy, các KKT nên được xây dựng gần thị trường lớn và có hệ thống hạ tầng thiết yếu như cảng, sân bay, đường cao tốc Bên cạnh đó, lực lượng lao động dồi dào với chi phí cạnh tranh sẽ thu hút các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài Theo UNIDO (2015) và FIAS (2008), năng lực của một KKT để thu hút các doanh nghiệp quyết định đầu tư còn phụ thuộc vào bốn nhân tố nội sinh.

Các ưu đãi đầu tư được thực hiện thông qua nhiều hình thức nhằm giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Các biện pháp nổi bật gồm giảm thuế doanh nghiệp, miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên vật liệu, hàng hóa vốn và đầu vào trung gian; miễn kiểm soát ngoại hối (nếu có); không thu phí xuất khẩu; và miễn hầu hết các loại thuế địa phương cũng như thuế gián tiếp (UNIDO, 2015).

Trong cơ chế điều tiết này, việc đơn giản hóa thủ tục đầu tư và cấp giấy phép cho người nước ngoài làm việc được ưu tiên, loại bỏ các giấy phép nhập khẩu và xuất khẩu, đồng thời đẩy nhanh quy trình kiểm tra hải quan tại chỗ và cho phép truy cập ngoại hối tự động theo khung chuẩn của FIAS (2008).

Khung thể chế được thể hiện qua cơ chế tự điều tiết hiệu quả, với sự tự chủ kinh phí và nguồn lực, phát triển theo định hướng khách hàng, giảm thiểu sự can thiệp của chính phủ, tăng cường quan hệ đối tác với các nhà khai thác khu vực tư nhân và doanh nghiệp, đồng thời tối đa hóa vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ (FIAS, 2008).

iv) Quy hoạch và quản lý – Để thu hút đầu tư, các khu kinh tế (KKT) nên ưu tiên quy hoạch sử dụng đất cho các khu vực được xác định dành cho phát triển công nghiệp và thương mại, đồng thời ban hành các quy định nhằm đảm bảo các khu vực kinh tế riêng được xây dựng trên các vị trí thuận lợi (FIAS, 2008).

Như vậy, từ tổng quan các nghiên cứu ở trên cho thấy:

Phần lớn các nghiên cứu về quyết định đầu tư của tổ chức thường tập trung đánh giá các nhân tố ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp, như đã được trình bày bởi Alam và Stafford (1985); Hodgkinson (1989); Morgan (1987, 1992); Overesch và Wamser (2010); Santoro & Wei (2012); Al-Tamimi (2005); Sultana & Pardhasadhi (2012).

Một số nghiên cứu đánh giá đồng thời các nhân tố nội tại và các nhân tố bên ngoài, nhưng phần lớn vẫn tập trung vào quyết định đầu tư của cá nhân, đặc biệt là các hoạt động đầu tư vào thị trường chứng khoán, bất động sản và các thị trường tài chính Nghiên cứu của Liang & Wang (1991) đã đóng góp đáng kể vào lĩnh vực này bằng cách làm sáng tỏ tác động của các yếu tố trên lên hành vi đầu tư cá nhân.

Nelson (2005); Lechner và các cộng sự (2003); Laporta (1998); Himmelberg (2001); Balatbat (2004); Klapper & Love (2004); Suto & Toshino (2010)…

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ VÀO

Ngày đăng: 26/11/2022, 19:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Adam Smith , Edwin Cannan, George J Stigler, “An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations” Paperback – Facsimile, February 15, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations
2. Aggarwal, A. (2007), Impact of economics zone on employment, poverty and Human development, Woking paper 194, Indian council for research on international economic relations Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of economics zone on employment, poverty and Human developmen
Tác giả: Aggarwal, A
Năm: 2007
3. Alam, K. F., and L. W. T. Stafford (1985), Incentives and investment policy: A survey report on the United Kingdom manufacturing industry. Managerial and Decision Economics 6 (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incentives and investment policy: A survey report on the United Kingdom manufacturing industry. Managerial and Decision Economics
Tác giả: Alam, K. F., and L. W. T. Stafford
Năm: 1985
4. Al-Tamimi, H.A.H., & Kalli A.A.B (2009), Financial Literacy and Investment Decisions of UAE Investors, Journal of Risk Finance, 10(5): 500-516 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Risk Finance
Tác giả: Al-Tamimi, H.A.H., & Kalli A.A.B
Năm: 2009
5. Amado. D.J (1989), Free Industrial Zones: Law and Industrial Development in the New International Division of Labor, Journal of International Law, Vol 11Available at:http://scholarship.law.upenn.edu/jil/vol11/iss1/2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of International Law
Tác giả: Amado. D.J
Năm: 1989
6. Amitendu P. and S. Bhattacharjee (2008), Special Economic Zones in India : Myths and Realities, Anthem Press, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Special Economic Zones in India : Myths and Realities
Tác giả: Amitendu P. and S. Bhattacharjee
Năm: 2008
7. Antonides, G., & Van Der Sar, N.L. (1990), Individual expectations, risk perception and preferences in relation to investment decision-making. Journal of Economic Psychology, 11(2): 227-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Economic Psychology
Tác giả: Antonides, G., & Van Der Sar, N.L
Năm: 1990
10. Barro, R J., and Sala-i-Martin X. X (1997)‚ Technological Diffusion, Convergence, and Growth. Journal of Economic Growth 2 (March): 1–26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growth. Journal of Economic Growth
14. Chikatisrinu (2013), Challenges and future of special economic zones in India – A perspective, International Journal of Marketing, Financial Services & Management Research, Vol.2, No. 3, p86-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Marketing, Financial Services & Management Research
Tác giả: Chikatisrinu
Năm: 2013
20. Cục thống kê (2011), Tình hình kinh tế xã hội 10 năm 2001-2010, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kinh tế xã hội 10 năm 2001-2010
Tác giả: Cục thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2011
21. Đinh Phi Hổ (2012), Phương pháp nghiên cứu định lượng và những nghiên cứu thực tiễn trong kinh tế phát triển-nông nghiệp, Nhà xuất bản Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu định lượng và những nghiên cứu thực tiễn trong kinh tế phát triển-nông nghiệp
Tác giả: Đinh Phi Hổ
Nhà XB: Nhà xuất bản Phương Đông
Năm: 2012
22. Đỗ Mạnh Hùng (2008), Đầu tư phát triển các Khu kinh tế quốc phòng ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư phát triển các Khu kinh tế quốc phòng ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Mạnh Hùng
Năm: 2008
23. Dunning J.H. (1988), The Eclectic Paradigm of international production: a retatement and some possible extensions, Journal of International Business Studies, 19(1), pp1-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of International Business Studies
Tác giả: Dunning J.H
Năm: 1988
24. Dunning John H. (1997), Trade, location of economic Activity and the MNE: A search for Approach in the international allocation of economic activity. Edited by Bertil Ohlin Hesselborn and per Magues Wijiman, New York, Holmes and Meier Publisher Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trade, location of economic Activity and the MNE: A search for Approach in the international allocation of economic activity
Tác giả: Dunning John H
Năm: 1997
25. FIAS (2008), Special economic Zones performance, lessons learned, and implications for Zone development, The World Bank Publisher, Washington Sách, tạp chí
Tiêu đề: Special economic Zones performance, lessons learned, and implications for Zone development
Tác giả: FIAS
Năm: 2008
26. Gilmore, A., O'Donnell, A., Carson, D., & Cummins, D. (2003). Factors influencing foreign direct investment and international joint ventures: A comparative study of Northern Ireland and Bahrain. International Marketing Review, 20(2), 195-215 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Marketing Review
Tác giả: Gilmore, A., O'Donnell, A., Carson, D., & Cummins, D
Năm: 2003
27. Hair. F.J, Aderson. E.R, Tatham.L.R và Black.C.W(1980), Multivate data analysis, Fifth edition, New Jersey, Prentice Haill Internaltional Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multivate data analysis
Tác giả: Hair. F.J, Aderson. E.R, Tatham.L.R và Black.C.W
Năm: 1980
28. Hoàng Trọng - Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008, Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS (tập 1&2), Nhà xuất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS (tập 1&2)
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
29. Hodgkinson, L. (1989), Taxation and Corporate Investment. London: Chartered Institute of Management Accountants Sách, tạp chí
Tiêu đề: Taxation and Corporate Investment
Tác giả: Hodgkinson, L
Năm: 1989
31. Kahneman, D., &Tversky, A. (1979). Prospect theory: An analysis of decision under risk. Econometrica, 47(2), 263-290 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Prospect theory: An analysis of decision under risk
Tác giả: Kahneman, D., &Tversky, A
Năm: 1979

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm