MÔ HÌNH TỔ CHỨC HỌC TẬP ELEARNING TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Tóm tắt Học tập trực tuyến eLearning mang nhiều ưu điểm vượt trội trong đào tạo đã làm thay đổi mạnh mẽ quá trình tự học do khả
Trang 3PHẦN 1: PHÁT TRIỂN E-LEARNING TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC – XU HƯỚNG THẾ GIỚI VÀ
MÔ HÌNH TỔ CHỨC HỌC TẬP ELEARNINGTRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VAI TRÒ VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG ĐÀO TẠO ELEARNING
ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG E-LEARNING TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC – CHÍNH SÁCH CÁC QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG TRONG ĐÀO TẠO E-LEARNING
TS Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên, ThS Đặng Thị Thảo Ly 77MOOCs VÀ CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ E-LEARNING TRÊN THẾ GIỚI VÀ ỨNG DỤNG CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM
Trang 4THỰC TRẠNG TẠI CÁC NƯỚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
ThS Nguyễn Minh Thơ, TS Phan Thị Ngọc Thanh 151TIÊU CHUẨN ELEARNING TRONG CÁC KHOÁ HỌC ĐẠI CHÚNG MỞ (MOOCS).XU THẾ VÀ CÁCH TIẾP CẬN.
KHAI PHÁ DỮ LIỆU TRÊN HỆ THỐNG E-LEARNING NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN QUA MÔ HÌNH ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA PHẠM NGỌC THẠCH
TS BS Võ Thành Liêm, BS CKI Trịnh Trung Tiến 188QUẢN LÝ DẠY HỌC TRỰC TUYẾN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
E-LEARNING – THỰC TRẠNG VÀ CHÍNH SÁCH
VAI TRÒ CỦA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN E-LEARNING NHẰM THÚC ĐẨY XÃ HỘI HỌC TẬP VÀ HỌC TẬP SUỐT ĐỜI TẠI VIỆT NAM
TỔNG QUAN VỀ ÁP DỤNG E-LEARNING TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM
ThS Đoàn Hồ Đan Tâm, TS Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên,
Trang 5(GÓC NHÌN TỪ KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY THỰC TẾ)
NHU CẦU BỒI DƯỠNG BẰNG HÌNH THỨC TRỰC TUYẾN CỦA GIÁO VIÊN TIẾNG TRUNG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI
CN Vương Minh Khoa, TS Phan Thị Ngọc Thanh, CN Nguyễn Thị Thuý Quỳnh 287
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG ĐÀO TẠO E-LEARNING ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
CÁC KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA E-LEARNING: KINH NGHIỆM ĐÀO TẠO CỦA CỘNG HÒA PHÁP
ThS GV Nguyễn Đình Thúy Hường, TS Ngô Hồ Anh Khôi 314
SO SÁNH HỆ THỐNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN
TS Phan Thị Ngọc Thanh, ThS Đặng Thị Thảo Ly 321
Trang 6VIỆT NAM
BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRỰC TUYẾN - E-LEARNING
TỔNG QUAN THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH VÀ QUY ĐỊNH VỀ E-LEARNING VIỆT NAM
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH THAM GIA LEARNING TỪ QUAN ĐIỂM CỦA GIẢNG VIÊN: MỘT NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH VỀ VIỆT NAM
NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI ỨNG DỤNG E-LEARNING TRONG VIỆC HỌC TIẾNG ANH
ThS Đinh Thị Triều Giang, ThS Võ Thị Duyên Anh 445CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG E-LEARNING CỦA SINH VIÊN - NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG
Trang 7PHẦN 1:
PHÁT TRIỂN E-LEARNING TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC –
XU HƯỚNG THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Trang 8MÔ HÌNH TỔ CHỨC HỌC TẬP ELEARNING
TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Tóm tắt
Học tập trực tuyến (eLearning) mang nhiều ưu điểm vượt trội trong đào tạo
đã làm thay đổi mạnh mẽ quá trình tự học do khả năng cá nhân hóa cũng như đáp ứng hiệu quả các hoạt động học tập của người học Học tập trực tuyến và xây dựng môi trường học tập trực tuyến hiện đang được quan tâm chú ý và đưa vào triển khai trong nhiều trường đại học ở Việt Nam với phạm vi, mức độ khác nhau Cùng với sự phát triển của công nghệ, việc xây dựng môi trường học tập trực tuyến hiện đại, xây dựng các nội dung giảng dạy trực tuyến được phát triển theo hướng ngày càng tiếp cận gần hơn với người học Bài viết này trình bày các mô hình triển khai đào tạo trực tuyến trên thế giới, đồng thời phân tích các mô hình tổ chức học tập trực tuyến tại 02 trường đại học tiêu biểu tại Việt Nam gồm Trường Đại học Mở
Hà Nội và Trường Đại học Thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình tổ chức học tập trực tuyến cho giáo dục đại học Việt Nam
Từ khoá: mô hình, tổ chức học tập, eLearning
1 Giới thiệu
Các lý thuyết kinh tế đã chỉ ra rằng vốn con người đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển của các quốc gia Mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (SDGs) và chương trình hành động đến năm 2030 đã nhấn mạnh yêu cầu đặt ra cho ngành giáo dục là tạo điều kiện cho mọi người với mọi trình độ khác nhau được học mọi lúc, mọi nơi và học tập suốt đời Đối với ngành giáo dục Việt Nam, mục tiêu "hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập" theo tinh thần Nghị quyết số 29 Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khoá XI) đã được Bộ
1 Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 9Giáo dục và Đào tạo triển khai trong 5 năm qua Trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức và đặc biệt là cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4, eLearning được xem
là công cụ hữu hiệu để cung cấp cho người học cơ hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời, tiến tới xây dựng xã hội học tập
Trên thế giới, eLearning ra đời và phát triển mạnh mẽ tại nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Úc, Canada, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc Tại khu vực Đông Nam
Á, eLearning cũng phát triển nhanh tại các nước như Thái Lan, Indonesia, Malaysia Việt Nam tuy đi sau nhưng trong vòng hai thập kỹ gần đây cũng đã có những biến chuyển tích cực, cụ thể là ngày càng có nhiều cơ sở giáo dục cả công lập lẫn tư nhân triển khai áp dụng phương thức này vào đào tạo Vào những năm cuối thập niên 2000, các chương trình đào tạo bậc đại học từ xa theo phương thức eLearning đã được chính thức triển khai tại Viện Đại học Mở Hà Nội trong sự liên kết với Tổ hợp giáo dục Topica Sau này có thêm các trường như Đại học trực tuyến FUNiX, Đại học Khoa học Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Thái Nguyên, Đại học Duy Tân Đến 2016, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh mới bắt đầu ra mắt các chương trình đào tạo từ xa trực tuyến Bên cạnh khu vực đại học, eLearning cũng phát triển mạnh trong lĩnh vực tư nhân với các trang kyna.vn, giapschool, hocmai.vn…
Dù thuộc lĩnh vực nào hay tại quốc gia nào thì quá trình triển khai eLearning cũng đòi hỏi nhưng mô hình tổ chức học tập phù hợp với đặc thù của quốc gia hay
tổ chức đó Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung đi sâu tìm hiểu các mô hình tổ chức học tập theo phương thức trực tuyến trong giáo dục đại học tại một
số nước có eLearning phát triển hàng đầu trên thế giới như Hoa Kỳ, Úc, Hàn Quốc, Trung Quốc và một số nước trong khu vực Đông Nam Á, và đặc biệt mô hình tổ chức tại các trường đại học tại Việt Nam Bài viết được xây dựng theo phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu thu thập tại bàn về các mô hình tổ chức học tập đại học theo phương thức trực tuyến trên thế giới và tại Việt Nam thông qua các kênh tìm kiếm như Google Scholar, EBSCO, CORE, Semantic Scholar, Baidu Scholar Từ những thông tin thu thập được, tác giả sơ đồ hoá các mô hình, đối sánh
và đưa ra mô hình đề xuất phù hợp với Việt Nam Các từ khóa được sử dụng trong quá trình tìm kiếm gồm mô hình eLearning, eLearning trong giáo dục đại học, tổ chức học tập trực tuyến
Trang 102 Tổng quan về eLearning
2.1 Khái niệm eLearning
eLearning là viết tắt của Electronic Learning, dùng để mổ tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông (Information Communication Technology – ICT) mà đặc biệt là công nghệ thông tin Có thể hiểu đơn giản rằng, eLearning là phương thức học tập ảo thông qua các thiết bị có kết nối Internet đối với một máy chủ ở nơi khác có lưu trữ sẵn bài giảng điện tử và phần mềm cần thiết
để cung cấp các khoá học qua email cho đến hoàn toàn trực tuyến (Alonso, López, Manrique, & Viñes, 2005; Koohang & Harman, 2005; (Ellis, Ginns, & Piggott, 2009; Guri-Rosenblit & Gros, 2011)
2.2 Lịch sử hình thành và phát triển eLearning
Thập niên 1980
Khoá học trực tuyến hoàn toàn đầu tiên dành cho người lớn bắt đầu vào năm
1981 thuộc các chương trình đào tạo cao cấp và khoá học ngắn hạn không tín chỉ (Harasim, 2000) Suốt những năm 1980, các chương trình và khoá học trực tuyến tiếp tục phát triển với cột mốc thay đổi vĩ đại của cuộc các mạng internet và năm
1989 Vào năm 1989, khoá học trực tuyến với quy mô lớn đầu tiên được triển khai tại trường đại học Mở Vương quốc Anh với hơn 1.500 sinh viên theo học (Harasim, 2000) Từ những năm 1960, eLearning đã có những ảnh hưởng khác nhau đến Kinh doanh, Giáo dục, khu vực Đào tạo, và Quân đội (Kidd, 2010)
Sự ra đời của các chương trình học trên nền tảng web mang lại môi trường học tập trực tuyến Năm 1980, máy MAC đầu tiên đã mang đến cho mỗi cá nhân
cơ hội có máy tính sở hữu máy tính tại nhà, làm cho việc học tập chuyên môn và phát triển các kỹ năng dễ dàng hơn (Annika & Åke, 2009)
Thập niên 1990
Từ đầu thế kỷ 20, đào tạo trực tuyến đã trở thanh phương tiện cung cấp sự tiếp cận cho nhóm dân số nghèo (Lister, 2016) Với sự phát triển của máy tính và internet vào cuối thế kỷ 20, các công cụ và phương thức truyền tải eLearning được
mở rộng Những tiến bộ về công nghệ đã giúp tạo ra các thành tựu về giáo dục nhằm giúp cắt giảm các chi phí của việc học từ xa – việc tiết kiệm này cũng giúp người học, giúp mang giáo dục đến với phạm vi người học rộng hơn
Trang 11Những năm 1990 là khoảng thời gian đầu quan trọng của các hoạt động giáo dục trực tuyến (Harasim, 2000; Moore & Kearsley, 2011) Vào năm 1995, các chương trình nghiên cứu trực tuyến chính yếu, như The TeleLearning and Network
of Center of Excellence (TL.NCE) được khởi xướng (Harasim, 2000) Một số trường đại học bắt đầu triển khai các chương trình học trên web như The Online Campus of the New York Institutte of Technology, Connect Ed kết hợp với The New School for Social Research in New York, và The International School of Information Management
Cuối thập niên 90, hệ thống quản lý học tập (LMS) được lan toả rộng rãi
Đa số các trường đại học tự thiết kế hệ thống riêng nhưng cũng có một vài trường bắt đầu bằng việc sử dụng hệ thống do thị trường cung cấp Các hệ thống LMS cho phép giáo viên và sinh viên trao đổi tài liệu học tập, làm bài kiểm tra, tương tác, theo dõi và lưu dấu tiến trình (Kattoua, 2016)
Những năm 2000
Số lượng người học trên toàn thế giới tăng lên đến hàng ngàn người vào nhưng năm đầu những năm 2000 (Nichols, 2003) Vào giữa năm 2002, “blended learning” bắt đầu xuất hiện và được hiểu bao gồm học trên máy tính kết hợp với học tại lớp (Naresh & Bhanu, 2015) Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp bắt đầu sử dụng eLearning để tập huấn cho nhân viên của họ (Mbarek & Zaddem, 2013) Tính linh hoạt và thuận tiện của eLearning giúp cho người học có thể tiếp cận nâng cao kiến thức và kỹ năng một cách dễ dàng
Bối cảnh lịch sử phát triển của eLearning trong 30 năm từ 1975 đến 2005 được (Cross, 2004) tóm lược như bảng sau:
1975-1985 Lập trình
Rèn luyện và thực hành
Học với sự trợ giúp của máy tính (CAL)
Các phương pháp của thuyết hành vi sử dụng cho việc học
và hướng dẫn; lập trình để xây dựng các công cụ và giải quyết các vấn đề; Tương tác trên máy tính của người dụng tại địa phương
Trang 121983-1990 Đào tạo dựa trên nền
tảng máy tính Truyền thông đa phương tiện
Sữ dụng các mô hình CAL cũ với các phần mềm khoá học
đa phương tiện có tính tương tác; Các mô hình người học thụ động chiếm ưu thế; Các nhà giáo dục theo xu hướng tạo dựng (Constructivist) bắt đầu gây ảnh hưởng trong quá trình thiết kế và sử dụng các phần mềm giáo dục
1990-1995 Đào tạo dựa trên nền
tảng web
Truyền tải nội dung dựa trên nền tảng qua mạng; Các mô hình người học chủ động được phát triển; Các quan điểm của các nhà giáo dục theo xu hướng tạo dựng (constructivist) bắt đầu phổ biến; Tương tác với người dụng bị hạn chế
1995-2005 eLearning Truyền tải trên nền tảng
mạng internet linh hoạt; tương tác tăng cường; các phần mềm khoá học đa phương tiện trực tuyến; các
mô hình phân phối theo hướng tạo dựng và nhận thức trở nên phổ biến; mạng lưới
xã hội; Tương tác giữa người dùng từ xa
Trang 13Từ 2005 đến nay
Sự ra đời và phát triển của các công cụ truyền thông xã hội đã tạo nên một làn sóng mới cho eLearning với Các khoá học trực tuyến mở đại chúng (MOOCs_Massive Open Online Courses), Các khoá học trực tuyến mở có chọn lọc (SOOCs) và các trang web như YouTube, Twitter, Instagram Ngày nay sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghệ 4.0 mang đến những bước tiến cho eLearning Mô hình học ảo (Augmented Learning), ứng dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo và các kỹ thuật tự động sẽ không còn là điều xa vời trong eLearning
2.3 Đặc điểm của đào tạo trực tuyến – eLearning:
Theo Pituch & Lee (2006), đào tạo trực tuyến đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại Với nhiều ưu điểm, lợi ích vượt trội trong hoạt động giảng dạy cũng như sự linh hoạt và mềm dẻo của hệ thống giáo dục đào tạo trực tuyến, giảm thiểu các rào cản xuất phát từ tuổi tác, vị trí địa lý, thời gian và tình trạng tài chính, đào tạo trực tuyến được coi là mô hình đào tạo phù hợp với thời gian và điều kiện tài chính của người học trong thế kỷ 21 Không chỉ thế, đào tạo trực tuyến từ lâu đã được xác định là một chiến lược trọng tâm của việc cải cách các hoạt động dạy và học (Nichols, 2003) Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng các chương trình đào tạo trực tuyến hoặc kết hợp đặc biệt hiệu quả trong việc giúp sinh viên đạt được các mục tiêu học tập thông qua việc thực hiện các hoạt động kiểm tra đánh giá (Abu Hassan, 2005)
Tính cá nhân hóa
Một đặc điểm nổi trội của đào tạo trực tuyến là có khả năng giúp sinh viên
cá nhân hoá quá trình học tập; bên cạnh đó, đào tạo trực tuyến có tác động tích cực đến việc duy trì kiến thức cũ và tiếp thu kiến thức mới (Ali, Uppal, & Gulliver, 2018) Đào tạo trực tuyến tạo ra yếu tố giao tiếp hai chiều giữa sinh viên với giảng viên “ảo” và trao đổi với các bạn học “ảo” qua mạng máy tính hoặc Internet Đào tạo trực tuyến còn có tác dụng kích thích ý thức tự học của người học, hỗ trợ người học tiếp cận với nguồn thông tin phong phú hơn rất nhiều so với bài giảng trên lớp của giảng viên
Công nghệ có thể được tích hợp vào các lớp học để hỗ trợ cho các cách học khác nhau tương ứng với mức độ tiếp thu kiến thức của từng sinh viên (Anderson,
Trang 14Brown, Murray, Simpson, & Mentis, 2006) Cho phép sinh viên sử dụng kiến thức ban đầu của họ để phân tích, đánh giá, áp dụng và cuối cùng là nâng cao kiến thức
và kỹ năng mới (Berge & Leary, 2006) Một môi trường đào tạo trực tuyến lý tưởng đáp ứng được nhiều cách học khác nhau và khả năng tiếp thu khác nhau Cùng với việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, mô hình đào tạo trực tuyến với thông tin một chiều đã chuyển sang mô hình thông tin hai chiều hiệu quả giữa người dạy và người học, giữa người học với hệ thống học liệu và giữa người học với cơ sở quản lý đào tạo, xoay quanh ba mối tương tác quan trọng là học viên – nội dung học, học viên – giảng viên và học viên – học viên
Tính linh hoạt
Đặc điểm thứ hai của đào tạo trực tuyến là việc cho phép người học có thể chủ động chọn những kiến thức phù hợp với mình so với hình thức tiếp thu thụ động trên lớp; đào tạo trưc tuyến cho một cách học mang tính tương tác cao với việc cung cấp tốt nhất các loại hình đào tạo đồng bộ hay công nghệ từ xa như hệ thống tin nhắn, chat, thư điện tử và đàm thoại qua mạng sẽ giảm được khả năng học viên bị
cô lập, tạo ra sự tương tác cần thiết trong quá trình học Nếu có thể tạo ra được các hình thức tương tác trực tuyến mạnh mẽ hơn nữa giữa học viên và giảng viên thì hiệu quả sẽ được nâng cao rõ rệt; đào tạo trực tuyến là loại hình đào tạo mà học viên
là chủ đạo và mang tính cá nhân, người tham gia vào loại hình đào tạo trực tuyến tự kiểm soát tốc độ học, công cụ học tập, địa điểm học cũng như khối lượng kiến thức
mà họ muốn thu nhận, họ được tự mình quyết định cách thức thu nhận kiến thức, kĩ năng và khả năng phù hợp với phong cách học của chính mình; Đào tạo trực tuyến
là loại hình đào tạo hiệu quả, cho phép học viên tương tác với công cụ học tập để có thể ghi nhớ được tối đa khối lượng kiến thức đã học được
Tính tương tác
Một đặc điểm tiếp theo có thể kể đến chính là đào tạo trực tuyến sử dụng nhiều yếu tố đa phương tiện, các công cụ mô phỏng trong quá trình xây dựng nội dung Một số nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng việc kết hợp các thành phần truyền thông đa phương tiện có thể góp phần duy trì kiến thức nhưng cách tích hợp các công cụ này đóng vai trò chính trong quá trình học tập của sinh viên,
cụ thể ở đây chính là quá trình tương tác (Alias & Zainuddin, 2005) Các thành phần truyền thông được kết hợp với đào tạo trực tuyến chủ yếu là nhằm tăng tính
Trang 15tương tác trong quá trình giảng dạy và học tập Với sự hỗ trợ của công nghệ multimedia, những bài giảng được tích hợp dạng văn bản với các dạng hình ảnh,
âm thanh, video… người học có thể tương tác với bài học một cách dễ dàng
Bốn khía cạnh quan trọng của đào tạo trực tuyến, bao gồm tầm ảnh hưởng, thái độ, động lực bên trong và bên ngoài, có thể được sử dụng để đo lường thái độ của sinh viên đối với quá trình học tập trực tuyến (Saeed Qasim & Al-Khalidi, 2014) Thái độ tích cực và động lực đối với việc học trực tuyến đã được chứng minh là làm tăng đáng kể việc duy trì kiến thức một cách lâu dài (Magdalene & Sridharan, 2018) Một môi trường đào tạo trực tuyến lý tưởng sử dụng tầm ảnh hưởng, thái độ, động lực bên trong và bên ngoài để tạo ra một thái độ tích cực của
cả giảng viên và sinh viên
Sự hỗ trợ được cung cấp trong suốt quá trình học tập phù hợp với nhu cầu của sinh viên, giúp sinh viên đạt được mục tiêu học tập (Santosh & Sanjaya, 2007)
và có thể dẫn đến làm tăng kết quả học tập của sinh viên Theo lý thuyết tương tác
và giao tiếp của Inan và cộng sự (2010), trong quá trình tự học một cách chủ động của người học thì tầm quan trọng của dịch vụ hỗ trợ quản lý, tư vấn, giảng dạy, tuyển sinh, làm việc theo nhóm được thể hiện rõ rệt Sự tương tác và mối quan hệ giữa người học với người dạy, cán bộ quản lý, hỗ trợ vận hành được xem như là
sự giao tiếp có định hướng thông tin, do đó sự giao tiếp hai chiều là rất quan trọng
và là đặc thù của đào tạo trực tuyến, dù đó là giao tiếp trực tiếp hay gián tiếp
2.4 Cấu trúc hệ thống eLearning
Nhiều nhà chuyên môn cho rằng ưu điểm nổi trội của eLearning so với các phương pháp giáo dục truyền thống là việc tạo ra một môi trường học tập mở và tính chất tái sử dụng các đơn vị tri thức hay đối tương học tập Việc áp dụng công nghệ giúp cho quá trình dạy và học hiệu quả hơn, người học tiếp cận nhanh chóng, giúp tiết kiệm chi phí và thời gian đào tạo so với phương pháp giảng dạy truyền thống Như vậy, có thể nói hạ tầng công nghệ là một thành phần không thể thiếu trong cấu trúc hệ thống eLearning, các hạ tầng công nghệ này bao gồm bao gồm các thiết bị đầu cuối người dùng, thiết bị tại các cơ sở cung cấp dịch vụ, mạng truyền thông; hạ tầng phần mềm, gồm các phần mềm LMS, LCMS, Authoring Tools Câu hỏi đặt ra là ngoài hạ tầng công nghệ thì hệ thống eLearning còn bao
Trang 16gồm thành phần quan trọng nào? Tác giả đã tiến hành nghiên cứu 2 mô hình về cấu trúc hệ thống eLearning, kết quả như sau:
- Mô hình của Khan (2005) thì cấu trúc hệ thống eLearning có 3 thành phần chính là thiết kế hướng dẫn và học liệu đa phương tiện; hạ tầng truyền thông và mạng; hạ tầng phần mềm
- Mô hình của Horton & Horton (2003) cho thấy cấu trúc hệ thống eLeanring có 2 thành phần chính là hạ tầng công nghệ và nội dung
Trang 173 Các mô hình tổ chức học tập eLearning trong giáo dục đại học 3.1.1 Trên thế giới
Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một trong những quốc gia mà các chương trình đào tạo trực tuyến phát triển mạnh mẽ nhất trên thế giới Chính phủ Mỹ đã có những chính sách trợ giúp cho nghiên cứu ứng dụng eLearning từ cuối những năm 1990 Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu quốc tế (Magdalene & Sridharan, 2018)(International Data Corporation, IDC), cuối năm 2007 có khoảng 90% các trường đại học, cao đẳng của Mỹ đưa ra mô hình eLearning với số người tham gia học tập tăng 43% hàng năm trong khoảng thời gian từ 2004-2007 eLearning không chỉ được triển khai ở các trường đại học mà ngay ở các công ty việc xây dựng và triển khai cũng diễn ra rất mạnh mẽ Báo cáo của Trung tâm Thống kê dữ liệu Giáo dục Hoa Kỳ năm 2014 cho thấy tại Hoa Kỳ có khoảng 5,7 triệu sinh viên đã tham gia các khóa học từ xa tại hầu hết các bang của nước Mỹ (N.C.E.S Statistics, 2014)
Năm 2016, Hoa Kỳ có hơn 247 trường đại học với hơn 5000 sinh viên trực tuyến và 80 trường có hơn 10.000 sinh viên theo học hình thức đào tạo trực tuyến Trong số đó bao gồm nhiều trường đại học nổi tiếng (Magdalene & Sridharan, 2018) Bên cạnh đó, các trường đại học đang triển khai eLearning đều chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào chương trình đào tạo trực tuyến của mình Theo (Moore & Kearsley, 2011), mô hình eLearning của các trường thường tiến hành một trong ba cấp độ eLearning sau đây:
● Cấp độ 1 - CBT (Computer-Based Training) và WBT (Web- Based Training) Ở cấp độ này, học viên học thông qua CD-ROM hoặc trên Web/Internet/Intranet Ưu điểm của cấp độ này là có chi phí khá thấp Tuy nhiên, nhược điểm của nó là không có giáo viên hướng dẫn
Trang 18● Cấp độ 2 - Học tập kết hợp Đối với cấp độ này, các trường đại học thường áp dụng Hệ thống quản lý học tập (LMS - Learning Management System) cho phép các bên liên quan tối ưu hoá phương pháp giảng dạy và quản lý tốt hơn các khóa học trực tuyến của mình Đối với hệ thống này, ngoài học tập trên lớp, giảng viên sẽ yêu cầu sinh viên thực hiện các hoạt động học tập và tương tác thông qua Hệ thống quản lý học tập
The blended psycho-pedagogic model was designed by Prof Maria Amata Garito in 1996
● Cấp độ 3: Học viên học thông qua Intemet/Intranet, sử dụng Hệ thống quản lý học tập (LMS) Điểm khác biệt của cấp độ 3 so với cấp độ 2 là
ở việc xây dựng và ứng dụng hệ thống các “lớp học ảo” (virtual class) Các “lớp học ảo” được tiến hành tương tự như các lớp học thông thường
CD – ROM
Web/Internet
Trang 19nhưng thông qua mạng Internet Nhờ vào công nghệ live Streaming, giáo viên có thể trực tiếp hướng dẫn học viên Học viên có thể học trực tiếp hoặc lưu lại để xem các bài giảng của giáo viên, học viên sẽ phải làm các bài tập như khi tham gia các lớp học truyền thống
Nhìn chung, tại Hoa kỳ, các trường đại học thực hiện theo chỉ đạo của quốc gia
về việc triển khai đào tạo trực tuyến theo những nguyên tắc sau:
● Cung cấp khả năng truy cập Internet băng thông rộng và giá cả phải chăng cho tất cả người học
● Cung cấp chương trình tập huấn và hỗ trợ liên tục cho giảng viên và chuyên viên tham gia vào quá trình đào tạo trực tuyến ở tất cả các cấp trong việc sử dụng công nghệ cho việc dạy và học
● Phát triển một khung nghiên cứu mới về phương pháp học tập trong thời đại Internet
● Phát triển nội dung môn học trực tuyến đạt chất lượng cao, đáp ứng các tiêu chuẩn cao nhất về giáo dục
● Sửa đổi các quy định lỗi thời cản trở sự đổi mới và thay thế chúng bằng các phương pháp tiếp cận mọi lúc, mọi nơi và nhanh chóng Điều này bao gồm xem xét lại các cơ chế và chính sách liên quan đến việc cấp chứng chỉ, thừa nhận bằng cấp, khả năng tài chính, nhân sự và dịch vụ giáo dục
● Đảm bảo quyền riêng tư của người học trực tuyến
Châu Âu
Theo Naresh & Bhanu (2015), có 91% các trường đại học tại Châu Âu năm
2014 sử dụng hình thức học tập kết hợp giữa đào tạo truyền thống và đào tạo từ
xa Ngoài việc tích cực triển khai eLearning tại mỗi nước, giữa các nước châu Âu
có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực Elearning Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu EuroPACE Đây là mạng eLearning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E-learning của Mỹ Docent nhằm cung cấp các khoá học
về các lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở châu Âu
Trang 20Theo Naresh & Bhanu (2015), các trường đại học tại Châu Âu có các mô hình triển khai đào tạo trực tuyến sau đây:
- Mô hình Rotation Model: Trong Mô hình này, học sinh học tập theo một lịch trình cố định từ phương thức học tập này sang phương thức học tập khác Và trong quá trình này, phải có ít nhất một lần học tập trực tuyến Các lần khác có thể bao gồm làm việc nhóm do giáo viên hướng dẫn, dự
hỗ trợ trực tiếp khi cần trên cơ sở cá nhân hóa
- Mô hình học tập ảo – Enriched Virtual Model: Mô hình này đòi hỏi sinh viên phải có các buổi hướng dẫn trực tiếp trên lớp, sau đó sẽ linh hoạt lựa chọn hình thức học tập cho các hoạt động học tập còn lại
Trang 21Các mô hình tổ chức đào tạo trực tuyến tại Châu Âu
Hàn Quốc
Ở khu vực châu Á, Hàn Quốc là một trong những nước đi đầu trong việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào eLearning Đặc biệt, nhiều trường đại học ở Hàn Quốc đã thành công trong việc phát triển các mô hình trường đại học ảo (Cyber University) nhằm gia tăng sự thuận tiện cho người học
Liên minh đại học cho Cyber Education đã được hình thành với sự tham gia của 70 trường đại học và 20 thành viên doanh nghiệp Liên minh tiến hành các hội thảo, hội nghị chuyên đề, và các buổi tập huấn giảng viên, và thực hiện một cuộc khảo sát về tình hình giáo dục không gian mạng tại các trường đại học Hàn Quốc, tiết lộ rằng hơn 150 trường đại học hiện nay, 370 trường đại học cung cấp giáo dục trực tuyến ở cấp độ tổ chức
Đến năm 2003, Hàn Quốc có 15 trường đại học trên mạng đưa ra các khoá học dựa trên Công nghệ thông tin Những trường đại học trong số đó như Cyber Korea, Digital Korea và Đại học mở Open Cyber là những trường chuyên về giáo dục dạy nghề và học tập suốt đời Các trường này hoạt động theo mô hình trực tuyến toàn bộ như sau:
Úc
Như nhiều quốc gia khác, Úc rất coi trọng công tác đào tạo theo phương thức eLearning Nhiều trường đại học ở Úc phối hợp giữa hai hình thức đào tạo truyền thống và eLearning Bên cạnh đó, một số trường đại học trực tuyến tương
tự như đại học ảo được xây dựng nhằm tạo điều kiện thuận lợi và gia tang khả năng tiếp cận của người học
Hoạt động trực tuyến
Trang 22Hầu hết các trường đại học Úc cung cấp một số hình thức giáo dục từ xa hoặc giáo dục linh hoạt liên quan đến eLearning Các trường đại học hàng đầu cung cấp các khóa học trực tuyến hoàn toàn đã xây dựng hệ thống cấp bằng từ chứng chỉ đến bằng thạc sĩ trong các ngành học đa dạng như điều dưỡng và kế toán Để giải thích những thay đổi này theo thời gian, các Trường Đại đọc ở Úc xác định năm thế hệ giáo dục từ xa trong mô hình phát triển phương thức giảng dạy này, hai trong số đó có thể được mô tả là các cấp độ eLearning Các cấp độ là:
● Mô hình tương ứng, trong đó tài liệu học tập dựa trên in ấn;
● Mô hình đa phương tiện, nơi có nhiều cách trình bày các tài liệu học tập, cho dù bằng cách in, nghe, băng video hoặc học tập dựa trên máy tính;
● Mô hình telelearning, trong đó các chế độ trình bày tài liệu học tập bao gồm hội nghị âm thanh hoặc video và truyền hình hoặc đài phát thanh;
● Mô hình học tập linh hoạt, nơi sinh viên có quyền truy cập vào đa phương tiện tương tác trực tuyến, giao tiếp qua trung gian máy tính và tài nguyên dựa trên Internet; và,
● Mô hình học tập linh hoạt thông minh, được xây dựng trên cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và cũng sẽ cho phép truy cập vào các quy trình và tài nguyên của Nhà trường, giúp Nhà trường giảm chi phí biến đổi xuống gần bằng không
Ngày càng có nhiều trường đại học Úc cung cấp quyền truy cập vào nguồn học liệu bằng eLearning và đang chuyển sang khai thác mô hình thế hệ thứ năm
Mô hình này được xây dựng thông qua các trường đại học có kinh nghiệm và chuyên môn lâu năm về giáo dục từ xa, như Đại học Charles Sturt, Đại học Deakin
và Đại học South Queensland
Trang 23Mô hình Smart eLearning
Mô hình Smart eLearning tập trung vào bộ ba chính của quá trình học tập -
cụ thể là sinh viên, giảng viên và tài liệu Bộ ba này là một phần quan trọng của cộng đồng học tập, qua đó các thành viên nên được phối hợp hợp lý để đạt được kết quả tối đa thông qua làm việc nhóm hiệu quả
3.1.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các trường đại học bao gồm cả công lập và tư nhân đều có những mô hình tổ chức học tập eLearning khác nhau tùy đặc thù mỗi trường tuy nhiên đều phải tuân thủ các quy định quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo Khi triển khai đào tạo trực tuyến ở trình độ đại học, các trường phải đảm bảo tuân thủ đúng Thông tư 12/2016/TT-BGDĐT ngày 22/4/2017 quy định việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng đối với các đại học, học viện, trường đại học Thông tư đã quy định về điều kiện đối với các trường đại học khi tổ chức triển khai đào tạo qua mạng, bao gồm các yêu cầu về:
1 Cổng thông tin điện tử đào tạo qua mạng
2 Hệ thống máy chủ và hạ tầng kết nối mạng Internet
3 Hệ thống quản lý học tập
4 Hệ thống quản lý nội dung học tập
5 Kho học liệu số
Trang 246 Đội ngũ nhân lực đảm bảo triển khai hoạt động đào tạo qua mạng gồm: a) Đội ngũ cán bộ quản trị kỹ thuật hệ thống công nghệ thông tin;
b) Đội ngũ cán bộ thiết kế học liệu;
c) Đội ngũ nhà giáo có thể tự xây dựng bài giảng e-Learning;
Trường Đại học Mở Hà Nội
Trường Đại học Mở Hà Nội được thành lập năm 1993 do Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 535/TTg thành lập Viện Đại học Mở Hà Nội trên cơ sở Viện Đào tạo Mở rộng 1 (một đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo) Trường đã bắt đầu triển khai đào tạo trực tuyến cấp bằng đại học theo hình thức đào tạo từ xa từ năm
2009 Đến nay, đơn vị này đang triển khai 07 ngành đào tạo bao gồm: Kế toán, Quản trị kinh doanh, Tài chính ngân hàng, Công nghệ thông tin, Luật Kinh tế, Ngôn ngữ Anh, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành Với kinh nghiệm 10 năm trực tiếp tham gia quản lý thực hiện các chương trình đào tạo trực tuyến, trong Luận án tiến sĩ đã bảo vệ thành công, Tiến sĩ Trần Thị Lan Thu (2019) nêu rõ:
Để tổ chức ĐTTT, các cơ sở đào tạo cần chuẩn bị về hạ tầng công nghệ đào tạo, hệ thống phần mềm phục vụ truyền tải kiến thức và quản lý, kho học liệu điện tử được đưa lên hệ thống quản lý và phân phối tới người học, hệ thống website cổng thông tin, hệ thống văn bản qui định, đội ngũ nhân lực quản trị hệ thống và thiết kế nội dung bài giảng, đội ngũ giảng viên hướng dẫn và giảng dạy qua mạng, đội ngũ cán bộ phục vụ đào tạo (gồm cán bộ
Trang 25quản lý người học, cán bộ tư vấn phương pháp học trực tuyến, cán bộ hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ hành chính)
Mô hình tổ chức học tập trực tuyến tại Trường Đại học Mở Hà Nội được trình bày tóm lược trong sơ đồ bên dưới:
Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
Được thành lập vào năm 1990 và trở thành trường đại học công lập từ năm
2006, đến nay Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh là trường đại học đa ngành trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, có nhiệm vụ đào tạo đại học và sau đại học, với các hình thức đào tạo chính quy và giáo dục thường xuyên, đào tạo các điểm vệ tinh,…nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội, góp phần tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học-kỹ thuật cho đất nước Tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, mô hình tổ chức đào tạo trực tuyến được triển khai theo
Trang 262 hình thức là mô hình học tập trực tuyến với vai trò hỗ trợ áp dụng cho hệ chính quy và mô hình đào tạo trực tuyến hoàn toàn dành cho hệ đào tạo từ xa qua mang
Mô hình học tập trực tuyến với vai trò hỗ trợ - Học tập kết hợp
Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh xác định học tập kết hợp được xem là một mô hình học tập giúp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Chính vì thế, Nhà trường đã đưa công tác triển khai giảng dạy kết hợp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đào tạo chính quy Theo mô hình này, ngoài việc lên lớp học trực tiếp với giảng viên, sinh viên thực hiện các hoạt động học tập khác trên hệ thống quản lý học tập (LMS) của nhà trường theo yêu cầu của giảng viên Các nguồn học liệu như videos, tài liệu, bài tập được giảng viên đăng tải trên lớp học trên LMS
và sinh viên tham gia thực hiện các hoạt động này Sinh viên được yêu cầu xem trước tài liệu trước khi đến lớp hoặc luyện tập thực hành ở nhà, có tích luỹ điểm quá trình Bên cạnh sự hướng dẫn và giảng dạy của giảng viên, sinh viên được hỗ trợ bởi đội ngũ cố vấn học tập do Khoa chuyên môn phân công, trợ lý giáo vụ, trợ lý sinh viên của Khoa, và bộ phận kỹ thuật của Trung tâm Quản lý hệ thống thông tin của trường Việc triển khai đào tạo kết hợp này thuộc Đề án thí điểm đào tạo kết hợp của trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt năm 2019
Mô hình đào tạo kết hợp của Trường Đại học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh được tóm tắt trong sơ đồ sau:
Trang 27Mô hình đào tạo trực tuyến hoàn toàn
Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh chính thức triển khai tuyển sinh các chương trình đào tạo từ xa trực tuyến cấp bằng cử nhân từ tháng 7 năm
2016 Đến nay, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng được
hệ thống công nghệ đào tạo trực tuyến, trở thành một trong những trường đại học tiên phong tại Việt Nam cung cấp các chương trình đạo tạo trực tuyến toàn phần trình độ đại học Với nhiều hoạt động đầu tư hệ thống trang thiết bị hiện đại cho đào tạo trực tuyến, đến nay, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã có bước tiến đáng kể trong lĩnh vực đào tạo trực tuyến Đến nay, Trường đã triển khai
09 ngành cử nhân hình thức đào tạo từ xa qua mạng gồm: Quản trị kinh doanh, Kinh doanh quốc tế, Quản trị nhân lực, Kế toán, Kiểm toán, Tài chính ngân hàng, Luật, Luật Kinh tế và Ngôn ngữ Anh
Cũng như các trường đại học khác, khi triển khai đào tạo trực tuyến Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh phải đảm bảo các yêu cầu của Thông tư 12/2016 ngày 22/4/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đồng thời khi thực hiện các chương trình đào tạo trực tuyến, nhà trường xây dựng theo định hướng của Nguyên
lý đào tạo ELITES để đảm bảo được các yếu tố Tham gia (Engaging), Linking (Kết nối), Tương tác (Interactive), Tiến độ (Timing), Trải nghiệm (Experiential),
Hỗ trợ (Supportive) Lấy nguyên lý đào tạo làm kim chỉ nam khi thiết kế và xây dựng chương trình gắn liền với phương châm lấy người học làm trung tâm, trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh triển khai mô hình tổ chức học tập trực tuyến
có giảng viên hướng dẫn (Instructor-led) như sau:
Giảng viên: vai trò Hướng dẫn
Sinh viên: vai trò trung tâm, tích cực và chủ động trong quá trình học
Hệ thống quản lý học tập (LMS):
- Hồ sơ giảng viên, sinh viên
- Học liệu đa phương tiện: videos, slides, scripts, tài liệu khác
- Hoạt động đánh giá: bài tập tự đánh giá, bài kiểm tra
- Hoạt động thảo luận
Trang 28Hệ thống quản lý đào tạo:
- Thời khoá biểu
- Đăng ký môn học trực tuyến
- Quản lý điểm
- Xét tốt nghiệp
Hệ thống xây dựng và quản lý học liệu:
- Biên soạn môn học trực tuyến
- Cố vấn học tập: tư vấn về chương trình học và hỗ trợ về chuyên môn
- Kỹ thuật: tư vấn và hỗ trợ giải quyết các vấn đề liên quan đến việc sử dụng các hệ thống công nghệ thông tin như LMS, Edusoft, Đăng ký môn học trực tuyến
Hệ thống đánh giá và tổ chức thi:
- Đánh giá: quá trình và thi kết thúc môn học
- Thi kết thúc môn học: thi tập trung tại trường hoặc tại các đơn vị liên kết
Hệ thống quy trình thực hiện công việc của Trung tâm Đào tạo trực tuyến được tóm tắt trong mô hình sau:
Trang 30Kết luận và Kiến nghị
Về tầm nhìn và thực tiễn giáo dục trong những năm qua, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản thể hiện chủ trương phát triển, đổi mới giáo dục và đào tạo cùng với đẩy mạnh phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin như Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012-2020”, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương 8 khóa
XI về Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, Thông tư 12/2016 Thông
tư 12/2016/TT-BGDĐT ngày 22/4/2017 quy định việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng đối với các đại học, học viện, trường đại học Từ đó cho thấy Chính phủ Việt Nam rất quan tâm đến phát triển giáo dục
và đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin vào giáo dục đại học Những thành quả của ứng dụng CNTT vào giáo dục phát triển mạnh mẽ với phương thức đào tạo tiên tiến là eLearning đã và đang được ứng dụng tại nhiều trường đại học trong
và ngoài nước Viêc thực hiện thành công và hiệu quả phương thức này đòi hỏi mô hình tổ chức học tập phù hợp với đặc thù giáo dục của từng quốc gia, từng trường
Căn cứ vào các mô hình tổ chức đào tạo eLearning được nêu trên, bài viết
đề xuất mô hình tổ chức học tập eLearning áp dụng cho Việt Nam có thể triển khai theo 02 hướng: 1) trực tuyến hoàn toàn (fully online) và 2) kết hợp (blended) Tương ứng với từng loại, mô hình tổ chức học tập cụ thể được nêu cụ thể như sau:
Mô hình tổ chức học tập trực tuyến hoàn toàn (fully online)
Giảng viên
Hệ thống quản lý học tập LMS
Hệ thống quản lý đào tạo
Hệ thống xây dựng và quản lý học liệu
Hệ thống hỗ trợ
Hệ thống đánh giá và tổ chức thi
Hệ thống đảm bảo chất lượng
Trang 31Mô hình tổ chức học tập kết hợp (blended)
Trang 32TÀI LIỆU THAM KHẢO
Abu Hassan, A (2005) Adult Learners and eLearning Readiness: A Case Study
Adult Learners and ELearning Readiness: A Case Study Presented at the
The European College Teaching and Learning Con
Ali, S., Uppal, M A., & Gulliver, S (2018) A conceptual framework highlighting
e-learning implementation barriers Information Technology & People,
31(1), 156–180
Alias, N A., & Zainuddin, A M (2005) Innovation for Better Teaching and
Learning: Adopting the Learning Management System Malaysian Online
Journal of Instructional Technology, 2(2), 27–40
Alonso, F., López, G., Manrique, D., & Viñes, J M (2005) An instructional
model for web-based e-learning education with a blended learning process
approach British Journal of Educational Technology, 36(2)
Anderson, B., Brown, M., Murray, F., Simpson, M., & Mentis, M (2006) Global
picture, local lessons: E-learning policy and accessibility (Progress Report
No 1)
Annika, A., & Åke, G (2009) A CONCEPTUAL FRAMEWORK FOR
E-LEARNING IN DEVELOPING COUNTRIES: A CRITICAL REVIEW
OF RESEARCH CHALLENGES The Electronic Journal of Information
Systems in Developing Countries, 38(8), 1–16
Berge, Z., & Leary, J (2006) Trends and challenges of eLearning in national and
international agricultural development International Journal of Education
and Development Using ICT, 2(2), 51–59
Cross, J (2004) An informal history of eLearning On the Horizon, 12(3), 103–
110
Ellis, R A., Ginns, P., & Piggott, L (2009) E-learning in higher education: Some
key aspects and their relationship to approaches to study Higher Education
Research & Development, 28(3), 303
Guri-Rosenblit, S., & Gros, B (2011) E-learning: Confusing terminology,
research gaps and inherent challenges International Journal of E-Learning
Trang 33& Distance Education/Revue Internationale Du e-Learning et La Formation à Distance, 25(1)
Harasim, L (2000) Shift happens: Online education as a new paradigm in
learning The Internet and Higher Education, 3(1), 41–61
Horton, W., & Horton, K (2003) E-learning Tools and Technologies: A
consumer’s guide for trainers, teachers, educators, and instructional designers John Wiley & Sons
Inan, F., Lowther, D L., & Ross, S M (2010) Pattern of classroom activities
during students’ use of computers: Relations between instructional
strategies and computer applications Teaching & Teacher Education,
26(3), 540–547
Kattoua, T (2016) A Review of Literature on E-Learning Systems in Higher
Education International Journal of Business Management and Economic
Research, 7(5), 754–762
Khan, B H (2005) E-learning quick checklist IGI Global
Kidd, T T (2010) A brief history of eLearning Web-Based Education: Concepts,
Methodologies, Tools and Applications, pp 1–8
Koohang, A., & Harman, K (2005) Open source: A metaphor for e-learning
Informing Science: The International Journal of an Emerging Transdiscipline, 8
Lister, M (2016) Trends in the design of e-learning and online learning Journal
of Online Learning and Teaching, 10(4), 671
Magdalene, R., & Sridharan, D (2018) Powering elearning through technology:
An overview of recent trends in educational technologies The Online
Journal of Distance Education and Elearning, 6(1), 60–66
Mbarek, R., & Zaddem, F (2013) Determinants of E-Learning Effectiveness: A
Tunisian Study IBIMA Business Review, 2013(2013)
Moore, M G., & Kearsley, G (2011) Distance education: A systems view of
online learning Cengage Learning
Trang 34Naresh, B., & Bhanu, S R (2015) Challenges and Opportunity of E-Learning in
Developed and Developing Countries- A Review International Journal of
Emerging Research in Management &Technology, 4(6), 259–262
Nichols, M (2003) A theory for eLearning Educational Technology & Society,
6(2), 1–10
Pituch, K A., & Lee, Y K (2006) The influence of system characteristics on
e-learning use Computers & Education, 47(2), 222–244
Saeed Qasim, Y., & Al-Khalidi (2014) New Paradigm of Effective e-Learning
through System Development Life Cycle Structure International Journal
of Information and Education Technology, 4(2)
Santosh, P., & Sanjaya, M (2007) E-Learning in a Mega Open University: Faculty
attitude, barriers and motivators Educational Media International, 44(4),
323–338
Thu, T T L (2019) QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN TẠI CÁC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI, Ha
Noi
Trang 35VAI TRÒ VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG ĐÀO TẠO ELEARNING
Tóm tắt
Phương thức đào tạo eLearning (đào tạo trực tuyến) hiện nay đang dần dần chứng minh được vai trò của mình và đã được thay thế cho phương thức đào tạo truyền thống trong một số hình thức đào tạo, đặc biệt là đào tạo từ xa và đào tạo
có phạm vi lớn Một trong những yếu tố cho sự thành công này chính là việc ứng dụng hiệu quả các ưu thế của công nghệ trong các lĩnh vực: các loại hình nội dung
đa phương tiện, chiến lược phân phối nội dung, môi trường tương tác, quản lý dữ liệu học tập, quản lý đào tạo… Bài viết này chia sẻ một số kinh nghiệm của nhóm nghiên cứu trong việc xác định vai trò và cách ứng dụng công nghệ trong việc tổ chức phương thức đào tạo eLearning
Từ khoá: đào tạo trực tuyến, elearning, công nghệ giáo dục, đào tạo từ xa
1 Giới thiệu chung về đào tạo eLearning
1.1 Đào tạo eLearning là gì ?
a Định nghĩa
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ đã làm thay đổi phương thức làm việc của hầu hết các lĩnh vực, giúp nâng cao hiệu quả công việc và tạo ra những trải nghiệm mới Giáo dục đào tạo cũng không nằm ngoài xu thế đó với sự bùng nổ của công nghệ đào tạo trực tuyến (đào tạo eLearning) cũng như việc ứng dụng các công nghệ trong lĩnh vực này
Từ khoá eLearning được sử dụng lần đầu tiên năm 1999, tại một hội thảo
về việc sử dụng máy tính trong đào tạo tại Los Angeles, USA và dần dần trở nên
1 Đại học Mở Hà Nội
Email:dinhtuanlong@hou.edu.vn
Trang 36phổ biến Theo các nghiên cứu hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về đào tạo eLearning, chúng ta cùng điểm qua một số định nghĩa sau:
- eLearning là học sử dụng các công nghệ điện tử để tiếp cận chương trình giáo dục bên ngoài lớp học truyền thống Trong hầu hết các trường hợp,
nó đề cập đến một khóa học, chương trình hoặc bằng cấp được cung cấp hoàn toàn trực tuyến – theo Oxford Dictionary
- eLearning - Học trực tuyến, hay học điện tử, là việc cung cấp học tập và đào tạo thông qua các tài nguyên kỹ thuật số Mặc dù eLearning dựa trên việc học chính thức, nó được cung cấp thông qua các thiết bị điện tử như máy tính, máy tính bảng và thậm chí cả điện thoại di động được kết nối với internet Điều này giúp người dùng dễ dàng học mọi lúc, mọi nơi, với rất ít, nếu có, hạn chế - theo David Anderson
- Giáo dục trực tuyến (hay còn gọi là eLearning) là phương thức học ảo thông qua một máy vi tính,điện thoại thông minh nối mạng đối với một máy chủ ở nơi khác có lưu giữ sẵn bài giảng điện tử và phần mềm cần thiết để có thể hỏi/yêu cầu/ra đề cho học sinh học trực tuyến từ xa Giáo viên có thể truyền tải hình ảnh và âm thanh qua đường truyền băng thông rộng hoặc kết nối không dây (WiFi, WiMAX), mạng nội bộ (LAN) Mở rộng ra, các cá nhân hay các tổ chức đều có thể tự lập ra một trường học trực tuyến (e-school) mà nơi đó vẫn nhận đào tạo học viên, đóng học phí
và có các bài kiểm tra như các trường học khác – theo Wikipedia
Như vậy, tựu chung lại, ta có thể xác định được eLearning (còn gọi là đào tạo trực tuyến) là phương thức đào tạo có sử dụng các ưu thế của công nghệ thông tin và công nghệ viễn thông trong các hoạt động dạy và học
b Thực trạng đào tạo eLearning trên thế giới và Việt Nam
Đưa lớp học lên mạng Internet là một trào lưu đang bùng nổ tại Mỹ với hàng triệu học sinh phổ thông đăng ký học trực tuyến Không chỉ là một phong trào tự phát, tại nhiều bang ở Hoa Kỳ các nhà quản lý giáo dục đã ban hành quy định trước khi được công nhận tốt nghiệp, mỗi học sinh phải đăng ký học một số môn nhất định tại các lớp học trực tuyến Theo lý giải của các nhà quản lý, đây là bước chuẩn
bị nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiết cho việc học tại các trường
Trang 37đại học sau này và thích ứng với môi trường làm việc của thế kỷ 21 Việc học trực tuyến này không dừng lại ở trong các trường học mà cả các công ty cũng ưu tiên
sử dụng đào tạo trực tuyến cho các công việc đào tạo nhân viên của họ, theo báo cáo của của Brandon Hall Group Reaseach năm 2017, 77% các công ty cẩu Mỹ đã
sử dụng phương thức này Hiện nay, 65% các trường đại học của Mỹ đã hỗ trợ các tài nguyên giáo dục mở, 43% số sinh viên cho rằng đào tạo trực tuyến là rất có ích – theo Statista.com
Ở nhiều nước phát triển, eLearning được triển khai với quy mô sâu rộng với rất nhiều tính năng đi kèm với khóa học Không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ cho đào tạo truyền thống, Hàn Quốc là quốc gia đi đầu với việc thành lập 20 trường Đại học ảo (Cyber Universty) cho phép sinh viên học hoàn toàn trực tuyến và được cấp bằng đại học
Không chỉ ở các khu vực phát triển, eLearning còn rất thành công ở những khu vực như Châu Phi, với dự báo 15% tỉ lệ tăng trưởng hàng năm trong vòng 4 năm tới Một số quốc gia cụ thể như Senegal và Zambia đã cho thấy tốc độ tăng trưởng 30% trong việc tiếp cận và triển khai eLearning
Tại Việt Nam, mặc dù eLearning chỉ mới phát triển trong 10 năm trở lại đây nhưng đã nhanh chóng chứng minh sự thành công và thu hút được sự quan tâm của nhiều tổ chức cũng như người học, giúp cho Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ 4 về tốc độ phát triển eLearning trong giai đoạn 2013-2018
Trang 38Hình 1 Việt Nam đứng thứ 4 về tốc độ tăng trưởng eLearning
trong giai đoạn 2013 - 2018
Thành công này là do nhiều yếu tố như:
- Môi trường phát triển tiềm năng: Theo đánh giá của các nhà đầu tư, nhờ
sự hội nhập nhanh chóng với tiến bộ của thế giới trong mọi lĩnh vực mà Việt Nam là môi trường phát triển “eLearning” đầy tiềm năng Trong cuộc khảo sát tháng 3/2014, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trường thị trường giáo dục trực tuyến lớn nhất với 46%, vượt qua Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc Hình thức phổ biến nhất là dạy tiếng Anh qua mạng và luyện thi đại học
- Sự quan tâm của chính phủ và người dân với giáo dục: Theo báo cáo hàng năm, mức chi của chính phủ cho giáo dục tương đương 20% tổng chi ngân sách Nhà nước 47% chi tiêu của người dân Việt Nam dành cho giáo dục (theo nghiên cứu thị trường Taylor Nelson)
- Sự bùng nổ Internet tại Việt Nam: Theo báo cáo của cục Thương mại điện tử Việt Nam, hiện nay số lượng người dùng Internet trong nước dao động từ 37-40 triệu, trung bình mỗi người dành khoảng 2 giờ mỗi ngày
để truy cập Internet (chiếm 31.5% tổng thời gian sử dụng các phương
Trang 39tiện truyền thông, tỷ lệ này ngày càng tăng đặc biệt là ở những người trẻ tuổi) Người Việt ngày càng sử dụng Internet nhiều hơn đã tạo cơ hội lớn hơn cho việc phát triển các loại hình dịch vụ dựa trên công nghệ trực tuyến
- Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng với 50% tổng dân số nằm trong độ tuổi 15-64 Những người trẻ có tư tưởng tiến bộ, tiếp thu tiến
bộ của nhân loại, sẵn sàng tiếp nhận phương pháp học mới thay thế cách học truyền thống
c Ưu điểm của học tập theo phương thức eLearning
Với đặc điểm dựa trên sự phát triển của công nghệ và khả năng kết nối mạnh
mẽ, eLearning mang lại nhiều ưu điểm như:
- Đơn giản và dễ dàng tiếp cận đến người học: Khi việc học tập được phát
triển dựa trên công nghệ là Internet thì việc tiếp cận rất dễ dàng hơn, người học có thể tiếp cận và học bất cứ nơi đâu mà không nhất thiết phải đến trường học
- Tính linh hoạt: Có thể dễ dàng thấy được nền tảng của công nghệ học
trực tuyến là linh hoạt do nó gắn liền với Internet Từ khi người học tiến hành đăng kí bắt đầu khóa học đến lúc hoàn tất, người học hoàn toàn có thể chủ động học theo thời gian biểu mình định ra, không bị gò bó bởi thời gian và không gian lớp học dù vẫn đang ở trong lớp học “ảo” mà
hệ thống đạo tạo eLearning tạo ra
- Chủ động định hướng: Trong thời đại hiện nay giáo dục nói chung và
đào tạo trực tuyến nói riêng đều được xem như là một dịch vụ Người học hoàn toàn có thể định hướng cho mình bằng cách lựa chọn các khóa học phù hợp với nhu cầu, trình độ của mình
- Tùy biến học tập: Người học có thể tự điều chỉnh nhịp điệu khóa học
cho mình, nghĩa là có thể học từ từ hay nhanh do thời gian mình tự sắp xếp hay do khả năng tiếp thu kiến thức của mình
- Tính đồng bộ: Giáo trình và tài liệu của các khóa học trực tuyến có tính
đồng bộ cao vì chương trình cùng các tài liệu được soạn thảo được đưa lên trang trực tuyến từ ban đầu
Trang 40- Tương tác và hợp tác: Người học có thể giao lưu và tương tác với nhiều
người cùng lúc, có thể hợp tác với bạn bè trong nhóm học trực tuyến để thảo luận và làm bài tập về nhà Ngày nay, việc tương tác và hợp tác trên Internet là phổ biến qua forum, blog, Facebook… người học có thể tận dụng Internet để “vừa làm, vừa học, vừa chơi”
Người học cũng cần phải biết lập kế hoạch phù hợp với bản thân, tự định hướng trong học tập, thực hiện tốt kế hoạch học tập đã đề ra
- Về phía nội dung học tập
Trong nhiều trường hợp, nội dung bài học không nên quá trừu tượng, quá phức tạp Đặc biệt là nội dung liên quan tới thí nghiệm, thực hành
mà Công nghệ thông tin không thể hiện được hay thể hiện kém hiệu quả
Hệ thống eLearning cũng không thể thay thế được các hoạt động liên quan tới việc rèn luyện và hình thành kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng thao tác và vận động
- Về yếu tố công nghệ
Sự hạn chế về kỹ năng công nghệ của người học hoặc giáo viên lớn tuổi sẽ làm giảm đáng kể hiệu quả, chất lượng đào tạo dựa trên hình thức eLearning
Bên cạnh đó, hạ tầng công nghệ thông tin (mạng internet, băng thông, chi phí…) cũng ảnh hưởng đảng kể tới tiến độ, chất lượng học tập