và Mướp hổ Trichosanthes anguina L gồm 38 nguồn gen đang lưu giữ tại Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia NHGCTQG Phụ lục 1, Trung tâm Tài nguyên thực vật TTTNTV, đã xác định một số nguồn
Trang 1NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG DƯA TRỜI
THEO HƯỚNG THÂM CANH
Lưu Ngọc Trình, Đỗ Mạnh Thụ, Đặng Văn Duyến, Lưu Quang Huy, Ngô Thị Thanh Vân Summary:
Study on some technical methods to grow the snake gourd toward intensive cultivation
In Viet Nam, the snake gourd is cultivated extensively in home gardens or intercropped with upland rice in mountanous areas, that is reason why it has other names such as mountain gourd, rice gourd, heaven gourd
Two promising snake gourd varieties having the accesion numbers SDK 9787 and SDK 12878, which originate from Son La and Lai Chau provinces respectively, were selected from the snake gourd collection maintained in the National Crop Genebank at An Khanh commune, Hoai Duc district The trial research results showed that they can adapt and raise high yield in intensive cultivation condition
in Red River Delta, and also are prefered by consummers as an organic vegetable
The research study on growing method toward intensive condition for those two snake gourd showed that, with the optimum plant density from 3000 - 3500 plants per hecta and the optimum fertilization of 10 ton muck, 75 kg P2O5, 60 kg K2O, 400 kg lime and 120 - 150 kg N per hecta, the fruit yield is over 40 tons per ha in both Spring - Summer and Summer - Autumn Seasons
Keywords: Snake Gourd, Vegetable, Crop Germplasm
I §ÆT VÊN §Ò
Cây Dưa trời (Trichosanthes
cucumerina L.) còn gọi là Dưa núi, Dưa lúa
thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), được
trồng truyền thống quảng canh lâu đời ở các
vùng trung du, miền núi của nước ta, chủ
yếu lấy quả làm rau (Phạm Hoàng Hộ,
1999) Dưa trời có ưu điểm là quả sai, ra
nhiều đợt, hầu như không bị sâu bệnh phá
hoại và đa dạng phương thức sử dụng Quả
non làm rau có thể ăn sống, luộc, xào nấu,
quả chín có vị ngọt được ăn tươi hoặc làm
xi rô, ngọn và lá non được sử dụng làm rau
xanh như rau bí
Trong quá trình nghiên cứu, đánh giá
tập đoàn quỹ gen Dưa trời (Trichosanthes
cucumerina L.) và Mướp hổ ((Trichosanthes
anguina L) gồm 38 nguồn gen đang lưu giữ
tại Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia
(NHGCTQG) (Phụ lục 1), Trung tâm Tài
nguyên thực vật (TTTNTV), đã xác định
một số nguồn gen Dưa trời có những ưu
điểm quý như thời gian sinh trưởng ngắn, sai quả, năng suất cao, kháng sâu bệnh, chịu hạn và sản phNm được thị trường ưa chuộng
Ở vùng cao Dưa trời được trồng quảng canh theo hai hình thức Một là trồng trong vườn như là mướp, bầu Hai là trồng xen với lúa nương trên nương rẫy (vì thế có tên gọi
là Dưa núi hoặc Dưa lúa) Sản phNm của Dưa trời do đó mang tính chất tự cấp, tự túc,
bổ sung nguồn rau xanh cho gia đình, hoặc làm quả giải khát cho người dân đi làm nương rẫy TTTN TV đã trồng thử các nguồn gen Dưa trời được bình tuyển có triển vọng như SĐK 7781, SĐK 9787, SĐK 12878 theo hướng thâm canh, kết quả cho thấy các giống này chịu thâm canh, năng suất cao, hầu như không bị sâu bệnh hại, phNm chất quả vẫn giữ như là trồng quảng canh Muốn trồng Dưa trời theo hướng thâm canh nhằm tạo ra sản phNm hàng hóa, phải nghiên cứu
kỹ thuật trồng mới Trần Danh Sửu và ctv
2008 đã bước đầu nghiên cứu một số kỹ
Trang 2thuật trồng Dưa trời đối với hai giống có số
đăng ký SĐK 7781 và SĐK 12878 Việc
nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng Dưa
trời theo hướng thâm canh được Trung tâm
Tài nguyên thực vật tiếp tục và hoàn
thiện để xây dựng quy trình kỹ thuật giúp
nông dân thâm canh hóa cây Dưa trời, góp
phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa
dạng hóa nguồn rau an toàn Báo cào này
trình bày kết quả nghiên cứu mật độ trồng,
liều lượng phân đạm và mùa vụ gieo trồng
của hai giống Dưa trời triển vọng nói trên
II VËT LIÖU Vµ PH¦¥NG PH¸P NGHI£N CøU
1 Vật liệu nghiên cứu
Giống Dưa trời có số đăng ký SĐK
9787 có nguồn gốc từ Mộc Châu, Sơn La
và SĐK 12878 có nguồn gốc từ Kỳ Sơn,
Hòa Bình Cả hai giống này đều thu thập
năm 2000 và hiện đang lưu giữ tại Ngân
hàng gen cây trồng Quốc gia
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu mật độ (MĐ) và
khoảng cách trồng
Thí nghiệm được thực hiện với bốn mật
độ và khoảng cách khoảng trồng khác nhau
Khoảng cách giữa các luống lấy theo
khoảng cách trồng phổ biến của mướp, bí,
dưa chuột là 1,5m Mật độ khác nhau được
điều chỉnh theo khoảng cách giữa các cây
trên cùng một hàng
- Công thức 1(ĐC) (CT1): MĐ 2.500
cây/ha; hàng - hàng 1m; cây - cây 2,65m
- Công thức 2 (CT2): MĐ 3.000 cây/ha;
hàng - hàng 1,5m; cây - cây 2,20m
- Công thức 3 (CT3): MĐ 3.500 cây/ha;
hàng - hàng 1,5m; cây - cây 1,90m
- Công thức 4 (CT4): MĐ 4.000 cây/ha;
hàng - hàng 1,5m; cây - cây 1,65m
Nền phân bón cho 1ha là: 10 tấn phân
chuồng 90kgN, 75kgP O , 60kgKO, 400kg
vôi bột, đây là nền phân bón được nông dân
sử dụng trồng bí xanh và mướp thâm canh
2.2 Nghiên cứu liều lượng phân đạm
Thí nghiệm được thực hiện với bốn
mức phân đạm cho 1ha
- Công thức 1 (CT1): 60N
- Công thức 2 (CT2): 90N
- Công thức 3 (CT3): 120N
- Công thức 4 (CT4): 150 N Trần Danh Sửu 2008, trong thí nghiệm
sử dụng mức phân đạm cao nhất là 90kg N/ha nhưng năng suất vẫn chưa vượt ngưỡng nên ở nghiên cứu này thí nghiệm thêm các mức phân đạm cao hơn là 120N/ha và 150N/ha Nền phân bón chung: 10 tấn phân chuồng, 75kgP2O5, 60kgK2O, 400kg vôi bột, đây là mức bón phân hữu cơ, lân, kali
và vôi bột thông dụng trong sản xuất đối với việc trồng bí xanh và mướp theo hướng thâm canh
Mật độ trồng là 3.000 cây/ha, khoảng cách trồng là: hàng - hàng 1,5m; cây - cây 2,2m
2.3 Nghiên cứu mùa vụ
Ở một số địa phương như Kỳ Sơn, Hòa Bình, Dưa trời được trồng vào hai vụ là xuân - hè (Gieo giữa tháng 2 đầu tháng 3, kết thúc thu hoạch vào cuối tháng 6, vụ hè - thu gieo giữa tháng 5 đến đầu tháng 6 kết thúc thu hoạch vào cuối tháng 9)
Trong nghiên cứu này thí nghiệm chính quy được tiến hành với hai mùa vụ là:
- Công thức 1(CT1): Vụ xuân- hè (gieo ngày 15/2)
- Công thức 2 (CT2): Vụ hè -thu (gieo ngày 15/5)
Mật độ trồng 3.000 cây/ha, khoảng cách trồng hàng - hàng 1,5m; cây - cây 2,2m Nền phân bón 10 tấn phân chuồng
Trang 390kgN, 75kgP2O5, 60kgK2O, 400 kg vôi
bột Các thí nghiệm mật độ trồng, phân bón
và mùa vụ được bố trí theo phương pháp
khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 lần lặp
lại, diện tích ô thí nghiệm 25m2 Đánh giá
và thu thập số liệu được tiến hành theo bản
mẫu của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển rau màu châu Á (AVRDC) Số liệu được xử lý theo chương trình thống kê thông dụng Các thí nghiệm được tiến hành tại xã Tiền Phong, Mê Linh, Hà Nội
III KÕT QU¶ Vµ TH¶O LUËN
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và khoảng cách trồng
Bảng 1 Thời gian sinh trưởng phát triển ở các mật độ khác khau
Giống Công thức
Thời gian các giai đoạn sinh trưởng và phát triển (ngày)
Gieo - Mọc Mọc - Ra hoa
cái
Ra hoa cái-Thu quả TP đầu tiên
Thời gian thu hoạch TGST
SĐK
9787
SĐK
12878
Thời gian sinh trưởng và phát triển ở
các mật độ trồng khác nhau được ghi ở
Bảng 1 Kết quả cho thấy thời gian Gieo -
Mọc của cả hai giống đều như nhau ở các
mật độ trồng khác nhau Các giai đoạn sinh
trưởng còn lại: Mọc - Ra hoa cái, Ra hoa
cái - Thu quả thương phNm đầu tiên, Thời
gian thu hoạch và thời gian sinh trưởng
(TGST) của hai giống ở các mật độ trồng
khác nhau chênh lệch nhau không đáng kể
Năng suất và các yếu tố cấu thành năng
suất ở các mật độ trồng khác nhau của hai
giống được trình bày ở Bảng 2 Kết quả cho
thấy:
- Hệ số biến động của năng suất thực
thu hai giống SĐK 9787 và SĐK 12878 ở
các mật độ khác nhau tương ứng là 13,1%
và 12,4%
- Số quả/cây có xu hướng tăng dần từ mật độ 2500 cây/ha đến 3000 cây/ha, sau
đó lại có xu hướng giảm dần ở mức mật độ
từ 3500 cây/ha đến 4000 cây/ha Mật độ
3000 cây/ha cho số quả trên cây cao nhất đối với cả hai giống, tương ứng là giống SĐK 9787 có 147,4 quả và giống SĐK
12878 có 128,8 quả Mật độ 4000 cây/ha cho số quả/cây thấp nhất ở cả hai giống, tương ứng là SĐK 9787 có 93,0 quả và SĐK 12878 có 81,5 quả
- Năng suất thực thu:
+ Đối với giống SĐK 9787: Mật độ 3000 cây/ha cho năng suất cao nhất, 42,3 tấn/ha; tiếp theo là mật độ 3500 cây/ha, 40,5 tấn/ha, cả hai mật độ này đều cao hơn so với các mật độ 2500/ha và 4000 cây/ha ở độ tin cậy 99%
Bảng 2 %ăng suất và yếu tố cấu thành năng suất ở các MĐ trồng khác nhau
Giống Công thức Số quả/cây
(quả)
Chiều dài
quả (cm)
Đ.Kính
quả (cm)
Dày thành quả (mm)
Khối lượng quả (g)
NS quả thực thu (tấn/ha)
SĐK 9787 MĐ 2.500 (ĐC) 132,2 20,5 3,5 7,5 90 31,5
Trang 4Giống Công thức Số quả/cây
(quả)
Chiều dài
quả (cm)
Đ.Kính
quả (cm)
Dày thành quả (mm)
Khối lượng quả (g)
NS quả thực thu (tấn/ha)
MĐ 3.000 147,4 20,3 3,4 7,3 85 42,3
MĐ 3.500 121,6 18,7 3,2 7,3 87 40,5
MĐ 4.000 93,0 18,0 3,2 7,2 87 35,5
SĐK 12878
MĐ 2.500 124,3 23,00 3,5 7,5 105 33,2
MĐ 3.000 128,8 22,50 3,3 7,4 103 41,5
MĐ 3.500 115,9 21,00 3,2 7,2 105 42,5
MĐ 4.000 81,5 21,00 3,2 7,2 103 34,7
+ Đối với giống SĐK 12878: Mật độ
3500 cây/ha đạt năng suất cao nhất: 42,5
tấn/ha; tiếp theo là 3000 cây/ha; 41,5 tấn/ha
cả hai mật độ này đều cao hơn có nghĩa so
với các mật độ 2500/ha và 4000 cây/ha với
độ tin cậy 99%
Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến sinh trưởng phát triển và năng suất Kết quả Bảng 3 cho thấy liều lượng phân đạm không ảnh nhiều đến thời gian sinh trưởng phát triển và hai giống Dưa trời có thời
gian sinh trưởng phát triển tương đương nhau
Bảng 3 Thời gian sinh trưởng phát triển ở các nền phân đạm khác nhau
Giống Mức phân bón
Thời gian các giai đoạn sinh trưởng và phát triển (ngày)
Gieo - mọc Mọc - ra
hoa cái
Ra hoa cái-thu quả
TP đầu tiên
Thời gian thu hoạch TGST
SĐK
9787
SĐK 12878
Bảng 4 %ăng suất và các yếu tố cấu thành năng suất ở các nền phân đạm khác nhau
Giống Công thức Số quả/cây
(quả)
Chiều dài quả (cm)
Đ.Kính quả (cm)
Khối lượng quả (g)
Dày thành quả (mm)
NS quả thực thu (tấn/ha)
SĐK
9787
CT2 (90N,ĐC) 141,2 18,5 3,0 85 7,3 40,3
Trang 5CV(%) 9,3
SĐK
12878
CT2 (90N, ĐC) 127,8 22,5 3,3 103 7,4 40,3 CT3 (120N) 142,2 23,7 3,2 105 7,2 44,8 CT4 (150N) 148,6 23,5 3,2 103 7,2 46,8
Kết quả Bảng 4 về năng suất và các yếu
tố cấu thành năng suất ở các nền phân đạm
khác nhau cho thấy:
- Hệ số biến động của năng suất thực
thu hai giống SĐK 9787 và SĐK 12878 ở
các nền phân đạm khác nhau tương ứng là
9,3% và 9,6%; thấp hơn hệ số biến động
giữa các mật độ trình bày ở Bảng 2
- Số quả/cây có xu hướng tăng dần từ
theo mức tăng của liều lượng phân đạm từ
60kgN đến 150kgN với cả hai giống Dưa
trời Trong đó, giống SĐK 9787 ở mức
150kgN/ha, đạt 156,8 quả/cây, và giống
SĐK 12878 có 148,6 quả
- Năng suất thực thu:
+ Đối với giống SĐK 9787: Mức phân đạm 150kgN/ha cho năng suất cao nhất 44,7 tấn/ha; tiếp theo là mức phân đạm 120kgN/ha; 43,3 tấn/ha; cả hai mức phân đạm này đều cao hơn có nghĩa so với các mức phân đạm 60kgN và 90kgN/ha
+ Đối với giống SĐK 12878: Mức phân đạm 150kgN/ha cho năng suất cao nhất 44,7 tấn/ha; tiếp theo là mức phân đạm 120N/ha; 44,8 tấn/ha; cả hai mức phân đạm này đều cao hơn có nghĩa so với các mức phân đạm 60kgN và 90kgN/ha
3 Nghiên cứu mùa vụ trồng Dưa trời theo hướng thâm canh
Bảng 5 Thời gian của một số giai đoạn sinh trưởng phát triển (ngày)
Chỉ tiêu theo dõi
Giống SĐK 9787 Giống SĐK 12878
Vụ xuân-hè (15/2)
Vụ hè - thu (15/5)
Vụ xuân-hè (15/2)
Vụ hè - thu (15/5)
Thời gian ra hoa cái - thu quả TP) 16 14 17 15
Kết quả Bảng 5 cho thấy: Thời gian
sinh trưởng phát triển vụ xuân hè lớn hơn
thời gian sinh trưởng phát triển vụ hè thu
đối với cả hai giống Dưa trời Đối với
giống SĐK 9787 vụ xuân hè là 144 ngày,
vụ hè thu là 133 ngày; giống SĐK 12878
vụ xuân hè là 148 ngày và vụ hè thu là
136 ngày
Trang 6Kết quả Bảng 6 cho thấy: Trong hai
mùa vụ xuân hè và hè thu năng suất của hai
giống Dưa trời chênh lệch nhau ở mức không ý nghĩa 95%
Bảng 6 %ăng suất và các yếu tố cấu thành năng suất ở hai mùa vụ
Chỉ tiêu theo dõi
Giống SĐK 9787 Giống SĐK 12878
Vụ xuân hè (15/2)
Vụ hè thu (15/5)
Vụ xuân hè (15/2)
Vụ hè thu (15/5)
Năng suất thực thu (tấn/ha) 40,5 40,0 44,5 43,1
Trang 7IV KÕT LUËN Vµ §Ò NGHÞ
1 Kết luận
1 Mật độ thích hợp trồng theo hướng thâm canh đối với hai giống Dưa trời SĐK
9787 và SĐK 12878 là từ 3000 đến 3500 cây/ha
2 Trên nền phân bón chung là 10 tấn phân chuồng, 75kgP2O5, 60kgK2O, 400kg vôi bột, mức phân đạm 120kgN/ha là thích hợp nhất Trong điều kiện thâm canh cao có thể
áp dụng mức phân đạm 150kgN/ha
3 Năng suất hai mùa vụ xuân hè (gieo 15/2) và hè thu (gieo 15/5) tương đương nhau
2 Đề nghị
Tiến hành nghiên cứu biện pháp kỹ thuật cho hai giống Dưa trời SĐK 9787 và 12878
tại một số vùng trồng rau chính của miền Bắc làm cơ sở để phát triển mở rộng sản xuất
Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến dư lượng thuốc Nitơrat (NO-3) trong sản phNm làm cơ sở tham gia vào mạng lưới cung cấp sản phNm rau an toàn TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Phạm Hoàng Hộ, 1999 Cây cỏ Việt Nam, Quyển I NXB Trẻ, Hà Nội
2 Trần Danh Sửu và ctv, 2008 Báo cáo tổng kết Đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn và
phát triển một số giống Dưa trời và Cải làn dùng làm rau xanh”
TS Phạm Xuân Liêm