1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuyển chọn định hướng các nhóm vi sinh vật đất có khả năng chống chịu với nồng độ muối cao và chuyển phèn gây độc với thực vật để sử dụng trong các vùng đất canh tác bị tác động bởi biến đổi khí hậu pptx

8 707 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 602,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TUYỂN CHỌN ĐỊNH HƯỚNG CÁC NHÓM VI SINH VẬT ĐẤT CÓ KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU VỚI NỒNG ĐỘ MUỐI CAO VÀ CHUYỂN PHÈN GÂY ĐỘC VỚI THỰC VẬT ĐỂ SỬ DỤNG TRONG CÁC VÙNG ĐẤT CANH TÁC BỊ TÁC ĐỘNG BỞI BI

Trang 1

TUYỂN CHỌN ĐỊNH HƯỚNG CÁC NHÓM VI SINH VẬT ĐẤT

CÓ KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU VỚI NỒNG ĐỘ MUỐI CAO

VÀ CHUYỂN PHÈN GÂY ĐỘC VỚI THỰC VẬT ĐỂ SỬ DỤNG TRONG CÁC VÙNG ĐẤT CANH TÁC BỊ TÁC ĐỘNG

BỞI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Đoàn Kim Hạnh1, Nguyễn Viết Hiệp1, Đặng Thương Thảo1

Summary

Orient selection of soil microorganism groups that having ability to alleviate salt stress (up to 6%) and convert sulfidic materials for use in agriculture production

areas which will be affected by climate changes

This study was carried out to deal with subjunctive effects of climate change on the Mekong River

Delta (MRD) and the Southeast of MRD in the future when almost agriculture production area will

be flooded with sea water and formed sulfidic materials Base on soil microorganism population adapting to unfavourable environment changes From 2006 to 2007, 114 soil samples were collected from 2 soil groups (saline soils and acid sulphate soils) of 6 provinces in the Mekong River Delta (MRD) and the Southeast of MRD to isolate microorganism strains 28 AMF strains, 36 bacteria strains, 11 actinomyces strains, 8 yeast strairs, 11 mold strains that having ability to alleviate salt stress (up to 6%) and convert sulfidic materials (>35%) were selected The sulfidic materials converting and salt - alleviating property of these isolates can be applied for dealing with

effects of climate change

Keywords: Acid sulphate soils, climate change, microorganisms, saline soils, sea level rise,

sulfidic materials

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về phát

triển bền vững tại Johannesburg (Cộng hòa

Nam Phi) năm 2002 đã nhận định rằng những

hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu trực

tiếp tác động đến sự sinh tồn của loài người,

cụ thể đến tài nguyên nước, năng lượng, sức

khỏe con người, nông nghiệp và an ninh

lương thực và đa dạng sinh học

Đứng thứ 5 về khả năng dễ tổn thương

do tác động của biến đổi khí hậu, Việt Nam

đã được Liên hiệp quốc chọn là quốc gia để

tiến hành nghiên cứu điển hình về biến đổi

khí hậu và phát triển con người Theo đó,

sinh kế của người Việt đang bị đe dọa

nghiêm trọng bởi những thay đổi khí hậu toàn cầu Quá trình xâm nhập mặn và thay đổi lưu lượng chảy của hệ thống sông Cửu Long sẽ làm thay đổi thành phần cơ giới, độ phì của đất, tăng diện tích đất bị nhiễm phèn, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sản lượng cây trồng

Trước khi con người kịp đưa ra các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, đã

và đang có một quá trình tiến hóa mới của sinh vật nhằm tự thích nghi và điều chỉnh với quá trình này Sự tiến hóa, thích nghi này mở màn cho những thay đổi có tính chất quyết định đến khả năng sinh tồn của mọi sinh vật về sau

1

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

Trang 2

Một số loài vi sinh vật đất sống trong

vùng rễ thực vật ở các khu vực đất mặn

thông qua quá trình tự biến đổi gen đã nâng

cao tính chống chịu mặn của mình, tự làm

cho chúng tồn tại, sinh trưởng và phát triển

được trong điều kiện môi trường sống có

những thay đổi bất lợi (như gia tăng nồng

độ muối trong đất, )

Fe2+ có trong đất phèn hoạt động đã

được chứng minh là có tính gây độc với

thực vật Cây trồng muốn tồn tại trong đất

phèn hoạt động thì hoặc là hệ rễ phải tiết ra

các phức chất hoặc quần thể vi sinh vật hội

sinh trong vùng rễ phải hoạt động đủ mạnh

để chuyển F2+ thành dạng Fe3+ không độc

với cây Khi quần thể vi sinh vật trong đất

có khả năng chuyển hóa F2+ thành Fe3+ hoạt

động mạnh sẽ làm tăng mức độ sống sót

của thực vật sống trên đất phèn hoạt động

Tận dụng tính chất “đi trước” thích nghi

của thế giới sống (đặc biệt là vi sinh vật đất)

để xây dựng các biện pháp khác nhau để đối

phó và thích ứng với hệ quả của biến đổi khí

hậu là điều tất yếu hiện nay

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Vật liệu

Các mẫu đất thuộc nhóm đất mặn và

đất phèn khu vực Đông Nam bộ cũng như

đồng bằng sông Cửu Long

2 Phương pháp

Lấy mẫu đất:

Mẫu đất được lấy theo chỉ dẫn của

FAO (1967) và Richard Bardgett, Michael

Usher, David Hopkins (2005)

Phân lập chủng

Bằng phương pháp Koch trên đĩa Petri

có chứa môi trường tương ứng Phân lập vi

khuNn sử dụng 2 môi trường: Thạch dinh

dưỡng và Molongoski - Klug Phân lập xạ

khuNn sử dụng môi trường Kuster - William

Phân lập nấm men sử dụng môi trường

Czapek - Dox - propionat Phân lập nấm mốc sử dụng môi trường Czapek - Dox (Atlas M Ronald, 2005) Riêng phân lập bào

tử nấm rễ cộng sinh: Kỹ thuật sàng ướt và ly tâm trong thang nồng độ Sucarose 50% (Brundrett Mark và cộng sự, 1996)

Kỹ thuật tuyển chọn:

Đánh giá mức độ chống chịu nồng độ muối bằng kỹ thuật thử nghiệm nồng độ liên tiếp của Pepper I L và Gerba C P (2005) Xác định khả năng chuyển nguyên liệu sinh phèn gây độc theo hướng dẫn của Donahue L R., Miller W R và Shickluna

C J (1998); King M G và Garey A M (1999); Wang T và Peverly H J (1999) III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1 Lấy mẫu

Từ năm 2006, nhóm đề tài đã tiến hành lấy tổng cộng 114 mẫu đất thuộc 2 nhóm đất là nhóm đất mặn và nhóm đất phèn trên địa bàn 6 tỉnh khu vực Đông N am bộ cùng với đồng bằng sông Cửu Long là: Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tầu, Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Long An Các vị trí lấy mẫu là những vị trí đang tiến hành canh tác nông nghiệp, không nằm trong diện quy hoạch phát triển công nghiệp

- dịch vụ - du lịch, được xác định sẽ bị ảnh hưởng khi nước biển dâng trong thời gian tới (hoặc là bị nhiễm mặn thêm hoặc là chuyển sang trạng thái phèn hoạt động) Các mẫu đất sau khi lấy được bảo quản

ở 4 - 50C và vận chuyển ngay về phòng thí nghiệm Bộ môn Vi sinh vật, Viện Thổ nhưỡng N ông hóa để tiến hành phân tích

2 Phân lập

Trên môi trường thạch dinh dưỡng và Molongoski - Klug đã phân lập được tổng

số 377 chủng vi khuNn trong đó có 256 chủng vi khuNn phân lập từ đất mặn, 121 chủng phân lập được từ đất phèn

Trang 3

Có 144 chủng xạ khuNn phân lập được

trên môi trường Kuster - William Trong số

này 95 chủng phân lập từ đất mặn và 49

chủng phân lập từ đất phèn

Sử dụng môi trường Czapek - Dox -

propionat đã phân lập được 202 chủng nấm

men (151 chủng từ đất mặn và 51 chủng từ

đất phèn) 243 chủng nấm mốc (203 chủng

từ đất mặn và 40 chủng từ đất phèn) phân

lập được trên môi trường Czapek - Dox

Bằng kỹ thuật sàng ướt và ly tâm trong

thang nồng độ Sucarose 50% đã tách được

127 chủng nấm rễ nội cộng sinh (AMF)

trong số đó 85 chủng là từ mẫu đất mặn và

42 chủng là từ mẫu đất phèn

Các chủng sau khi phân lập được làm sạch và tạo dòng thuần (với vi khuNn, xạ khuNn, nấm men, nấm mốc bằng cách pha loãng và cấy gạt liên tiếp trên đĩa petri có chứa môi trường tương ứng với khi phân lập, riêng nấm rễ nội sinh bằng cách cho nảy mầm bằng kỹ thuật màng kép sau đó lây nhiễm chủ động vào rễ cây ký chủ tương ứng)

N hững chủng này được sử dụng như là nguồn vật liệu cho công tác tuyển chọn định hướng về sau

Bảng 1 Số chủng vi sinh vật phân lập được ban đầu trên các nguồn mẫu đất khác nhau

Ảnh 1 Khu-n lạc vi khu-n (ảnh trái) và nấm men (ảnh phải) phân lập từ đất mặn

Ảnh 2 Bào tử nấm rễ nội cộng sinh (AMF) phân lập từ đất mặn (ảnh trái)

và đất phèn (ảnh phải)

Trang 4

3 Tuyển chọn

Theo kịch bản biến đổi khí hậu, các khu

vực đất mặn ở Đông Nam bộ sẽ có nguy cơ bị

mặn hóa cao hơn so với hiện nay, khu vực đất

phèn tiềm tàng ở đồng bằng sông Cửu Long

sẽ chuyển thành phèn hoạt động vì vậy hướng

chọn lọc ở đây là chọn lọc theo định hướng

Các chủng phân lập từ đất mặn sẽ chọn lọc

theo hướng chịu mặn cao, các chủng phân lập

từ đất phèn chọn lọc theo hướng chuyển phèn

gây độc (từ Fe2+ thành Fe3+)

Tuyển chọn theo hướng chịu mặn:

Kết quả tuyển chọn theo hướng chống

chịu mặn (bảng 02) cho thấy:

Mức chống chịu của vi sinh vật tỷ lệ

nghịch với nồng độ muối tan có trong đất

Điều này là hoàn toàn hợp lý vì ở một mức

nồng độ nào đấy trong môi trường sống các

cation (như Na+) và anion (Cl - ) đóng vai trò

như nhân tố kìm hãm sự phát triển của vi sinh

vật (Tortora J Gerard và cộng sự, 2002)

Ở nồng độ muối cao, đa số các chủng vi

sinh vật thử nghiệm đều không biểu hiện

khả năng chống chịu tuy nhiên một số

chủng vẫn tồn tại và phát triển được Khả

năng tồn tại ở nồng độ muối cao của các

chủng này được quyết định nhờ sự phát

triển mạnh mẽ các “bơm” proton chủ động

phân bố dày đặc trên bề mặt màng sinh chất của chính tế bào đó hoặc khả năng sinh và tiết các chất trao đổi bậc 1, bậc 2 vào môi trường sống (Bruce Alberts, 2004)

Với nồng độ muối tan trong đất cao nhất ở dãy thử nghiệm là 6,4%, có 15 chủng

vi khuNn, 9 chủng xạ khuNn, 6 chủng nấm men, 7 chủng nấm rễ có khả năng chống chịu được

Ở mức nồng độ muối tan trong đất là 3,2% (nồng độ mà theo dự đoán của Bernard P K Yerima và E Van Ranst năm

2005 có khoảng 30% diện tích đất các nước khu vực ven biển bị xâm mặn đến ngưỡng như vậy) có 17 chủng vi khuNn, 13 chủng

xạ khuNn, 13 chủng nấm men, 18 chủng nấm mốc và 24 chủng nấm rễ có biểu hiện khả năng chống chịu tốt

N ếu tính về tỷ lệ % các chủng vi sinh vật tham gia tuyển chọn về tính chống chịu nồng độ muối dễ dàng nhận thấy khả năng chống chiụ của các chủng nấm rễ và xạ khuNn là tương đối tốt Chính bản chất mối quan hệ cộng sinh đặc biệt giữa nấm rễ và thực vật quyết định tính chất chống chịu cao của chúng trong các điều kiện môi trường bất lợi (Brundrett Mark và cộng sự, 1996) Mức độ tổn thương tế bào của nấm men và vi khuNn cao hơn rất nhiều

Bảng 2 Khả năng chống chịu nồng độ muối trong đất của các chủng vi sinh vật phân lập

trên nhóm đất mặn

Trang 5

Tuyển chọn theo hướng chuyển đổi

nguyên liệu sinh phèn gây độc cho thực vật:

Nghiên cứu về điều kiện hình thành

phèn người ta nhận thấy trong phạm vi

10.000 năm trở lại đây, sau sự kiện dâng

lên của nước biển (biển tiến) lớn nhất gần

đây Khi mực nước biển dâng lên và làm

ngập đất, sulfat trong nước biển trộn lẫn

với các trầm tích đất chứa các ô-xít sắt và

các chất hữu cơ Trong các điều kiện hiếm

khí này, các vi khuNn ưa phân hủy các chất

vô cơ như Thiobacillus ferrooxidans tạo ra

các sulfua sắt (chủ yếu là dạng pyrit) Tới

một thời điểm nhất định, nhiệt độ ấm hơn

là điều kiện thích hợp hơn cho các vi

khuNn này, tạo ra một tiềm năng lớn hơn

cho sự hình thành của các sulfua sắt

(Brock D T và cộng sự, 1984) Các môi

trường ngập nước vùng nhiệt đới, chẳng

hạn các khu rừng đước hay các khu vực

cửa sông, có thể chứa hàm lượng pyrit cao

hơn so với các môi trường tương tự nhưng

ở vùng ôn đới Pyrit là ổn định cho tới khi

nó bị lộ ra ngoài không khí, từ thời điểm

này thì pyrit bị ôxi hóa và sinh ra axít

sulfuric N hư vậy phèn tiềm tàng chuyển

thành phèn hoạt động

Để chuyển đổi nguyên liệu sinh phèn

gây độc cho thực vật có nhiều cách khác

nhau, một trong số đó là sử dụng điều kiện

ôxi hóa khử để chuyển Fe2+ thành Fe3+

không độc với sinh vật, đặc biệt là thực vật

Đánh giá hiệu quả chuyển đổi Fe2+ thành

Fe3+ là hướng chọn lọc thứ 2 của đề tài

Kết quả chọn lọc theo hướng này (bảng 3)

cho thấy:

Trong tổng số 303 chủng vi sinh vật (vi

khuNn, xạ khuNn, nấm men, nấm mốc, nấm

rễ) kiểm tra chỉ có 21 chủng vi khuNn, 2

chủng xạ khuNn, 2 chủng nấm men, 4 chủng nấm mốc và 8 chủng nấm rễ biểu hiệu khả năng chuyển nguyên liệu sinh phèn gây độc cho thực vật >35% (lượng Fe2+ bị chuyển thành Fe3+ >35% sau 9 ngày ủ mẫu)

N hóm vi khuNn là nhóm chiếm ưu thế cao trong số các chủng kiểm tra có khả năng chuyển độc tính nguyên liệu sinh phèn cao (>35%) Điều này nói lên tính thích ứng cao của chúng trong hoạt động sinh phèn cũng như ức chế hình thành nguyên liệu phèn gây độc (Bernard P K Yerima, E

Van Ranst, 2005)

Tortora J Gerard và cộng sự (2002) thì cho rằng 90% các hoạt động liên quan đến quá trình sinh phèn và chuyển nguyên liệu sinh phèn gây độc là do vi khuNn và xạ khuNn quyết định N hóm sinh vật nhân thật như nấm mốc, nấm men và nấm rễ ít có vai trò quyết định mà chỉ đóng nhân tố phụ trợ thúc đNy quá trình sinh hoặc kìm hãm phèn xảy ra

N gười ta biết rất rõ rằng nhóm vi khuNn khử Fe3+ thành Fe2+ hoạt động mạnh trong điều kiện vi hiếu khí đến yếm khí, nhiệt độ cao, đất bị ngập nước (Begg C và cộng sự, 1994; Bernard P K Yerima, E Van Ranst, 2005) Xạ khuNn, nấm mốc, nấm men và nấm rễ thường hoạt động mạnh trong điều kiện từ vi hiếu khí đến hiếu khí (Paul Alvin Elldor và cộng sự), chính vì vậy số lượng chủng biểu hiện hoạt tính chuyển nguyên liệu phèn cao ở các nhóm này là ít

Mặc dù là nhóm yêu cầu ôxy trong điều kiện sinh trưởng và phát triển nhưng các chủng nấm rễ vẫn biểu hiện khả năng chuyển nguyên liệu sinh phèn cao (nấm rễ

có 8 chủng trong khi đó xạ khuNn, nấm men chỉ có 2 chủng, nấm mốc chỉ có 4 chủng)

Trang 6

điều này có thể là do hệ quả mối quan hệ

cộng sinh giữa nấm rễ và thực vật chủ

(Donahue L R., Miller W R và Shickluna

C J., 1983)

Một số chủng vi sinh vật kiểm tra

không biểu hiện khả năng chuyển nguyên

liệu phèn (không biểu hiện hoạt tính) ví

dụ như ở vi khuNn có tới 77/121 chủng

kiểm tra không có hoạt tính Điều này liên

quan đến hoạt động trao đổi chất của

chúng với các chu trình lưu huỳnh cũng

như sắt trong tự nhiên (Richard Bardgett,

Michael Usher, David Hopkins, 2005)

Hay nói cách khác vi sinh vật có khả

năng khử Fe+3 rất đa dạng, nhưng chủ

yếu vẫn thuộc về họ Geobacteraceae (ví

dụ điển hình là Geobacter metallireducen,

G sulfurreducens) ngoài ra một số loài

thuộc Shewanella, Ferrimonas, Aeromonas,

Proteobacteria, Geothrix, Geovibrio và

Ferribacter cũng có khả năng này Bên

cạnh khả năng khử Fe3+, một số trong số loài thuộc nhóm này còn có khả năng khử

Mn2+ (Lovley, 2006)

N ghiên cứu của Gareth M Evans và Judith C Furlong (2003) cho thấy, thông thường mức độ chuyển nguyên liệu phèn trong đất khu vực nhiệt đới dao động trong khoảng 5 - 20% sau từ 5 - 10 ngày

ủ Muốn ứng dụng những chủng vi sinh vật có hoạt tính kiểu tương đương như thế này trong công nghệ sinh học áp dụng để cải tạo đất đòi hỏi hoạt lực của chúng phải

>35% N hững sinh vật chuyển gen phải đạt được mức ý nghĩa >45% N hư vậy nếu căn cứ theo những định hướng tiêu chuNn của Gareth M Evans và Judith C Furlong (2003) chúng ta có thể có 37 chủng vi sinh vật ứng dụng trong cải tạo đất phèn

Bảng 3 Mức độ chuyển nguyên liệu sinh phèn (FeS 2 ) của các chủng tuyển chọn

sau 9 ngày ủ mẫu

STT Nhóm vi sinh vật Khả năng chuyển nguyên liệu sinh phèn

Không có hoạt tính Hoạt tính < 35% > 35%

Trang 7

T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam

7

IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ N GHN

1 Kết luận

1 Từ 114 mẫu đất thuộc 2 nhóm đất là nhóm đất mặn và nhóm đất phèn trên địa bàn 6 tỉnh khu vực Đông N am bộ cùng với đồng bằng sông Cửu Long đã phân lập được 377 chủng vi khuNn, 144 chủng xạ khuNn, 202 chủng nấm men, 243 chủng nấm mốc và 127 chủng nấm rễ làm nguồn nguyên liệu cho quá trình chọn lọc chủng

2 Trên cơ sở các chủng phân lập được, chọn lọc theo hướng chịu mặn đã xác định được 15 chủng vi khuNn, 9 chủng xạ khuNn, 6 chủng nấm men, 7 chủng nấm mốc, 20 chủng nấm rễ có khả năng chống chịu được nồng độ muối tan trong đất là 6,4% Tuyển chọn theo hướng chuyển nguyên liệu sinh phèn gây độc với thực vật đã tìm được 21 chủng vi khuNn, 2 chủng xạ khuNn, 2 chủng nấm men, 4 chủng nấm mốc và 8 chủng nấm rễ có khả năng chuyển đổi nguyên liệu sinh phèn gây độc cho thực vật > 35%

2 Đề nghị

- Xác định mức độ an toàn sinh học của các chủng tuyển chọn được (an toàn cho người, động vật và thực vật) theo quy định của FAO và WHO

- Thử nghiệm đồng ruộng để đánh giá đúng hiệu quả chọn lọc và xác định các giải pháp nhằm nâng cao khả năng hoạt động của các nhóm vi sinh vật này trong điều kiện đồng ruộng (điều kiện môi trường ngoài phòng thí nghiệm)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Atlas M Ronald, 2005 Handbook of Media for Environmental Microbiology CRC

Press Taylor & Francis Group

2 Begg C et al., 1994 Root - Induced Iron Oxidation and pH Changes in the Lowland

Rice Rhizosphere New Phytologist, Vol 128, No 3, pp 469 - 477

3 Bernard P K Yerima, E Van Ranst, 2005 Introduction to Soil Science: Soils of the

Tropics Trafford Publishing

4 Brock D T., et al, 1984 Biology of microorganisms PHI

5 Bruce Alberts, 2004 Mulecular Biology of the Cells Taylor & Francis Group

6 Brundrett Mark et al, 1996 Working with Mycorrhiza in Forestry and Agriculture

Canberra, Australia, pp 141 - 252

7 Donahue L R., Miller W R., and Shickluna C J., 1983 Soil: An introduction to

soils and plant growth PHI

8 FAO, 1967 A practical manual of siol microbiology laboratory methods Rome

9 Gareth M Evans, Judith C Furlong, 2003 Environmental Biotechnology: Theory

and Application John Wiley & Sons Ltd, West Sussex, England

Trang 8

T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam

8

10 King M G., and Garey A M., 1999 Ferric iron reduction by bacteria associated with

the roots of freshwater and marine macrophytes Applied and Enviroment Microbiology Vol 65, No 10, Oct 1999, pp 4393 - 4398

11 Lovley R Derek, 2006 Environmental Microbe - Metal Interactions ASM Press,

Washington, D.C 2000 Lu Yahai et al - Structure and activity of bacterial community inhabiting rice roots and the rhizosphere Environmental Microbiology, Volume 8, Issue 8/2006, pp 1351

12 Okalebo R J., et al., 1993 Laboratory methods of soil and plant analysis: A working

manual TSBF Program Kenya 1993

3gười phản biện: Hồ Quang Đức

Ngày đăng: 20/03/2014, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Số chủng vi sinh vật phân lập được ban đầu trên các nguồn mẫu đất khác nhau - Tuyển chọn định hướng các nhóm vi sinh vật đất có khả năng chống chịu với nồng độ muối cao và chuyển phèn gây độc với thực vật để sử dụng trong các vùng đất canh tác bị tác động bởi biến đổi khí hậu pptx
Bảng 1. Số chủng vi sinh vật phân lập được ban đầu trên các nguồn mẫu đất khác nhau (Trang 3)
Bảng 2. Khả năng chống chịu nồng độ muối trong đất của các chủng vi sinh vật phân lập - Tuyển chọn định hướng các nhóm vi sinh vật đất có khả năng chống chịu với nồng độ muối cao và chuyển phèn gây độc với thực vật để sử dụng trong các vùng đất canh tác bị tác động bởi biến đổi khí hậu pptx
Bảng 2. Khả năng chống chịu nồng độ muối trong đất của các chủng vi sinh vật phân lập (Trang 4)
Bảng 3. Mức độ chuyển nguyên liệu sinh phèn (FeS 2 ) của các chủng tuyển chọn - Tuyển chọn định hướng các nhóm vi sinh vật đất có khả năng chống chịu với nồng độ muối cao và chuyển phèn gây độc với thực vật để sử dụng trong các vùng đất canh tác bị tác động bởi biến đổi khí hậu pptx
Bảng 3. Mức độ chuyển nguyên liệu sinh phèn (FeS 2 ) của các chủng tuyển chọn (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w