1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng hấp thụ kim loại nặng của đất phù sa và đất bạc màu tại Hà Nội doc

6 570 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 428,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều thành phần khác nhau của đất hấp thu kim loại nặng, trong đó quan trọng nhất là chất hữu cơ, ôxít sắt tự do và khoáng sét.. đích của nghiên cứu này nhằm xác định được khả năng h

Trang 1

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG HẤP THU KIM LOẠI NẶNG

CỦA ĐẤT PHÙ SA VÀ ĐẤT XÁM BẠC MÀU TẠI HÀ NỘI

Bùi Thị Phương Loan1, Nguyễn Quang Hải2, Kazuhiko Egashira3

Summary

Heavy Metal Adsorption by Soils and Soil Components of Alluvial Soils

and Grey Degraded Soils in Hanoi, VIET AM

Heavy metal adsorption is considered as the most important mechanism for controlling the metal concentration in soil Heavy metals are bound to various soil components such as organic matter (OM), free iron oxides (Feoxs), and clay minerals (CMs) The present study is purposed to examine the adsorption of heavy metals by soils and different adsorbing soil components of alluvial soils and grey degraded soils in Hanoi

Two surface soil samples were collected from each of soil types in Hanoi and examined for the adsorption of three heavy metals (Cu, Pb and Zn) by the soils and their three adsorbing components (organic matter, free iron oxides and clay minerals)

It was found that adsorption of heavy metals by the alluvial soil was distinctly larger than by the grey degraded soil, and decreased in the sequence of Pb >> Cu > Zn for the former and of Pb >>

Zn > Cu for the latter

Pb was adsorbed by all three components with the largest adsorbed amount Zn was adsorbed selectively by organic matter and clay minerals, while Cu was selectively by organic matter and free iron oxides The amount of heavy metals adsorbed per unit mass of soil components reduced

in the sequence of organic matter > clay minerals > free iron oxides for Pb and Zn and organic matter > free iron oxides > clay minerals for Cu

Keywords: Heavy metal, adsorption, alluvial soil, grey degraded soil, Hanoi - Vietnam

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hà Nội là thành phố chịu tác động mạnh

mẽ của quá trình công nghiệp hóa và đô thị

hoá Bên cạnh lợi ích thúc đNy phát triển

kinh tế xã hội, vấn đề ô nhiễm môi trường

trong đó có môi trường đất, nước và không

khí đang gây tác động không nhỏ đến đời

sống và nền nông nghiệp của thủ đô Một

trong những vấn đề rất đáng được quan tâm

trong sản xuất nông nghiệp đó là mức độ ô

nhiễm các kim loại nặng có nguồn gốc khác

nhau trong đất ngày càng gia tăng, cản trở

quá trình sản xuất nông sản an toàn

Khả năng hấp thu của đất được coi là yếu tố quyết định hay cơ chế quan trọng nhất chi phối hàm lượng kim loại nặng trong đất Có nhiều thành phần khác nhau của đất hấp thu kim loại nặng, trong đó quan trọng nhất là chất hữu cơ, ôxít sắt tự

do và khoáng sét Do đó, các loại đất khác nhau có thể có khả năng hấp thu khác nhau đối với cùng một kim loại nặng

Tuy nhiên cho đến nay chưa có kết quả nghiên cứu cụ thể nào về khả năng hấp thu kim loại nặng trong các loại đất và vai trò của mỗi thành phần đất đối với khả năng hấp thu kim loại nặng Chính vì vậy mục

1 Viện Môi trường N ông nghiệp

2

Viện Thổ nhưỡng N ông hóa

3

Trường Đại học Kyushu - N hật Bản

Trang 2

đích của nghiên cứu này nhằm xác định

được khả năng hấp thu kim loại nặng và các

thành phần chủ yếu trong đất (đất phù sa và

đất xám bạc màu) từ đó giúp cho việc quản

lý và sử dụng hiệu quả các vùng đất trên

phục vụ sản xuất nông sản an toàn

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠN G PHÁP

N GHIÊN CỨU

1 Mẫu đất và địa điểm lấy mẫu

Đất phù sa của hệ thống sông Hồng

(được bồi từ trầm tích sông Hồng và phần

phía trên của Sông Đuống) được lấy ở xã

Minh Khai, huyện Từ Liêm và đất xám bạc

màu phát triển trên nền phù sa cũ của hệ

thống sông Hồng và đất feralít được lấy ở

xã Phú Minh, huyện Sóc Sơn Cả 2 mẫu đất

đều được lấy trên nền canh tác lúa nước và

gần đây là rau màu hoặc lúa - màu

Mẫu được lấy ở độ sâu 0 - 15 cm, phơi

khô không khí và rây qua rây 2 mm Các

tính chất lý hóa học, khoáng sét và khả

năng hấp thu kim loại nặng được phân tích

tại Trường Đại học Tổng hợp Kyushu,

N hật Bản

2 Xác định khả năng hấp thu của các

kim loại trong đất

Phương pháp thử nghiệm trạng thái cân

bằng đồng loạt (batch equilibrium test)

được sử dụng để xác định đường đẳng nhiệt

mô tả khả năng hấp thu kim loại nặng của

đất ChuNn bị dung dịch muối nitrate của

các kim loại nặng ở 7 mức nồng độ khác

nhau đối với Pb, Cu và Zn bao gồm: 50,

100, 250, 500, 1000, 1500 và 2000 mg/L

ChuNn bị 7 bộ ống ly tâm 50 - mL, cân

chính xác 2,0 g đất khô không khí vào các

ống ly tâm và thêm 20 mL các dung dịch

trên Lắc hỗn hợp trong vòng 24 giờ ở nhiệt

độ trong phòng (25oC) để đạt đến trạng thái

cân bằng về mặt trao đổi, sau đó ly tâm với

tốc độ 2.000 vòng/phút trong vòng 15 phút

và tiến hành lọc mẫu N ồng độ kim loại ở trạng thái cân bằng trong dung dịch được xác định bằng máy quang phổ hấp phụ nguyên tử Thí nghiệm được lặp lại 2 lần để đảm bảo độ chính xác

Lượng kim loại hấp thu được tính theo công thức:

qa =

m

)V C -(Ci f

Trong đó: Qa là lượng kim loại hấp thu trong 1 đơn vị khối lượng đất (mg/kg); Ci là nồng độ ban đầu (mg/L) của dung dịch muối nitrate kim loại trước khi thí nghiệm;

Cf là nồng độ ở trạng thái cân bằng trao đổi (mg/L) của kim loại trong dung dịch sau khi thí nghiệm; V là thể tích dung dịch muối nitrate kim loại (mL) và m là khối lượng đất (g) sử dụng trong thí nghiệm

3 Xác định khả năng hấp thu kim loại trong các thành phần đất

Một bộ gồm 3 mẫu chứa 2,0 g đất khô được đánh số là M - 1, M - 2 và M - 3, trong

đó với M - 1 chỉ cho 50 mL nước để xác định lượng hấp thu toàn bộ các thành phần của đất, cho 50 mL H2O2 7% vào M - 2 và M

- 3 để loại bỏ hữu cơ, tiếp tục cho 2,0 g bột hydrosulfite natri và 25 mL dung dịch citrate vào ống chứa M - 3 để loại bỏ sắt tự do ChuNn bị 3 bộ, mỗi bộ gồm 3 mẫu được

xỷ lý như mô tả ở trên để dùng cho thí nghiệm xác định khả năng hấp thu của 3 kim loại nặng Cu, Pb và Zn trong các thành phần đất (Sử dụng muối nitrate của từng kim loại nặng ở nồng độ 1500 ppm)

Lượng kim loại hấp thu trong từng thành phần đất được tính theo công thức:

qa =

m

)V C -(Ci f

Trong đó: Lượng kim loại hấp thu tính được từ M - 1, M - 2 và M - 3 lần lượt là qa -

1, qa - 2 và qa - 3 Trong đó qa - 1 tương ứng

Trang 3

với lượng kim loại hấp thu bởi toàn bộ các

thành phần của đất, lượng hấp thu do chất

hữu cơ được tính bằng cách lấy qa - 1 trừ đi qa

- 2 và lượng hấp thu do ôxít sắt tự do bằng qa

- 2 trừ qa - 3 Vì M - 3 đã được loại chất hữu

cơ và ôxít sắt tự do nên qa - 3 chính là lượng

hấp thu kim loại nặng chủ yếu do khoáng sét

III KẾT QUẢ N GHIÊN CỨU VÀ

THẢO LUẬN

1 Một số tính chất lý hóa học của đất

Tính chất của đất phù sa như sau: PH

(H2O): 7,7; hàm lượng hữu cơ: 17,2 g/kg;

ôxít sắt tự do: 43,3 g/kg; sét (cấp hạt <

2 µm) trong phần khoáng: 17,2%; và khoáng

sét hoạt động loại hình 2:1 (bao gồm tổng

hàm lượng mica, chlorite, vermiculite và smectite): 63% Các giá trị tương ứng của đất xám bạc màu là: 5,7; 13,8 g/kg; 4,3 g/kg; 6,7% và 35% (bao gồm tổng hàm lượng mica, chlorite, khoáng hỗn hợp mica/vermiculite/smectite ~ mica/smectite

và dạng quá độ chlorite - vermiculite)

2 Khả năng hấp thu kim loại nặng trong đất phù sa và đất xám bạc màu

Khả năng hấp thu của mỗi một kim loại (Cu, Pb, Zn) trong đất phù sa và đất xám bạc màu được biểu diễn bằng đường đẳng nhiệt tuân theo mô hình Freudlich với hệ số tương quan rất cao

Hình 1 Đường đẳng nhiệt biểu diễn khả năng hấp thu Cu, Pb, Zn của đất phù sa và đất xám bạc màu (Đồ thị giữa lượng kim loại nặng hấp thu (q a 10 - 1 ) và nồng độ cân bằng (C f )

được xây dựng theo mô hình Freudlich)

Trong tất cả các trường hợp, tại các

nồng độ ban đầu như nhau thì lượng hấp

thu đối với bất kỳ kim loại nào trong đất

phù sa cũng luôn cao hơn rõ rệt so với đất

xám bạc màu Điều này chứng tỏ khả

năng hấp thu kim loại nặng của đất phù sa cao hơn nhiều so với đất xám bạc màu Mức độ chênh lệch về lượng hấp thu đối với cùng 1 kim loại nặng giữa 2 loại đất ở các nồng độ Ci thấp là không đáng kể,

Trang 4

nhưng ở nồng độ Ci cao hơn thì mức

chênh lệch này cao hơn và phụ thuộc vào

các kim loại khác nhau: Cao nhất là đối với Pb, tiếp đến là Cu và Zn

C f (mg/L)

Alluvial soil

Pb

C f (mg/L)

Grey degraded soil

Cu Zn

Pb

Zn

Cu

q a

-1 (

q a

-1 (

C f (mg/L)

Alluvial soil

Pb

C f (mg/L)

Grey degraded soil

Cu Zn

Pb

Zn

Cu

q a

-1 (

q a

-1 (

Hình 2 Đường đẳng nhiệt biểu diễn khả năng hấp thu Cu, Pb và Zn trong đất phù sa và đất xám bạc màu (Đồ thị giữa lượng kim loại nặng hấp thu (q a 10 - 1 ) và nồng độ cân bằng (C f )

được xây dựng theo mô hình Freudlich)

Kết quả hình 2 cho thấy, khả năng hấp

thu của cùng 1 loại đất đối với các kim loại

khác nhau là khác nhau Đối với đất phù sa,

tốc độ hấp thu được giữ ở mức cao trong khi

nồng độ cân bằng còn lại rất thấp khi thí

nghiệm ở các nồng độ Ci từ 50 - 100 mg/L

đối với Zn, 50 - 250 mg/L với Cu và 50 -

1.000 mg/L với Pb Điều này có nghĩa là gần

như toàn bộ lượng kim loại nặng trong dung

dịch đã bị đất hấp thu hết và căn cứ vào

khoảng nồng độ Ci được ghi nhận ở trên thì

khả năng hấp thu kim loại nặng giảm theo

thứ tự Pb >> Cu > Zn Đối với đất xám bạc

màu thì tốc độ hấp thu giảm nhanh khi vượt

qua ngưỡng nồng độ Ci là 50 mg/L đối với

Cu và Zn và 250 mg/L với Pb Tốc độ hấp

thu của Cu giảm mạnh hơn Zn nên ở nồng

độ Ci = 2.000 mg/L thì lượng Cu hấp thu

thấp hơn lượng Zn Do đó khả năng hấp thu

kim loại nặng trong đất xám bạc màu giảm

theo thứ tự Pb >> Zn > Cu

3 Khả năng hấp thu kim loại nặng trong

các thành phần hấp thu của đất

Kết quả cho thấy ngưỡng hấp thu tối đa

của chất hữu cơ, ôxít sắt tự do và khoáng

sét đối với Pb cao hơn so với Cu và Zn

Giữa Cu và Zn thì lượng hấp thu Zn của

chất hữu cơ và khoáng sét cao hơn Cu, trong khi đó lượng hấp thu Zn của ôxít sắt

tự do thấp hơn nhiều Như vậy khi trong đất phù sa có hàm lượng ôxít sắt tự do cao thì tổng lượng Cu hấp thu trong cả 3 thành phần đất cao hơn so với Zn Điều này trái ngược so với đất xám bạc màu là loại đất có hàm lượng ôxít sắt tự do thấp Khoáng sét

có hàm lượng cao nhất trong 3 thành phần hấp thu của đất nên lượng kim loại chúng hấp thu chiếm tới 57,2 - 85,4% tổng lượng hấp thu tùy thuộc vào loại đất và loại kim loại nặng khác nhau Chất hữu cơ hấp thu 14,0 - 40,5%, ngược lại ôxít sắt tự do chỉ hấp thu lượng kim loại nhỏ hơn 10% so với tổng lượng hấp thu, trừ trường hợp đối với

Cu trong đất phù sa (27,1%) (hình 3) Lượng Cu, Pb và Zn hấp thu bởi 1 đơn

vị khối lượng hữu cơ và lượng Cu và Pb hấp thu bởi 1 đơn vị khối lượng ôxít sắt tự

do trong đất phù sa cao hơn trong đất bạc màu Ngược lại, lượng kim loại nặng hấp thu bởi 1 đơn vị khối lượng khoáng sét trong đất xám bạc màu lại cao hơn trong đất phù sa Điều này có thể do sự khác nhau về loại hình chất hữu cơ, dạng ôxít sắt tự do hoặc thành phần khoáng sét giữa 2 loại đất

Trang 5

Liên quan đến loại hình chất hấp thu,

lượng hấp thu giảm theo thứ tự chất hữu cơ

> khoáng sét > ôxít sắt tự do đối với Pb và

Zn và chất hữu cơ > ôxít sắt tự do > khoáng sét đối với Cu

Hình 3 Tỷ lệ phần trăm lượng hấp thu của một kim loại trong mỗi thành phần đất so với

tổng hấp thu trong thành phần đó

0%

20%

40%

60%

80%

100%

: ô-xít sắt tự do; : Chất hữu cơ; : khoáng sét

Đất xám bạc màu Đất phù sa

Trang 6

T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam

6

IV KẾT LUẬN

1 Đất phù sa có pH, hàm lượng chất hữu cơ, ôxít sắt tự do, hàm lượng sét và khoáng sét hoạt động loại hình 2:1 cao hơn so với đất xám bạc màu Nhờ đó, khả năng hấp thu kim loại nặng (Cu, Pb, Zn) của đất phù sa cao hơn hẳn so với đất xám bạc màu Trong cùng 1 loại đất khả năng hấp thu có quan hệ với thuộc tính của kim loại và các thành phần hấp thu của đất Đối với đất phù sa, khả năng hấp thu kim loại nặng giảm theo thứ

tự Pb >> Cu > Zn, còn đối với đất xám bạc màu là Pb >> Zn > Cu

2 Lượng kim loại nặng hấp thu bởi chất hữu cơ và khoáng sét giảm theo thứ tự Pb

>> Zn > Cu, bởi ôxít sắt tự do theo thứ tự Pb > Cu >> Zn Trong khi đó, lượng Pb và Zn hấp thu bởi 1 đơn vị khối lượng của thành phần đất giảm theo thứ tự chất hữu cơ > khoáng sét > ôxít sắt tự do và lượng Cu giảm theo thứ tự chất hữu cơ > ôxít sắt tự do > khoáng sét Sự khác nhau về khả năng hấp thu mỗi kim loại bởi 1 đơn vị khối lượng thành phần của đất phù sa và đất xám bạc màu là do sự khác biệt về loại hình chất hữu

cơ, dạng ôxít sắt tự do và thành phần khoáng sét của 2 loại đất này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bradl, H.B 2004 Adsorption of heavy metal ions on soils and soils constituents

Journal of Colloid and Interface Science, 277: 1 - 18

2 Do, O.H., Q.H Trinh and K Egashira, 2002 Mineralogy and clay degradation in

grey degraded soils of Vietnam Clay Science, 11: 535 - 547

3 Egashira K., A Kaieda, and Đo Oguyen Hai, 2002 General chemical fertility and chemical processes of grey degraded soils as a problem soils in Vietnam Journal of the

4 Ho Thi Lam Tra and K Egashira, 2000 Heavy metal characterization of river

sediment in Hanoi, Vietnam Communication in Soil Science and Plant analysis, 31:

2901 - 2916

5 Oguyễn Mạnh Khải, Phạm Quang Hà và I Oborn, 2006 Phương pháp cân bằng nguyên

tố để đánh giá rủi ro ô nhiễm môi trường đất: Một nghiên cứu về Cu và Zn trong đất vùng

ngoại ô Hà Nội Tạp chí Hội Khoa học Đất, 26: 112 - 118

6 Oguyen Quang Hai, Ho Thi Lam Tra, A.Z.M Moslehuddin and K Egashira, 2007 Clay

mineralogy of alluvial soils and grey degraded soils derived from the same river sediment

in the Red River Delta, northern Vietnam Clay Science, in press

7 Oguyen Quang Hai and K Egashira, 2005a Particle - size distribution and free iron oxides of alluvial soils from different agro - ecological regions in Vietnam Journal of the

Faculty of Agriculture, Kyushu University, 50: 243 - 254

8 Oguyen Quang Hai and K Egashira, 2005b Clay mineralogical composition of alluvial

soils from different river systems/agro - ecological regions in Vietnam in reference to

origin, regional distribution and soil quality Clay Science, 12: 349 - 360

gười phản biện: guyễn Hồng Sơn

Ngày đăng: 20/03/2014, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Đường đẳng nhiệt biểu diễn khả năng hấp thu Cu, Pb, Zn của đất phù sa và đất  xám bạc màu (Đồ thị giữa lượng kim loại nặng hấp thu (q a 10  - 1 ) và nồng độ cân bằng (C f ) - Nghiên cứu khả năng hấp thụ kim loại nặng của đất phù sa và đất bạc màu tại Hà Nội doc
Hình 1. Đường đẳng nhiệt biểu diễn khả năng hấp thu Cu, Pb, Zn của đất phù sa và đất xám bạc màu (Đồ thị giữa lượng kim loại nặng hấp thu (q a 10 - 1 ) và nồng độ cân bằng (C f ) (Trang 3)
Hình 2. Đường đẳng nhiệt biểu diễn khả năng hấp thu Cu, Pb và Zn trong đất phù sa và  đất xám bạc màu (Đồ thị giữa lượng kim loại nặng hấp thu (q a 10  - 1 ) và nồng độ cân bằng (C f ) - Nghiên cứu khả năng hấp thụ kim loại nặng của đất phù sa và đất bạc màu tại Hà Nội doc
Hình 2. Đường đẳng nhiệt biểu diễn khả năng hấp thu Cu, Pb và Zn trong đất phù sa và đất xám bạc màu (Đồ thị giữa lượng kim loại nặng hấp thu (q a 10 - 1 ) và nồng độ cân bằng (C f ) (Trang 4)
Hình 3. Tỷ lệ phần trăm lượng hấp thu của một kim loại trong mỗi thành phần đất so với - Nghiên cứu khả năng hấp thụ kim loại nặng của đất phù sa và đất bạc màu tại Hà Nội doc
Hình 3. Tỷ lệ phần trăm lượng hấp thu của một kim loại trong mỗi thành phần đất so với (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w