Sử dụng thân lá áo ngô sau thu hoạch làm thức ăn vỗ béo bò Laisind trong mùa khô hạn Use maize trunk and ears for fatening Lai Sind cattle during dry season Nguyễn Tuấn Hùng 1, Đặng
Trang 1Sử dụng thân lá áo ngô sau thu hoạch làm thức ăn
vỗ béo bò Laisind trong mùa khô hạn
Use maize trunk and ears for fatening Lai Sind cattle during dry season
Nguyễn Tuấn Hùng 1, Đặng Vũ Bình 2
Summary Thí nghiệm được tiến hành trong 2 năm 2002 - 2003 tại huyện M’Đrăk tỉnh Đăk Lăk Bò thịt thí nghiệm được nuôi vỗ béo bằng chăn thả theo đàn (CTTĐ) kết hợp với bổ sung thức ăn Thức ăn bổ sung dưới 2 phương thức: lô CT1 hàng ngày cho ăn 1,8 kg vật chất khô (VCK) thức ăn hỗn hợp 1 (TAHH1), lô CT2 hàng ngày cho ăn 0,9 kg VCK thức ăn hỗn hợp 2 (TAHH2) và ăn tự do thân lá áo ngô (TLAN) ủ 4% urê Các kết luận rút ra được như sau:
- Có thể sử dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp dồi dào tại chỗ ở M’Đrăk là thân lá áo ngô sau thu hoạch làm thức ăn nuôi vỗ béo bò lai Sind
- Bổ sung TAHH1 đơn thuần để vỗ béo bò cho kết quả: tăng trọng trong thời gian nuôi vỗ béo
ở 60 ngày đạt 682,5 g/con/ngày, lợi nhuận 369,8 ngàn đồng/con, bình quân thu nhập 6.200
đồng/con/ngày
- Sử dụng thân lá áo ngô sau thu hoạch ủ urê 4% phối hợp với TAHH2 nuôi bò cho kết quả: tăng trọng trung bình trong thời gian nuôi vỗ béo 90 ngày của bò đạt 784,2 g/con/ngày, lợi nhuận 726,9 ngàn đồng/con, bình quân thu nhập 8.100 đồng/con/ngày
Key words:
1 Đặt vấn đề
Là một vùng đất có đồng cỏ tự nhiên rộng, đa dạng và đặc biệt mùa khô chỉ có 4 tháng rất thuận lợi cho nuôi bò chăn thả, huyện M’Đrăk được quy hoạch là vùng phát triển chăn nuôi bò thịt của tỉnh Đăk Lăk, dự kiến đến năm 2010 đàn bò của huyện sẽ đạt 35.000 con, tỷ lệ bò lai từ 70-80% (UBND tỉnh Dăk Lăk., 2001)
Hiện tại M’Đrăk có 16.850 con bò, chăn thả phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thức ăn tự nhiên, do vậy khi nguồn thức ăn hiện có được khai thác tới mức tối đa, sự tăng đàn sẽ dừng lại và đi vào thế ổn định Cùng với xu hướng giảm diện tích chăn thả là mật độ chăn thả ngày càng cao dẫn đến năng suất, chất lượng của đồng cỏ tự nhiên suy giảm, gây tác động xấu đến năng suất và hiệu quả của chăn nuôi, tạo ra sức ép giữa việc gia tăng số đầu con với chất lượng đàn, giữa tận dụng thức ăn tự nhiên với sử dụng hiệu quả các sản phẩm của địa phương cho chăn nuôi
Với diện tích lúa trồng năm 2002 là 3.838 ha, ngô là 3.619 ha, ước tính sản lượng phụ phẩm của M’Đrăk vào khoảng 65.629 tấn rơm và 39.447 tấn cây ngô khô (Trần Quang Hạnh, 2003) Chế biến và sử dụng hiệu quả nguồn phụ phẩm này làm thức ăn nuôi bò là chiến lược để phát triển chăn nuôi bò thịt tại M’Đrăk trước sức ép gia tăng về số lượng đầu con Nghiên cứu của chúng tôi nhằm tìm ra giải pháp kỹ thuật góp phần thực hiện chiến lược trên
2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành trong 2 năm 2002 - 2003 Bò thịt thí nghiệm được nuôi vỗ béo bằng chăn thả theo đàn (CTTĐ) kết hợp với bổ sung thức ăn Thức ăn bổ sung dưới 2 phương thức: lô CT1 hàng ngày cho ăn 1,8 kg vật chất khô (VCK) thức ăn hỗn hợp 1 (TAHH1), lô CT2 hàng ngày cho ăn 0,9 kg VCK thức ăn hỗn hợp 2 (TAHH2) và ăn tự do thân lá áo ngô (TLAN) ủ 4% urê
Trang 2Bảng 1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Khối lượng thí nghiệm (kg) 179,9 ± 0,95 179,9 ± 0,85 179,3 ± 1,55
Phương thức nuôi và yếu tố thí
nghiệm CTTĐ CTTĐ + 1,8 kg CK TAHH1 CTTĐ + 0,9 kgCK TAHH2 + TLAN ủ urê 4% ăn tự do
Bảng 2 Thành phần thức ăn hỗn hợp 1 và thức ăn hỗn hợp 2
Thành phần Tỷ lệ trong TAHH1 (%) Tỷ lệ trong TAHH2 (%)
Thân lá áo ngô được ủ urê 4%, theo quy trình kỹ thuật của Vũ Duy Giảng (2001), Nguyễn Xuân
Trạch (2003)
Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm:
- Theo dõi lượng thức ăn hỗn hợp và thân lá áo ngô ủ urê 4% hàng ngày bằng cân
- Bò được cân kiểm tra khối lượng hàng tháng bằng cân điện tử DI - 28
- Hiệu quả kinh tế tính toán dựa trên các nguồn kinh phí:
+ Chi: thức ăn, vật tư
+ Thu: giá bán bò ước tính trên khối lượng trung bình 16.000 đồng/kg, bò nuôi ĐC1 giá bán
chỉ 15.000 đồng/kg Tiền thu nhập từ phân bò được tính bằng công chăm sóc
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Tăng trọng của bò vỗ béo
Bảng 3 Tăng trọng của bò trong thời gian vỗ béo
60 ngày 18,7 ± 0,83 a 39,7 ± 1,10 b 39,3 ± 0,61 b
Khối lượng tăng
trọng sau (kg/con) 90 ngày 28,4 ± 0,80 a 56,5 ± 1,32 b 62,8 ± 1,13 c
60 ngày 317,1 ± 16,81 ea 682,5 ± 23,81 eb 716,3 ± 26,02 eb
Tăng trọng tuyệt đối
(g/con/ngày) 90 ngày 320,8 ± 5,11 ea 561,3 ± 37,44 eb 784,2 ± 31,70 ec
e, f, g: Các chữ khác nhau chỉ kết quả sai khác thống kê theo cột
a, b, c: Các chữ khác nhau chỉ kết quả sai khác thống kê theo hàng
Các trường hợp bổ sung thức ăn theo khẩu phần CT1 và CT2 đều tăng trọng cao hơn so với ĐC (P<0,05)
Giai đoạn 90 ngày, tăng trọng CT2 có sự khác biệt rõ ràng với CT1 cũng như với ĐC
Tăng trọng tuyệt đối ở ĐC biến động từ 317,1 - 320,8 g/con/ngày, khi bổ sung thức ăn với các khẩu
phần khác nhau tăng trọng cao hơn biến động từ 561,3 - 682,5 g/con/ngày ở CT1, từ 716,3 - 784,2
g/con/ngày với CT2
Trang 3Với cả CT1 và CT2 tăng trọng tuyệt đối ở 90 ngày so với giai đoạn 60 ngày đều tương đối ổn định Như vậy, khi sử dụng CT2 với thân lá áo ngô ủ urê 4% phối hợp cùng TAHH2 trong khẩu phần thì khả năng tăng trọng trong suốt 90 ngày ổn định hơn so với CT1 chỉ sử dụng một loại TAHH1
3.2 L ượng thức ăn bổ sung thu nhận
Bảng 4 Lượng thức ăn bổ sung thu nhận
(ξ ± SE)
CT1 (ξ ± SE)
CT2 (ξ ± SE)
VCK ở TA ủ urê 4%
VCK ở TAHH
Lượng TABS thu nhận
e, f: Các chữ khác nhau chỉ kết quả sai khác thống kê theo cột
* Ghi chú: Với ĐC1 tính thức ăn bổ sung thu nhận bằng 0
Tính chung nhu cầu của bò khoảng 5 kgVCK/con/ngày, thì thu nhận thức ăn của các khẩu phần nuôi vỗ béo thể hiện trên bảng 3 cho thấy:
- Lượng thức ăn bổ sung là TAHH1 của CT1 chiếm từ 33,0 - 35,2% nhu cầu về VCK
- Lượng thức ăn bổ sung là TAHH2 của CT2 cố định là 0,9 nên lượng thức ăn ủ urê 4% 35,6 - 39,4% Trong khi tổng lượng VCK thu nhận từ thức ăn bổ sung của CT2 lên tới 2,68 - 2,87 tức hơn1/2 nhu cầu về VCK cho sinh trưởng của bò
3.3 Hiệu quả kinh tế
Bảng 5 Hiệu quả kinh tế *
Tổng chi
Lợi nhuận
Thu nhập
Ghi chú: * Tính theo khối lượng trung bình sau 60 và 90 ngày cho 1 con bò
Lợi nhuận được tính theo khối lượng hơi và giá bán tại thời điểm tháng 5/2003: Hiệu quả kinh tế ở
60 ngày với các nhóm ĐC là 100,7 ngàn đồng, CT1 là 369,8 ngàn đồng và 430,2 ngàn đồng ở CT2 Tương ứng với thu nhập hàng ngày của các nhóm là: 1.700 đồng; 6.200 đồng và 7.200 đồng/ngày Mức thu nhập ở 90 ngày cao hơn ở 60 ngày là do khi kéo dài thời gian nuôi lên 90 ngày, hiệu quả kinh tế tăng lên chủ yếu do giảm bớt chi phí đầu tư vào con giống cho 1kg sản phẩm Tuy nhiên mức tăng này khác nhau: 245,4 ngàn đồng ở ĐC, với CT1 là 531,4 ngàn đồng và 726,9 ngàn đồng ở CT2 Tương ứng với thu nhập hàng ngày của các nhóm là: 2.700 đồng; 5.900 đồng và 8.100 đồng/ngày
Với khẩu phần bổ sung TAHH1 đơn thuần, hiệu quả kinh tế thấp hơn khẩu phần phối hợp giữa TAHH2 + thân lá áo ngô ủ urê 4%, nhưng sử dụng TAHH1 có lợi thế là đơn giản, dễ chế biến, ít đòi hỏi thời gian, đồng thời sản phẩm lại dễ bảo quản
4 Kết luận
Trên cơ sở các thí nghiệm về nuôi bò vỗ béo theo phương thức chăn thả kết hợp với bổ sung thức
ăn tại huyện M’Đrăk, tỉnh Đăk Lăk, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
Có thể sử dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp dồi dào tại chỗ ở M’Đrăk là thân lá áo ngô sau thu hoạch làm thức ăn nuôi vỗ béo bò lai Sind
Trang 4Bổ sung TAHH1 đơn thuần để vỗ béo bò cho kết quả: tăng trọng trong thời gian nuôi vỗ béo ở 60 ngày đạt 682,5 g/con/ngày, lợi nhuận 369,8 ngàn đồng/con, bình quân thu nhập 6.200 đồng/con/ngày
Sử dụng thân lá áo ngô sau thu hoạch ủ urê 4% phối hợp với TAHH2 nuôi bò cho kết quả: tăng trọng trung bình trong thời gian nuôi vỗ béo 90 ngày của bò đạt 784,2 g/con/ngày, lợi nhuận 726,9 ngàn đồng/con, bình quân thu nhập 8.100 đồng/con/ngày
Tài liệu tham khảo
Vũ Duy Giảng (2001), Giáo trình dinh d ưỡng và thức ăn gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, trang 103
- 188
Trần Quang Hạnh (2003), Đánh giá tiềm năng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho trâu bò nuôi tại
Đăk Lăk, Luận án Thạc sĩ khoa học nông nghiệp, trang 48 - 54
Nguyễn Xuân Trạch (2003), Sử dụng phụ phẩm nuôi gia súc nhai lại, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk (2001), Báo cáo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Đăk Lăk đến năm 2010, trang 39 - 98
1. Khoa Nông Lâm Trường Đại học Tây Nguyên
2. Trường Đại học Nông nghiệp I