VIỆC THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN 2.1.. Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên c
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở các nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Lê Chi Lan
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Viện Đảm bảo chất lượng Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Đảm bảo Chất lượng Đào tạo - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, quý thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt khóa học và trong việc hoàn thành luận văn
Xin chân thành biết ơn sâu sắc đến PGS.TS PHẠM VĂN QUYẾT đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên, cung cấp tài liệu học tập và nghiên cứu, mang lại cho em những tri thức quý báu, thiết thực để hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị chuyên viên, đồng nghiệp trong cơ quan công tác và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi, đóng góp những
ý kiến quý báu cho tôi trong việc hoàn thành luận văn
Mặc dù rất cố gắng, nhưng thời gian có hạn nên việc thực hiện luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, kính mong được sự góp ý của Thầy, Cô, đồng nghiệp và các bạn
Tp Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2011
Tác giả của luận văn
LÊ CHI LAN
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các hộp PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các công trình ngoài nước nghiên cứu về đảm bảo chất lượng giáo dục và hoạt động giảng dạy của giảng viên 6
1.1.2 Các công trình trong nước nghiên cứu về đảm bảo chất lượng giáo dục và hoạt động giảng dạy của giảng viên 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 13
1.2.1.Đảm bảo chất lượng 13
1.2.1.1 Khái niệm về đảm bảo chất lượng 13
1.2.1.2 Vai trò của đảm bảo chất lượng giáo dục 14
1.2.1.3 Đảm bảo chất lượng giáo dục tại Việt Nam 15
1.2.2 Các biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục 16
1.2.3 Phương pháp giảng dạy 17
1.2.3.1 Phương pháp giảng dạy truyền thống 18
1.2.3.2 Phương pháp giảng dạy tích cực 19
1.3 Một số vấn đề lý luận liên quan đến biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục và phương pháp giảng dạy 23
Trang 41.3.1 Các biện pháp đảm bảo chất lượng đã và đang thực hiện 23
1.3.1.1 Biện pháp đảm bảo chất lượng của Bộ GD&ĐT 24
1.3.1.2 Biện pháp đảm bảo chất lượng của tại các trường Đại học 26
1.3.1.3 Biện pháp đảm bảo chất lượng tại trường Đại học Sài Gòn 28
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phương pháp giảng dạy 30
Chương 2 VIỆC THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN 2.1 Thực trạng triển khai việc thực hiện các biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục và nhận biết của giảng viên về các biện pháp tại trường Đại học Sài Gòn 32
2.1.1 Công bố chương trình đào tạo 33
2.1.2 Công bố đề cương chi tiết từng môn học 34
2.1.3 Thực hiện công tác tự đánh giá 35
2.1.4 Lấy ý kiến phản hồi của sinh viên về hoạt động giảng dạy 37
2.1.5 Chuyển đổi phương thức đào tạo 38
2.1.6 Thành lập Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục 40
2.2 Việc áp dụng phương pháp giảng dạy của giảng viên trường Đại học Sài Gòn trước năm học: 2008 – 2009 và hiện nay (năm học: 2009 – 2010) 41
2.2.1 Phương pháp giảng dạy truyền thống 44
2.2.1.1 Phương pháp Thầy đọc – Trò ghi 44
2.2.1.2 Phương pháp Thầy giảng – Trò tự ghi 46
2.2.1.3 Phương pháp Thầy nêu vấn đề và hướng giải quyết 47
Trang 52.2.1.4 Phương pháp sử dụng hệ thống câu hỏi để giảng dạy 48
2.2.1.5 Phương pháp sử dụng phương tiện trực quan 50
2.2.2 Phương pháp giảng dạy tích cực 51
2.2.2.1 Phương pháp nêu vấn đề 52
2.2.2.2 Phương pháp Seminar 54
2.2.2.3 Phương pháp làm đồ án môn học 57
2.2.2.4 Phương pháp thảo luận nhóm 58
2.2.2.5 Phương pháp tranh luận 59
Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN 3.1 Tác động của biện pháp công bố chương trình đào tạo 63
3.2 Tác động của biện pháp mỗi môn học phải có đề cương chi tiết 65
3.3 Tác động của biện pháp tự đánh giá hằng năm 66
3.4 Tác động của biện pháp lấy ý kiến phản hồi của người học 68
3.5 Tác động của biện pháp chuyển đổi phương thức đào tạo sang học chế tín chỉ 71
3.6 Tác động của biện pháp thành lập Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục 72
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 86
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nội dung
ĐBCLGD Đảm bảo chất lượng giáo dục
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
GDĐH – TCCN Giáo dục đại học – Trung cấp chuyên nghiệp KTKĐCLGD Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Ý kiến giảng viên về thời điểm thực hiện các biện pháp
ĐBCLGD ở Trường 33
Bảng 2.2: Thống kê mô tả PPGD của giảng viên đã sử dụng trong trước năm học: 2008 - 2009 và hiện nay (năm học: 2009 – 2010) 43
Bảng 2.3: Tỷ lệ giảng viên sử dụng PPGD “Thầy đọc – Trò ghi” 45
Bảng 2.4: Tỷ lệ giảng viên sử dụng PPGD “Thầy giảng – Trò tự ghi” 46
Bảng 2.5: Tỷ lệ giảng viên sử dụng PPGD “Thầy nêu vấn đề và hướng giải quyết” 47
Bảng 2.6: Tỷ lệ giảng viên sử dụng PPGD “Sử dụng hệ thống các câu hỏi để giảng dạy” 48
Bảng 2.7: Tỷ lệ giảng viên sử dụng PPGD “Sử dụng phương tiện trực quan” 50
Bảng 2.8: Tỷ lệ giảng viên sử dụng PPGD “ Nêu vấn đề” 52
Bảng 2.9: Mối liên hệ giữa biến “”PPGD nêu vấn đề" và biến “Thời gian chuẩn bị cho 1 tiết giảng trước khi lên lớp” 54
Bảng 2.10: Tỷ lệ giảng viên sử dụng PPGD Seminar 55
Bảng 2.11: Mối liên hệ giữa biến “Phương pháp Seminar” với biến “Ngành học” 56
Bảng 2.12: Tỷ lệ giảng viên sử dụng PPGD “Làm đồ án môn học” 57
Bảng 2.13: Tỷ lệ giảng viên sử dụng PPGD “Thảo luận nhóm” 58
Bảng 2.14: Tỷ lệ giảng viên sử dụng PPGD “Tranh luận” 59
Bảng 3.1: So sánh chỉ số đánh giá của giảng viên và sinh viên về việc sử dụng PPGD trước và sau thời điểm Trường áp dụng biện pháp “Công bố chương trình đào tạo từ đầu khóa học” 63
Trang 8Bảng 3.2: So sánh chỉ số đánh giá của giảng viên và sinh viên về việc
sử dụng PPGD trước và sau thời điểm Trường áp dụng
biện pháp “Mỗi môn học đều có đề cương chi tiết” 65 Bảng 3.3: So sánh chỉ số đánh giá của giảng viên và sinh viên về việc
sử dụng PPGD trước và sau thời điểm Trường áp dụng
biện pháp “Thực hiện công tác tự đánh giá công tác giảng
dạy hằng năm” 67 Bảng 3.4: So sánh chỉ số đánh giá của giảng viên và sinh viên về việc
sử dụng PPGD trước và sau thời điểm Trường áp dụng
biện pháp “Lấy ý kiến phản hồi của người học về hoạt
động giảng dạy môn học” 68 Bảng 3.5: So sánh chỉ số đánh giá của giảng viên và sinh viên về việc
sử dụng PPGD trước và sau thời điểm Trường áp dụng
biện pháp “Chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế
sang học chế tín chỉ” 71 Bảng 3.6: So sánh chỉ số đánh giá của giảng viên và sinh viên về việc
sử dụng PPGD trước và sau thời điểm Trường áp dụng
biện pháp “Thành lập Phòng KTKĐCLGD” 73
Trang 9PPGD của giảng viên 75 Hộp 3.3: Một số ý kiến của giảng viên về các biện pháp đảm bảo chất
lượng đến việc thay đổi PPGD của giảng viên 76
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập và phát triển, ngành giáo dục luôn được quan tâm hàng đầu, nhất là chất lượng giáo dục đại học (GDĐH) Để từng bước phát triển GDĐH theo chuẩn quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 về việc ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học Trong thời gian qua, một số trường đã tiến hành xây dựng hệ thống chất lượng đảm bảo chất lượng giáo dục (ĐBCLGD) và trong năm 2009 theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) 100% trường đại học, cao đẳng trong cả nước phải thực hiện công tác tự đánh giá.”
GDĐH được công nhận là một công cụ hiệu quả cho sự phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao và phát triển xã hội trên nhiều phương diện GDĐH không đơn thuần là hướng tới cung cấp 1 đội ngũ nhân lực có trình độ cao phục vụ phát triển của xã hội mà còn là công cụ quan trọng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao cho xã hội GDĐH theo xu thế toàn cầu hóa của thời đại mới đòi hỏi sự thay đổi cơ cấu và toàn diện các mặt hoạt động của các trường đại học
Tuy nhiên, ngày nay GDĐH của Việt Nam, cũng như của nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới, đang phải đối mặt với xu thế toàn cầu hoá kinh tế, đang ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống Trong hoàn cảnh
đó, sự cạnh tranh thị trường lao động có trình độ cao đang ngày càng trở nên gay gắt Điều đó đòi hỏi những người tốt nghiệp đại học phải có những phẩm chất và kiến thức nhất định, mới có khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường lao động ngày càng sôi động Những xu thế này dẫn đến sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống đảm bảo chất lượng GDĐH ở các nước
Trang 11nhận lẫn nhau Điều này đòi hỏi Việt Nam và các nước trong khu vực phải phấn đấu đạt được những chuẩn mực chung về chất lượng GDĐH
Giáo dục Việt Nam qua nhiều cuộc cải tổ giáo dục sâu rộng, toàn diện
và tốn nhiều thời gian, tiền bạc, công sức của nhà nước, người dân, kết quả thu được gì? Chúng ta cứ loay hoay mãi trong vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục bằng cách cải tiến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ sở vật chất, đãi ngộ giảng viên tốt hơn, đầu tư nhiều hơn cho giáo dục, xã hội hóa giáo dục…nhưng vẫn không tìm thấy lối thoát Việc thực hiện cải cách giáo dục đòi hỏi phải có thời gian dài tuy nhiên việc đánh giá thực hiện các biện pháp ĐBCLGD là điều không thể thiếu được
Chất lượng giáo dục đã trở thành một đề tài nóng bỏng đối với nhiều
cá nhân và các tổ chức có liên quan Đảm bảo chất lượng nhanh chóng được triển khai nhằm phục vụ yêu cầu của thời đại mới Hiện nay có nhiều khảo sát, bài báo, sách và các học giả nghiên cứu các biện pháp ĐBCLGD tại Việt Nam
và yêu cầu bức thiết thay đổi nhanh chóng cách đào tạo và đổi mới phương pháp giảng dạy (PPGD)
Các trường đại học nói chung và trường Đại học Sài Gòn nói riêng đã tiến hành các biện pháp ĐBCLGD Trường Đại học Sài Gòn được thành lập trên cơ sở nâng cấp từ Trường Cao đẳng Sư phạm và được mang tên Trường Đại học Sài Gòn từ năm 2007 Trong những năm đầu thành lập trường tiến hành biện pháp ĐBCLGD nhờ bộ phận Thanh tra của Trường biện pháp chủ yếu là kiểm soát chất lượng Sau đó Trường thành lập bộ phận chuyên trách Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục (KTKĐCLGD) chuyên theo dõi các công tác đảm bảo chất lượng cho Nhà trường Hiện nay, theo quy định của Bộ GD&ĐT các trường đại học chuyển dần sang việc đào tạo theo học chế tín chỉ, đây là hình thức đào tạo còn mới mẻ đối với một số Trường đại học nói chung và trường Đại học Sài Gòn nói riêng, đặc biệt việc
Trang 12đổi mới PPGD theo yêu cầu của học chế tín chỉ “ Lấy người học là trung tâm” là điều không thể thiếu Tuy nhiên, có những câu hỏi liên quan đến tính hiệu quả của các biện pháp đảm bảo chất lượng đến PPGD của giảng viên chưa có lời giải đáp và nhất là đang trong giai đoạn áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Tác động của các biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục tới phương pháp giảng dạy của giảng viên (nghiên cứu tại trường Đại học Sài Gòn)”
Chúng tôi hy vọng đề tài sẽ thấy được hiệu quả của các biện pháp ĐBCLGD tác động như thế nào đối với PPGD của giảng viên tại trường Đại học Sài Gòn Trên cơ sở đó người giảng viên sẽ lựa chọn phương pháp phù hợp trong quá trình giảng dạy
2 Đối tượng và khách thể, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : Tác động của các biện pháp ĐBCLGD tới PPGD của giảng viên
Khách thể nghiên cứu chủ yếu là nhóm giảng viên hiện đang giảng dạy tại trường Đại học Sài Gòn Tuy nhiên để xem xét và nghiên cứu đầy đủ hơn các chiều cạnh của sự tác động, nghiên cứu hướng đến thu thập ý kiến đánh giá của nhóm sinh viên hiện đang học tại trường Đại học Sài Gòn
Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 05 đến tháng 12 năm 2010
+ Phạm vi không gian: Trường Đại học Sài Gòn
Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung vào một số biện pháp ĐBCLGD có ảnh hưởng đến PPGD của giảng viên
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hướng tới những mục đích:
Trang 13 Tìm hiểu các biện pháp ĐBCLGD và PPGD của giảng viên đã và đang sử dụng tại trường Đại học Sài Gòn
Tìm hiểu tác động của các biện pháp ĐBCLGD tới sự thay đổi PPGD của giảng viên
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu:
4.1 Câu hỏi nghiên cứu: Tác động của các biện pháp ĐBCLGD tới
PPGD của giảng viên như thế nào?
4.2 Giả thiết nghiên cứu:
- Hầu hết các biện pháp ĐBCLGD áp dụng ở Đại học Sài Gòn thời gian qua đều tác động đến PPGD của giảng viên
- Dưới tác động của các biện pháp ĐBCLGD các PPGD biến đổi theo hướng giảm dần áp dụng các PPGD truyền thống, tăng cường áp dụng các PPGD tích cực
- Các biện pháp ĐBCLGD được áp dụng chủ yếu tác động đến việc thay đổi PPGD của giảng viên đó là: Công bố chương trình đào tạo, mỗi môn học có đề cương chi tiết, chuyển đổi phương thức đào tạo, lấy ý kiến phản hồi của người học về giảng dạy môn học, công tác tự đánh giá, thành lập Phòng KTKĐCLGD
5 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
5.1 Phương pháp chọn mẫu
- Mẫu khảo sát cho giảng viên:
+ Số lượng cán bộ, giáo viên và nhân viên của trường đại học Sài Gòn gồm 776 người, trong đó có 468 cán bộ giáo viên đứng lớp
+ Dung lượng mẫu: 255 người/468 người
+ Cách chọn: Luận văn nghiên cứu và xem xét sự biến đổi PPGD của giảng viên trước và sau năm học: 2008-2009 (năm học Trường bắt đầu áp dụng nhiều biện pháp ĐBCLGD), vì vậy chúng tôi chọn mẫu là tất cả các
Trang 14cán bộ giảng viên và đối tượng giảng viên được khảo sát phải có thâm niên công tác tại trường từ 4 năm trở lên khoảng 270 người Chúng tôi đã tiến hành điều tra số lượng giảng viên theo yêu cầu trên dưới dạng phát phiếu thu thập ý kiến
- Mẫu khảo sát cho sinh viên:
+ Số lượng sinh viên đại học năm thứ 3 của trường đại học Sài Gòn khoảng 2000 sinh viên bao gồm khối sư phạm và ngoài sư phạm Do đặc thù của nhà trường khối sư phạm đã được đào tạo từ năm 1975, còn khối ngoài
sư phạm mới được đào tạo từ năm 2007 Nên để thấy được sự thay đổi PPGD của giảng viên luận văn chọn ngẫu nhiên 3 ngành gồm 1 ngành thuộc khối sư phạm và 2 ngành khối ngoài sư phạm Cụ thể: ngành Công nghệ thông tin (khối sư phạm), ngành Kế toán tài chính và ngành Thư viện – Thông tin (khối ngoài sư phạm)
+ Dung lượng mẫu: 306 người/400 người
+ Cách chọn: Tại 3 ngành Công nghệ thông tin, ngành Kế toán tài chính
và ngành Thư viện – Thông tin chọn ngẫu nhiên 1, 2 lớp đại học năm thứ 3
Số sinh viên được phát phiếu hỏi được lấy từ danh sách của mỗi lớp
Chọn 1 sinh viên đại diện cho năm thứ tư tại mỗi ngành làm đối tượng phỏng vấn sâu, đồng thời chọn 3 đến 4 giảng viên giảng dạy trong trường có số năm từ 4 năm trở lên để tiến hành phỏng vấn sâu
5.2 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp định tính: Tìm hiểu các biện pháp ĐBCLGD của nhà trường đã tiến hành thông qua phỏng vấn và các văn bản pháp lý Sau
đó tiến hành phỏng vấn sâu để xác định các biện pháp ĐBCLGD nào tác động đến PPGD của giảng viên
Phương pháp định lượng: tiến hành điều tra thông qua việc phát
và thu bảng hỏi, thống kê và xử lý số liệu
Trang 15Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
ra rằng chất lượng giảng dạy tác động đến kết quả học tập của sinh viên lớn hơn là tác động về các mặt khác trong nhà trường Trong thực tế các nhà giáo dục đã đưa ra chính sách ĐBCLGD ngoài việc chọn đội ngũ giảng viên còn phải chú trọng về việc nâng cao chất lượng giảng dạy Việc lấy ý kiến phản hồi của sinh viên về hoạt động giảng dạy đã giúp đỡ rất nhiều cho việc đánh giá giảng viên, thay cho lối truyền thống là dựa trên dữ liệu học tập, sự quan sát lớp học và sự quản lý lớp của giảng viên Những nhà giáo dục đang vạch ra kế hoạch thay đổi đánh giá giảng viên bằng công cụ hiệu quả hơn để phát triển hoạt động giảng dạy và nâng cao kết quả học tập của sinh viên
Quality in Higher Education, Vol12, No.1, April 2006, Jacqueline Douglas và Alex Douglas [2], trong bài viết này tác giả nói về việc lấy ý kiến phản hồi của sinh viên, của giảng viên là một việc làm để đánh giá chất lượng dạy học và là phương tiện cho việc cải tiến giáo dục Một số trường ở Anh quốc để đánh giá chất lượng giảng dạy người ta còn tiến hành tìm hiểu
về các bài giảng của giảng viên hoặc phỏng vấn trực tiếp sinh viên Thông qua lấy ý kiến phỏng vấn của sinh viên sẽ phân tích và tổng hợp đánh giá chất lượng giảng dạy
Trang 16Higher Education, 2001, Kluwer Academic Publisher, John Biggs
“Điều tra phản hồi: đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy và học”[3], trong bài viết này tác giả đã đưa ra định nghĩa về chất lượng trong ĐBCLGD Chất lượng từ quá khứ nó luôn bị những rào cản bởi sự áp đặt của các tiêu chuẩn ĐBCLGD hiện nay là duy trì và nâng cao chất lượng dạy và học Trong bài viết này, tác giả đưa ra những mô hình mẫu về đảm bảo chất lượng có liên quan đến việc giảng dạy của giảng viên, các mô hình được xây dựng mang tính chất thực hiện được
Fabrice Henard, Solenie Leprince – Ringuet, “Con đường đưa tới chất lượng giáo dục ở GDĐH”, draft 18 November 2008, FH, SLR [1], trong bài viết này tác giả đã nhấn mạnh chất lượng giáo dục là một vấn đề quan trọng ở bậc đại học, việc ĐBCLGD sẽ là nhân tố làm chất lượng giáo dục thay đổi và
là nhân tố thay đổi cho sự phát triển của xã hội, thay đổi ý thức học tập của sinh viên, gia tăng nhu cầu giá trị đồng tiền và là cơ sở cho sự phát triển khoa học kỹ thuật Chất lượng giảng dạy bắt đầu thay đổi rất đa dạng tự nhiên và
có hệ thống Qua phân tích thấy rằng đảm bảo chất lượng dần dần biến đổi các quy luật về thay đổi chất lượng của giảng viên, của khoa, của trường theo mục tiêu ngày càng tốt hơn Ngoài ra trong bài báo này còn đặt ra câu hỏi có phải chất lượng giáo dục sẽ dẫn đến sinh viên học tốt hơn không? ĐBCLGD có tác động như thế nào đến quá trình đào tạo? Hầu hết ở các quốc gia, ĐBCLGD được xây dựng trên bốn nguyên tắc: sự liên kết của các thành viên trong nhà trường, việc thi hành tiến trình ĐBCLGD, thực hiện các báo cáo về đảm bảo chất lượng của bản thân các giảng viên, các nhân viên trong nhà trường dựa trên kết quả đánh giá Bài báo nêu lên việc đảm bảo chất lượng sẽ dẫn đến chất lượng đào tạo trong một trường đại học
Sylvia Chong, 2009, “Chất lượng đại học: đảm bảo chất lượng bắt đầu
là sự chuẩn bị chương trình của giảng viên” Int J Management in Education,
Trang 17Vol.3, Nos 3/4 [6], bài viết nói lên chất lượng giảng dạy của giảng viên là
nhân tố quan trọng đầu tiên (của mỗi quốc gia) trong quá trình đào tạo Sự thành công trong giáo dục của Singapore trong giáo dục đào tạo là tùy thuộc vào chất lượng của giảng viên Những giảng viên có đủ năng lực và giảng dạy có hiệu quả sẽ xây dựng hệ thống giáo dục ngày càng vững mạnh Điều này là bước đầu tiên trong công việc đảm bảo chất lượng ĐBCLGD đã đưa
ra khía cạnh mong đợi của việc thực hiện và phát triển chương trình từ những ý kiến của sinh viên về khả năng của giảng viên Bài viết này gồm hai phần: Phần 1: Những vấn đề cốt yếu của đảm bảo chất lượng và phần 2: Những cấu trúc và thành tố quyết định về chất lượng
Mark Freman, trường Đại học Sydney và Carol Johnston, trường đại học Melbourne, 2008, “Phát triển dạy và học thông qua những mô hình khuyến khích và kỷ luật đặc trưng” [4], tác giả đã nêu lên rằng chất lượng dạy và học ở bậc đại học trong những năm gần đây chịu rất nhiều áp lực do ảnh hưởng bởi nhân tố khoa học kỹ thuật thay đổi, tính đa dạng của sinh viên, các đòi hỏi nghiên cứu khoa học ngày càng phát triển Hoàn cảnh hiện tại có rất nhiều cơ hội và đối đầu những thử thách đối với người học Ở Úc các nghiên cứu về ĐBCLGD chủ yếu là hướng về các hoạt động của sinh viên và giảng viên theo các mô hình đảm bảo chất lượng Trong bài viết này
đã đưa ra các mô hình ĐBCLGD và so sánh hiệu quả của chúng Ngoài ra, trong bài viết này còn đưa ra được những chủ đề đóng góp cho sự thành công của một trường đại học
1.1.2 Các công trình ở trong nước nghiên cứu về vần đề đảm bảo chất lượng trong giáo dục và hoạt động giảng dạy của giảng viên
Th.S Nguyễn Thị Kim Thư (2006), “Một số quan điểm và mô hình về giảng dạy hiệu quả ở bậc đại học”, Kỷ yếu hội thảo đảm bảo chất lượng trong đổi mới giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh
Trang 18[32], trong bài viết này tác giả đã nêu chất lượng giảng viên là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng học tập của sinh viên, việc nâng cao trình độ giảng viên và cải tiến chất lượng giảng dạy là điều tất yếu nâng cao kết quả học tập của sinh viên Trong bài viết này tác giả cũng đưa ra ba biện pháp và quy trình giảng dạy mà người giảng viên cần thiết phải thực hiện: phương pháp phù hợp với đối tượng giảng dạy thông qua việc kết hợp và ứng dụng kiến thức nền của sinh viên và quá trình học tập; PPGD phù hợp với nội dung giảng dạy thông qua việc kết hợp và ứng dụng kiến thức nền về nội dung môn học và quá trình học tập; PPGD phù hợp với bối cảnh giảng dạy thông qua việc kết hợp và ứng dụng kiến thức nền về sinh viên và nội dung môn học
Nhóm các tác giả dịch thuật sưu tầm và biên dịch tài liệu có nhan đề
“Hướng dẫn Dạy và Học trong GDĐH” từ nguyên bản tiếng Anh có tiêu đề
“Guide to Teaching and Learning in Higher Education” tại Website có địa chỉ http://www.breda-guide.tripod.com do các tác giả: Pai Obanya, Juma Shabani, Peter Okebukola với sự giúp đỡ của Văn phòng UNESCO vùng của Châu Phi [29], trong tài liệu này đề cập tới vấn đề tầm quan trọng đổi mới GDĐH Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo những người lao động có trình độ cao phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội chung đáp ứng nhu cầu phát triển cho chính hệ thống giáo dục.Việc đổi mới có đạt được kết quả như mong muốn hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực dạy học của đội ngũ giảng viên trong các trường đại học Điều đáng tiếc là không ít người trong số các giảng viên dạy đại học không được trang
bị những kiến thức và kỹ năng dạy học ở bậc đại học Điều đó đã hạn chế chất lượng cũng như hiệu quả của việc dạy học Tình hình trên diễn ra ở nhiều quốc gia phát triển và đang phát triển Nội dung tài liệu này bao trùm
Trang 19hầu hết các lĩnh vực liên quan đến hoạt động của giảng viên đại học và những kinh nghiệm giảng dạy của các chuyên gia GDĐH của thế giới
Lê Văn Hảo, Trường đại học Nha Trang, Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua PPGD dựa trên vấn đề [18] Trong bài viết này tác giả đã nêu
xu thế đổi mới PPGD đại học theo hướng lấy người học làm trung tâm, phương pháp dạy học dựa trên vấn đề (DHDTVĐ – Problem - Based Learning) đang được các nền GDĐH ở nhiều nước quan tâm nghiên cứu và ứng dụng Trong bài viết này tác giả giới thiệu những nét cơ bản của phương pháp dạy học dựa trên vấn đề và phân tích về sự cần thiết và tính khả thi của phương pháp trong bối cảnh GDĐH Việt Nam và cũng là một trong phương pháp cần được quan tâm trong giai đoạn ĐBCLGD hiện nay
Phạm Thành Nghị (2000), Quản lý chất lượng GDĐH, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội [27], trong tài liệu này tác giả đưa ra các khái niệm về chất lượng và chất lượng GDĐH các chỉ số thực hiện, chuẩn mực chất lượng trong GDĐH, một số hình thức đánh giá trong GDĐH Ngoài ra trong tài liệu này tác giả cũng đề cặp tới vấn đề vai trò của cán bộ giảng dạy trong quá trình đảm bảo chất lượng, quá trình đào tạo ở các cơ sở GDĐH nước ta
đã lạc hậu, giảng viên vẫn là nguồn cung cấp thông tin chính cho sinh viên PPGD chủ yếu vẫn là giảng viên thuyết trình, sinh viên ghi chép và học thuộc Các phương pháp thảo luận, Seminar, thực hành, làm đồ án, giải quyết các bài tập chưa được quan tâm thử nghiệm và đưa vào sử dụng rộng rãi trong các trường đại học nước ta Chính sự thụ động của sinh viên trong quá trình học tập là nguyên nhân chính của sự thụ động và bỡ ngỡ khi họ ra trường làm việc
Lê Đức Ngọc (2005), Giáo dục đại học phương pháp dạy và học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội [28], trong tài liệu này tác giả đã nêu lên chất lượng đào tạo đại học cơ sở khoa học cho việc đổi mới GDĐH, các
Trang 20PPGD gồm các ưu điểm và hạn chế nhằm đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học Ngoài ra, trong tài liệu này còn chỉ ra sự khác biệt giữa dạy và học lấy giảng viên làm trung tâm và lấy sinh viên làm trung tâm Tác giả đã đưa
ra hai vấn đề để góp phần nâng cao chất lượng dạy học, vai trò giảng viên đại học trong việc dạy và học trong thời đại công nghệ thông tin
Trần Thị Bích Liễu (2007), Đánh giá chất lượng giảng dạy- Nội dung- Phương pháp- Kỹ thuật, NXB Đại học Sư phạm [19], trong bài viết này tác giả đưa ra cái nhìn về đánh giá chất lượng giáo dục như là một hoạt động thường xuyên và được chú trọng trong một tổ chức Nhà trường nơi mà chất lượng giáo dục được đặt lên hàng đầu Tác giả đưa ra rất nhiều phương pháp và hình thức đánh giá chất lượng giáo dục để nhằm ĐBCLGD Trong tài liệu này tác giả cũng đề cập tới đánh giá quá trình giảng dạy của giảng viên là một phần trong quá trình ĐBCLGD
Nguyễn Phương Nga, Nguyễn Qúy Thanh (2007), Giáo dục đại học, một số thành tố của chất lượng, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội [22], trong tài liệu này nhóm các tác giả nêu lên vấn đề đứng trước những yêu cầu phát triển mới trong bối cảnh từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế hậu công nghiệp (kinh tế tri thức) thì giáo dục Việt Nam cần phải chú trọng hơn nữa việc nâng cao chất lượng Nhóm các tác giả đã nghiên cứu các thành tố dẫn đến chất lượng như việc cải tiến thi đại học, sinh viên đánh giá giảng viên, hoạt động học tập của sinh viên, học vị khoa học của giảng viên…Thông qua đó PPGD là một trong những thành tố đảm bảo chất lượng trong GDĐH
Nguyễn Phương Nga, Nguyễn Qúy Thanh (2010), Giáo dục đại học,
đảm bảo, đánh giá và kiểm định chất lượng [23], trong quyển sách này bao
gồm nhiều bài viết nói về công tác đảm bảo chất lượng giáo dục Trong tài liệu này gồm ba phần: phần 1 về vấn đề kiểm định chất lượng và xếp hạng
Trang 21các trường đại học, phần 2 về vấn đề đảm bảo chất lượng GDĐH và phần 3
về vấn đề đánh giá chất lượng trong giáo dục
Tóm lại: Thông qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước, các tác giả đều có quan tâm đến các biện pháp cũng như các chính sách có liên quan đến việc ĐBCLGD như:
+ Việc tăng cường đánh giá giảng viên và tăng cường chất lượng giảng dạy được tài liệu NGA Center for Best Practices, Education Policy Studies Division, December 9, 2006 và Quality in Higher Education, Vol12, No.1, April 2006, Jacqueline Douglas và Alex Douglas đề cập đến thông qua biện pháp lấy ý kiến phản hồi của người học Biện pháp này sẽ nâng cao hiệu quả của việc giảng dạy của giảng viên
+ Các tài liệu khác như: Higher Education, 2001, Kluwer Academic Publisher, John Biggs , Fabrice Henard, Solenie Leprince – Ringuet, “Con đường đưa tới chất lượng giáo dục ở GDĐH”, draft 18 November 2008, FH, SLR … cũng đưa ra các câu hỏi về các biện pháp ĐBCLGD để nâng cao chất lượng dạy và học trong đó có biện pháp đổi mới chương trình theo mục tiêu của quá trình đào tạo
+ Các tài liệu khác như: Sylvia Chong, 2009, “Chất lượng đại học: đảm bảo chất lượng bắt đầu là sự chuẩn bị chương trình của giảng viên”, Phạm Thành Nghị (2000), Quản lý chất lượng GDĐH, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội … nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến chất lượng giảng dạy cũng như các PPGD trong xu thế đổi mới giáo dục đại học
+ Ngoài ra, một số tài liệu như: Nguyễn Phương Nga, Nguyễn Qúy Thanh (2007), Giáo dục đại học, một số thành tố của chất lượng, Trần Thị Bích Liễu (2007), Đánh giá chất lượng giảng dạy- Nội dung- Phương pháp-
Kỹ thuật, NXB Đại học Sư phạm, ….có đề cập đến các thành tố có liên quan đến chất lượng đào tạo như hoạt động học tập của sinh viên, học hàm
Trang 22học vị của giảng viên,…Tuy nhiên PPGD của giảng viên là một trong những nhân tố có liên quan đến việc ĐBCLGD
Nhìn chung có khá nhiều công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước đụng chạm tới các vấn đề liên quan tới công tác đảm bảo chất lượng, các biện pháp đảm bảo chất lượng, các phương pháp giảng dạy đại học, mối quan hệ giữa đảm bảo chất lượng, các biện pháp ĐBCLGD với sự thay đổi của chất lượng giáo dục Tuy nhiên, về mối quan
hệ giữa các biện pháp ĐBCLGD với PPGD đại học dường như còn rất hiếm gặp trong các nghiên cứu đã có Nếu có vấn đề cũng chỉ được đề cập một cách rất sơ lược, chung chung hay chỉ như một tiểu mục nhỏ trong mối quan hệ tác động của các biện pháp ĐBCLGD tới sự thay đổi chất lượng giáo dục
1.2 Những khái niệm cơ sở
1.2.1 Đảm bảo chất lượng
1.2.1.1 Khái niệm về đảm bảo chất lượng
Đảm bảo chất lượng là quá trình xãy ra trước và trong khi thực hiện Mối quan tâm của nó là phòng chống những sai phạm có thể xãy ra ngay
từ bước đầu tiên [21] Nói cách khác: đảm bảo chất lượng có nghĩa là tạo ra sản phẩm không lỗi còn gọi là “nguyên tắc không lỗi” (Philip B.Crosby), “làm đúng ngay từ đầu và làm đúng ở mọi thời điểm” (Sallis 1993) [1]
Đảm bảo chất lượng được xem như một hệ thống trong đó bao gồm những hình thức đánh giá khác nhau được áp dụng để thực hiện quy trình nhất định Quá trình đảm bảo chất lượng bao giờ cũng phải được bắt đầu từ
sự quản lý bên trong cơ sở GDĐH [27]
Trong giáo dục, đảm bảo chất lượng được xác định như các hệ thống, chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được xác định từ
Trang 23trước nhằm đạt được, duy trì và củng cố chất lượng (Woodhouse, 1998) Định nghĩa này cũng được Cơ quan Đảm bảo Chất lượng Australia sử dụng [22]
Tóm lại: Đảm bảo chất lượng là toàn bộ các hoạt động có kế hoạch,
có hệ thống được tiến hành trong hệ thống chất lượng và được chứng minh là
đủ mức cần thiết để khách hàng thỏa mãn các yêu cầu chất lượng Nói đến đảm bảo chất lượng là nói đến chuẩn và các tiêu chí đánh giá được đặt ra trong quá trình cải tiến chất lượng
1.2.1.2 Vai trò của đảm bảo chất lượng giáo dục
Đảm bảo chất lượng là cấp độ quản lý có sự kết hợp giữa việc quản
lý bên trong và quản lý bên ngoài cơ sở GDĐH Việc quản lý bên trong là để nâng cao quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH trong việc tổ chức quá trình đào tạo của mình Mặt khác, các cơ quan quản lý bên ngoài về GDĐH cũng đặt ra các cơ chế để làm rõ các quy trình, cơ chế đảm bảo chất lượng của cơ sở GDĐH, mức độ sử dụng các cơ chế đó, kết quả và hiệu quả của chúng Sự giám sát bên ngoài này nhằm làm rõ trách nhiệm của các cơ sở GDĐH Đây
là cách thức tiến bộ hơn việc giám sát chất lượng Đảm bảo chất lượng yêu cầu trách nhiệm cao từ phía các cơ sở GDĐH [27]
Đảm bảo chất lượng nhằm các mục tiêu sau đây:
Đánh giá hiện trạng của cơ sở giáo dục đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra như thế nào? hiện trạng cơ sở giáo dục có chất lượng và hiệu quả ra sao?
Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm mạnh so với các tiêu chuẩn đề ra của cơ sở giáo dục
Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm yếu so với các tiêu chuẩn
đề ra của cơ sở giáo dục
Trên cơ sở điểm mạnh và điểm yếu phát hiện được so với các tiêu chuẩn đề ra, định ra kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để phát triển
Trang 24 Đảm bảo chất lượng sẽ mang lại cho cộng đồng, đặc biệt là giới học viên sự đảm bảo chắc chắn một trường đã được chứng minh thoả mãn các yêu cầu và tiêu chí đáng tin cậy và có đủ cơ sở để tin rằng cơ sở giáo dục này sẽ tiếp tục đạt các yêu cầu và tiêu chí đã đề ra
Mục đích của đảm bảo chất lượng không chỉ là đảm bảo nhà trường có trách nhiệm đối với chất lượng đào tạo mà còn mang lại động lực cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo cũng như chất lượng toàn trường [12]
Tóm lại: Vai trò của đảm bảo chất lượng là giúp mọi người hiểu rõ hơn thực trạng của giáo dục đại học trong cả nước; đảm bảo quyền lợi cho người học; đảm bảo rằng hệ thống giáo dục đại học sẽ cung cấp được một lực lượng lao động có năng lực cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động [12]
1.2.1.3 Đảm bảo chất lượng giáo dục tại Việt Nam
Việc hình thành và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục là một chủ đề còn khá mới ở Việt Nam Trong những năm qua, hệ thống đảm bảo chất lượng nói chung và kiểm định chất lượng giáo dục nói riêng ở nước
ta đang từng bước được hình thành Đầu năm 2002, Bộ GD&ĐT đã thành
lập Phòng Kiểm định chất lượng đào tạo trong Vụ đại học (nay là Vụ
GDĐH) Năm 2003, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục (Cục KTKĐCLGD) đã được thành lập theo Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003 của Chính phủ Việc thành lập Cục KTKĐCLGD đã đánh dấu một thời kỳ mới của sự phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam Năm 2004, Bộ GD&ĐT đã ban hành quy định tạm thời về kiểm định chất lượng các trường đại học làm công cụ để triển khai hoạt động kiểm định chất lượng trong cả nước Năm 2005, kiểm định chất lượng giáo dục được đưa vào Luật Giáo dục; năm 2006 được đưa vào Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/08/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi
Trang 25hành một số điều của Luật Giáo dục Đến nay, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành tương đối đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật về kiểm định chất lượng GDĐH - TCCN và đang được triển khai thực hiện
Cục KTKĐCLGD là đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản
lý nhà nước chuyên ngành về công tác thi và đánh giá chất lượng giáo dục trong phạm vi cả nước; thực hiện các dịch vụ công về khảo thí và KĐCLGD Cục có nhiệm vụ chủ trì giúp bộ trưởng chỉ đạo việc đánh giá chất lượng giáo dục tiểu học, trung học, giáo dục thường xuyên; chủ trì đề xuất các chủ trương và biện pháp ĐBCLGD đại học và trung cấp chuyên nghiệp, đề xuất công nhận các cơ sở giáo dục và chương trình đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Thực hiện nhiệm được giao, Cục đang chỉ đạo xây dựng hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục trong cả nước [11]
1.2.2 Các biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục
Biện pháp là cách thức tiến hành làm để giải quyết một vấn đề cụ thể
Vì vậy, biện pháp ĐBCLGD có thể hiểu là cách thức thực hiện nhằm mục đích đảm bảo chất lượng Để thực hiện công tác đảm bảo chất lượng giáo dục, các trường Đại học và cao đẳng thực hiện các biện pháp đảm bảo chất lượng như:
Công bố chương trình đào tạo thông qua 3 công khai, xây dựng chuẩn đầu ra
Thực hiện công tác tự đánh giá hằng năm, báo cáo về thực trạng chất lượng của cơ sở giáo dục, tổ chức đánh giá ngoài
Đánh giá chương trình đào tạo
Lấy ý kiến phản hồi của người học về hoạt động giảng dạy môn học
Chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ Đây là một bước thay đổi lớn trong công tác đào tạo
Ngoài ra, mỗi trường còn thành lập Phòng chuyên trách theo dõi
Trang 26công tác đảm bảo chất lượng trong Nhà trường…
Trong nghiên cứu của luận văn, xuất phát từ việc triển khai thực hiện các biện pháp ĐBCLGD tại Đại học Sài Gòn thời gian qua và thực nghiệm
về sự tác động của chúng tới PPGD của giảng viên, chúng tôi tập trung nghiên cứu tác động của các biện pháp ĐBCLGD trong số các biện pháp trên
1.2.3 Phương pháp giảng dạy
Phương pháp giảng dạy (PPGD) là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình dạy học Khi đã xác định được mục đích, nội dung chương trình giảng dạy, thì PPGD của giáo viên sẽ quyết định chất lượng quá trình dạy học Trong triết học, vấn đề phương pháp được đề cập từ khá nhiều Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp: “Metodos”, có nghĩa là con đường, cách thức vận động của một sự vật hiện tượng Trong thực tế, phương pháp giảng dạy hay còn được gọi là phương pháp dạy học thường được hiểu là cách thức tiến hành các hoạt động của người dạy và người học nhằm thực hiện một nội dung dạy học đã được xác định Định nghĩa về phương pháp dạy học được diễn đạt theo những cách khác nhau theo mỗi tác giả Tác giả Phan Trọng Ngọ (2005) đã định nghĩa PPGD là những con đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học Tác giả Phạm Viết Vượng (2000) đã đưa ra định nghĩa một cách chi tiết: phương pháp là con đường, là cách thức mà chủ thể sử dụng để tác động nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tượng theo mục đích đã định
Tóm lại: PPGD là những con đường, cách thức hoạt động phối hợp của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện một nội dung dạy học đã được xác định và chủ thể của hoạt động dạy là giáo viên, người tổ chức mọi hoạt động học tập của học sinh, chủ thể của hoạt động học là học sinh, chủ thể tích cực trong nhận thức, rèn luyện và tu dưỡng bản thân
Trang 27 PPGD của giáo viên có ảnh hưởng lớn đối với chất lượng đào tạo, đổi mới PPGD và đánh giá hiệu quả của PPGD luôn luôn được quan tâm trong công tác đào tạo [18]
Vai trò của giáo viên là đảm bảo được kết quả giảng dạy có hiệu quả nhất Mỗi PPGD đều có những điểm mạnh và những điểm yếu Do đó trong quá trình giảng dạy giáo viên nên kết hợp các phương pháp với nhau [28]
Mỗi PPGD dù cổ điển hay hiện đại đều nhấn mạnh lên một khía cạnh nào đó của cơ chế dạy-học hoặc nhấn mạnh lên mặt nào đó thuộc về vai trò của người thầy Cho dù các PPGD thể hiện hiệu quả như thế nào thì
nó vẫn tồn tại một vài khía cạnh mà người học và người dạy chưa khai thác hết [18]
Có 2 dạng PPGD:
* PPGD truyền thống
* PPGD tích cực
1.2.3.1 Phương pháp giảng dạy truyền thống
PPGD truyền thống là những cách thức dạy học quen thuộc được truyền từ lâu đời và được bảo tồn, duy trì qua nhiều thế hệ Về cơ bản, PPGD này lấy hoạt động của người thầy là trung tâm Theo Frire - nhà xã hội học, nhà giáo dục học nổi tiếng người Braxin đã gọi PPGD này là "Hệ thống ban phát kiến thức", là quá trình chuyển tải thông tin từ thầy sang trò Thực hiện lối dạy này, giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là "kho tri thức" sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo Với PPGD truyền thống, giáo viên là chủ thể, là tâm điểm, học sinh là khách thể,
là quỹ đạo Giáo án dạy theo PPGD này được thiết kế kiểu đường thẳng theo hướng từ trên xuống Do đặc điểm hàn lâm của kiến thức nên nội dung bài dạy theo phương pháp truyền thống có tính hệ thống, tính logic cao [29]
Trang 28Đặc điểm của PPGD truyền thống
Giáo viên vẫn giữ vị trí trung tâm
Giáo viên quan tâm chủ yếu tới cách trình bày của mình sáng sủa, rõ ràng, logic và dễ hiểu
Giáo viên chưa quan tâm đến “cái mà học sinh cần nắm được”
Kiến thức được trực tiếp và dưới dạng có sẵn
Giáo viên có vai trò gần như tuyệt đối trong việc kiểm tra và đánh giá
Phương pháp điển hình của PPGD truyền thống là phương pháp thuyết trình Đặc điểm cơ bản nổi bật của phương pháp thuyết trình là thông báo - tái hiện Vì vậy, phương pháp thuyết trình còn có tên gọi là phương pháp thuyết trình thông báo - tái hiện Phương pháp này chỉ rõ tính chất thông báo bằng lời của thầy và tính chất tái hiện khi lĩnh hội của trò Giáo viên nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa, chuẩn bị bài giảng và trực tiếp điều khiển thông báo luồng thông tin tri thức đến học sinh Học sinh tiếp nhận những thông tin đó bằng việc nghe, nhìn, cùng tư duy theo lời giảng của thầy, hiểu, ghi chép và ghi nhớ Như vậy, những kiến thức đến với học sinh theo phương pháp này gần như đã được thầy "chuẩn bị sẵn" để trò thu nhận, sự hoạt động của trò tương đối thụ động Phương pháp thuyết trình chỉ cho phép người học đạt đến trình độ tái hiện của sự lĩnh hội tri thức
Thuyết trình kiểu thuật chuyện: Giáo viên có thể thông qua những sự kiện kinh tế - xã hội, những câu chuyện hoặc tác phẩm văn học, phim ảnh… làm tư liệu để phân tích, minh họa, khái quát và rút ra nhận xét, kết luận nhằm xây dựng biểu tượng, khắc sâu nội dung kiến thức của bài học [28]
1.2.3.2 Phương pháp giảng dạy tích cực
PPGD tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những PPGD theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
Trang 29người học "Tích cực" trong PPGD tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động chủ động, trái nghĩa với hoạt động thụ động [28]
PPGD tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để giảng dạy theo PPGD tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với giảng dạy theo PPGD truyền thống [18]
Bản chất của phương pháp tích cực:
Khai thác động lực học tập trong bản thân người học
Coi trọng lợi ích và nhu cầu của người học
Tạo khả năng để người học thích ứng tốt với đời sống xã hội
Những đặc trưng của phương pháp:
Giáo viên là người đạo diễn, trọng tài, cố vấn, tổ chức Học sinh là chủ thể, trở thành trung tâm được định hướng để tự xây dựng kiến thức mới
Kiến thức được hình thành do sự khám phá của học sinh qua quá trình hoạt động giải quyết vấn đề
Giáo viên hướng dẫn phương pháp học theo nhóm, ở lớp, ở nhà [26] Một số phương tiêu biểu cho PPGD tích cực là PPGD nêu vấn đề để người học tự giải quyết, PPGD theo nhóm, phương pháp thảo luận, PPGD thông qua đồ án môn học…
PPGD nêu vấn đề
Đặc trưng của PPGD nêu vấn đề là PPGD mà giáo viên nêu ra các vấn
đề để sinh viên tìm tòi giải quyết, qua PPGD này học sinh có thể thu được những kiến thức tốt nhất, cập nhật nhất, kiến thức bao phủ trên một diện rộng, học sinh chủ động tự giác trong học tập PPGD này làm chuyển đổi các hoạt động học sinh từ thụ động sang tính tích cực, chủ động và giáo viên
Trang 30có vai trò khơi dậy các vấn đề và hướng dẫn người học PPGD nêu vấn đề làm chuyển đổi mối quan hệ giữa vai trò của học sinh và giáo viên [18] Trong PPGD này việc thảo luận nhóm đòi hỏi có sự tham gia của tất cả các cá nhân trong nhóm, nó không những giúp mỗi cá nhân phát triển được khả năng giao tiếp và các kỹ năng xã hội mà còn phát triển được quá trình nhận thức (đọc hiểu, phân tích, đánh giá,…) [18]
PPGD thông qua việc làm đồ án môn học
Khác với PPGD nêu vấn đề, PPGD thông qua việc làm làm đồ án môn học đòi hỏi học sinh phải tự đặt câu hỏi cho bản thân để tự nghiên cứu Đặc trưng của PPGD thông qua việc làm đồ án môn học là học sinh thu được nhiều kiến thức, kỹ năng và nâng cao khả năng kiểm soát tình huống thông qua những phát hiện trong quá trình tiến hành đồ án Ngoài ra người học hiểu biết hơn về chính mình, những hạn chế của bản thân, đánh giá được những nhu cầu của bản thân và cách thức mà mình đã tiến hành Đồ án môn học đòi hỏi học sinh phải có khả năng tổng hợp kiến thức, có khả năng dự đoán, sáng tạo và tư duy đổi mới Trong quá trình xây dựng đồ án luôn đòi hỏi học sinh phải có sự trao đổi, thảo luận giữa người học và người dạy nhằm giải thích và thống nhất mục tiêu Từ đó người học luôn thấy được lợi ích và tạo được động cơ học tập bởi đồ án luôn gắn liền với mục tiêu và các phương tiện để đi đến mục tiêu đó [20]
Trong PPGD này học sinh phát triển các khả năng như: tính tự chủ, tính sáng tạo, khả năng phân tích một vấn đề và khả năng quan hệ xã hội học sinh được làm chủ hành động của mình tuỳ theo mục tiêu cần đạt [18]
PPGD theo nhóm
PPGD theo nhóm đang là một trong những phương pháp tích cực nhằm hướng tới mục tiêu giúp học sinh tham gia vào đời sống xã hội một cách tích cực, tránh tính thụ động, ỷ lại Trong phương pháp này học sinh làm
Trang 31việc cùng nhau theo các nhóm nhỏ và mỗi thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia vào nhiệm vụ đã được phân công sẵn mà không cần sự giám sát trực tiếp của giáo viên
Đặc trưng của PPGD này là học sinh ý thức được khả năng của mình, nâng cao niềm tin của học sinh vào việc học tập, khả năng ứng dụng khái niệm, nguyên lý, thông tin về sự việc vào giải quyết các tình huống khác nhau Ngoài ra, học sinh có thể cải thiện mối quan hệ xã hội giữa các
cá nhân thông qua việc làm việc theo nhóm [18]
PPGD thảo luận
Giáo viên nêu ra hệ thống câu hỏi để hướng dẫn lớp thảo luận Trong quá trình thảo luận, giáo viên có thể đưa ra các gợi ý để giúp nội dung thảo luận luôn sôi nổi và đi đúng hướng Tùy theo nội dung vấn đề mà giáo viên nên hoặc không nên tổng kết thảo luận và giải đáp các câu hỏi
Hầu hết học sinh sẽ cảm thấy bỡ ngỡ khi lần đầu tham gia học tập với phương pháp này, đặc biệt khi họ được yêu cầu phân tích, đánh giá, đưa
ra quan điểm, giải pháp riêng của mình về những vấn đề đặt ra Vì vậy phương pháp này đạt hiệu quả nếu giáo viên có những hướng dẫn ban đầu về mặt phương pháp [18]
Có thể so sánh đặc trưng của PPGD truyền thống và PPGD tích cực
Quan niệm
Học là quá trình tiếp thu và lĩnh
hội, qua đó hình thành kiến
thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm
Học là quá trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện,
luyện tập, khai thác và xử lý
thông tin,… tự hình thành hiểu
biết, năng lực và phẩm chất
Bản chất
Truyền thụ tri thức, truyền thụ
và chứng minh chân lí của giáo
viên
Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh Dạy học sinh cách tìm
ra chân lí
Trang 32đã học thường bị bỏ quên hoặc
ít dùng đến
Chú trọng hình thành các năng
lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của học sinh
- Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương
- Những vấn đề học sinh quan tâm
Phương
pháp
Các phương pháp diễn giảng,
thuyết trình truyền thụ kiến
thức một chiều
Các phương pháp tìm tòi, điều
tra, giải quyết vấn đề; dạy học tương tác
1.3 Một số vấn đề lý luận liên quan đến các biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục và phương pháp giảng dạy
1.3.1 Các biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục đã và đang thực hiện
1.3.1.1 Biện pháp đảm bảo chất lượng của Bộ GD&ĐT
Để đảm bảo chất lượng Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo triển khai các biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục đại học thông qua một số chỉ thị, công văn…như sau:
Trang 33 Chỉ thị số 56/2008/CT-BGDĐT ngày 03/10/2008 của Bộ trưởng về nhiệm vụ trọng tâm giáo dục đại học năm học 2008 – 2009 đã chỉ ra 7 nhiệm
vụ đối với lĩnh vực đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục Bên cạnh việc chỉ đạo triển khai hoạt động tự đánh giá và đánh giá ngoài, chỉ thị còn yêu cầu đẩy mạnh công tác đảm bảo chất lượng của các trường đại học Mỗi trường cần thành lập một trung tâm hay một bộ phận chuyên trách về công tác đảm bảo chất lượng, đẩy mạnh công tác đánh giá và cải tiến chất lượng, từng bước hình thành văn hóa chất lượng bên trong các trường đại học
Chỉ thị số 7823/CT-BGDĐT ngày 27/10/2009 của Bộ trưởng về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học năm học 2009 – 2010 đã chỉ ra 3 nhiệm vụ đối với lĩnh vực đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục, trong
đó yêu cầu các trường tham gia kế hoạch đánh giá và kiểm định chất lượng
do Bộ GD&ĐT xây dựng Đồng thời khuyến khích các trường đăng kí kiểm định trường, kiểm định chương trình bởi các tổ chức quốc tế
Chỉ thị số 4713/CT-BGDĐT ngày 19/10/2010 của Bộ trưởng về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục năm học 2010 – 2011 đã chỉ ra 5 nhiệm vụ
về đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục, trong đó chú trọng các nhiệm
vụ triển khai thực hiện “Đề án xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng đối với giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn
2011 – 2010”; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để thành lập tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học trong cả nước, đẩy mạnh công tác đảm bảo chất lượng bên trong nhà trường, tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ chuyên trách, đẩy mạnh tự đánh giá theo kế hoạch Nâng cao chất lượng đào tạo dựa trên kết quả tự đánh giá và đánh giá ngoài
Chương trình hành động triển khai thực hiện nghị quyết số 05/NQ/BCSĐ ngày 06/01/2010 của Ban cán sự Đảng Bộ GD&ĐT về đổi mới quản lý giáo dục Việt Nam giai đoạn 2010 – 2012, đã chỉ ra 5 nhiệm vụ
Trang 34cơ bản đối với lãnh vực tự đánh giá và đảm bảo chất lượng, giao Cục KTKĐCLGD chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức thực hiện, trong đó nhấn mạnh việc đẩy mạnh tiến độ tự đánh giá của các trường đại học, cao đẳng hoàn thành báo cáo tự đánh giá
Công văn số 10216/BGDĐT-KTKĐCLGD ngày 23/11/2009 về việc báo cáo thực trạng công tác đảm bảo chất lượng năm 2009
Ngoài ra, Bộ GD&ĐT đã xây dựng “Đề án xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng đối với giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2011 – 2020”, trong đó xác định chất lượng giáo dục từ nay đến năm 2020 Năm nhóm nhiệm vụ được xác định trong đề án là:
Củng cố và hoàn thiện văn bản về đảm bảo chất lượng giáo dục đối với GDĐH – TCCN
Xây dựng, phát triển và tăng cường năng lực cho các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục
Tập huấn chuyên môn nghiệp vụ để triển khai các hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đối với GDĐH – TCCN
Triển khai đánh giá và công nhận các cơ sở GDĐH, chương trình GDĐH - TCCN đạt tiêu chuẩn về chất lượng giáo dục
Tăng cường hợp tác quốc tế đối với các nước trong khu vực và trên thế giới trong lĩnh vực kiểm định chất lượng giáo dục [26]
Tính đến hết tháng 8/2010, cả nước có 100 trường đại học, 99 chương trình đào tạo giáo viên trung học phổ thông trình độ đại học, 81 trường cao đẳng, 10 chương trình đào tạo giáo viên tiểu học trình độ cao đẳng, 56 trường trung cấp chuyên nghiệp đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá, trong số
đó đã có 40 trường đại học, 4 chương trình đào tạo giáo viên tiểu học trình
độ cao đẳng đã được đánh giá ngoài [10]
Trang 35Bên cạnh các công việc đảm bảo chất lượng nêu trên, Bộ GD & ĐT
đề ra 10 giải pháp đổi mới quản lý GDĐH, trong đó giải pháp thứ 7 có ghi rõ
"Xây dựng quy định về hoàn thiện việc đánh giá quản lý GDĐH: học sinh tham gia đánh giá giảng dạy của giáo viên, giáo viên tham gia đánh giá hoạt động của lãnh đạo trường Các đại học, cao đẳng tham gia đánh giá chỉ đạo quản lý của Bộ GD&ĐT, Bộ chủ quản và UBND tỉnh, thành phố nơi trường đóng" Việc đánh giá sẽ được triển khai từ tháng 5/2010 Đây là một chủ trương mới, thể hiện đời sống sinh hoạt dân chủ trong các trường đại học, cao đẳng được quan tâm hơn trước, hướng tới mục đích góp phần nâng cao chất lượng đào tạo học sinh tham gia đánh giá giảng dạy của giáo viên nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn học và ở một góc độ nào
đó đã làm thay đổi PPGD truyền thống của giáo viên thầy đọc, trò chép…[11]
1.3.1.2 Biện pháp đảm bảo chất lượng tại các trường đại học
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nguồn nhân lực trở thành động lực chủ yếu đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước
Sứ mệnh của giáo dục Việt Nam nói chung, GDĐH nói riêng là phải tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao giúp họ có thể tồn tại và phát triển trong xã hội của thế kỉ 21 Một số trường đã tiến hành một số biện pháp ĐBCLGD như sau:
Trong hệ thống các trường đại học, đến nay 110 trường đại học (chiếm trên 60% số trường đại học ở trong nước) có trung tâm và đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng đã được thành lập, trong đó có 5 trung tâm do Chính phủ Hà Lan hỗ trợ thành lập và triển khai hoạt động trong các năm 2005-2008 và 2 trung tâm của Đại học Quốc gia (ĐHQG) đã hoạt động hơn 10 năm nay
Trang 36 Công tác tự đánh giá được chú trọng như một công cụ để cải tiến chất lượng 133 trường đại học (hơn 85%) và 178 trường cao đẳng (hơn 90%) đang triển khai công tác tự đánh giá Các tháng 5-6/2009 là thời hạn
mà các trường đại học, cao đẳng phải hoàn thành báo cáo tự đánh giá và nộp báo cáo về Bộ Giáo dục và Đào tạo [10]
Các nỗ lực xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong các cơ sở giáo dục đại học đều nhằm từng bước hình thành văn hóa chất lượng bên trong các cơ sở giáo dục đại học đó với mục đích làm cho mọi thành viên của nhà trường đều hiểu, quan tâm và mong muốn cải tiến chất lượng giáo dục đại học
Đánh giá ngoài là một cách phản ánh khách quan tình trạng của nhà trường từ các góc độ bên ngoài nhà trường Để đảm bảo tính khách quan và
có thể so sánh với các chuẩn mực quốc tế, trong mấy năm qua, 40 trường đại học đã được đánh giá bởi các tổ chức Giáo dục đại học chuyên ngành (HBO raad) Hà Lan, Cơ quan khảo thí (ETS) và Trung tâm Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế (CQAIE) Hoa Kỳ, có sự tham gia của các chuyên gia Việt Nam 20 trường đại học trong số đó đã được Hội đồng quốc gia kiểm định chất lượng giáo dục thẩm định và đề nghị Bộ trưởng ký quyết định công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng [10]
Một số trường đại học được Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) thuê các chuyên gia Hoa Kỳ đánh giá, tạo ra những cái nhìn nhận mới về thực trạng giáo dục của Việt Nam Hai ĐHQG và một số trường đại học khác đang phấn đấu đạt các chuẩn quốc tế và đăng ký kiểm định với các tổ chức kiểm định của nước ngoài (ví dụ: 2 ĐHQG phấn đấu đạt Nhãn hiệu đảm bảo chất lượng bên trong của AUN, Đại học Đà Nẵng đang có các chương trình phấn đấu đạt chuẩn của ABET, Hoa Kỳ)
Đảm bảo chất lượng các chương trình đào tạo giáo viên là một trong những hoạt động cũng đang được chú trọng ở Việt Nam Dự án phát triển
Trang 37giáo viên tiểu học đã tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học, chủ yếu là các trường cao đẳng, 10 chương trình đã được tự đánh giá, trong đó 4 chương trình đã được đánh giá ngoài; Dự án Phát triển giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp đã và đang tăng cường năng lực cho các trường đại học là các cơ sở đào tạo giáo viên THPT và TCCN, 154 chương trình đào tạo giáo viên trung học phổ thông đang được
tự đánh giá, trong đó 25 chương trình sẽ phải hoàn thành báo cáo tự đánh giá trong tháng 5-6/2009 [11]
Bên cạnh tự đánh giá và đánh giá ngoài, các trường Đại học đã xây dựng kế hoạch của các hoạt động đảm bảo chất lượng nâng cao đảm bảo chất lượng và thiết lập “văn hóa chất lượng” nhằm mục đích chuẩn hóa các hoạt động của trường, xây dựng các công cụ hỗ trợ cho hoạt động đảm bảo chất lượng của Trường, lấy ý kiến phản hồi của người học [11]
1.3.1.3 Các biện pháp đảm bảo chất lượng của trường Đại học Sài Gòn
Tháng 04 năm 2007 căn cứ theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Trường Đại học Sài Gòn được thành lập trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Sư phạm TP.HCM Trường Đại học Sài Gòn là cơ sở giáo dục Đại học công lập trực thuộc UBND TP.HCM, chịu sự quản lý Nhà nước về Giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường Đại học Sài Gòn là trường đào tạo
đa ngành, đa cấp, đa lĩnh vực, đào tạo từ trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học Trường đào tạo theo 2 phương thức: chính quy và không chính quy
Số lượng cán bộ, giáo viên và nhân viên của nhà trường gồm 776 người, trong đó có 468 cán bộ giáo viên đứng lớp gồm 2 phó giáo sư, 42 tiến
sĩ, 225 thạc sĩ và 198 đại học
Nhà trường quan tâm đến việc mở rộng quy mô và phương thức đào tạo từ một Trường Cao đẳng Sư phạm trở thành một Trường đại học đa
Trang 38ngành, đa lĩnh vực (kĩ thuật, kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị, sư phạm) theo nhiều hình thức đào tạo khác nhau: chính quy, vừa làm vừa học, liên thông hình thức chính quy, vừa làm vừa học v.v Đồng thời Nhà trường còn
hỗ trợ đào tạo cung cấp nguồn nhân lực cho các địa phương ở khu vực phía Nam Vì vậy, để tăng cường vị thế của mình trường rất chú trọng đến công tác đảm bảo chất lượng Từ năm học 2008 đến nay trường đã tiến hành các công tác nhằm hướng tới việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường và các công tác này có thể xem như biện pháp đảm bảo chất lượng cụ thể như:
+ Công bố chương trình đào tạo ngay từ đầu khóa học thông qua việc phát cho mỗi học sinh một cuốn sổ tay hướng dẫn nội dung đào tạo, cách đánh giá xếp loại trong toàn bộ khóa học, quy chế đào tạo…
+ Bên cạnh đó nhà trường còn yêu cầu mỗi giáo viên khi lên lớp dạy phải có đề cương chi tiết và cách cho điểm đánh giá của môn học
+ Trường đã chuyển quy trình đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ, chuyển sang đào tạo theo học chế tin chỉ là chủ trương đổi mới chất lượng của nhà trường, so với cách đào tạo theo niên chế thì việc đào tạo theo học chế tín chỉ mềm dẻo hơn, người học có quyền lựa chọn các môn học thích hợp với khả năng của mình trong từng học kì Ngoài ra, người học có quyền lựa chọn người dạy…
+ Năm học: 2008-2009, trường đã tiến hành thành lập Phòng KTKĐCLGD với chức năng là tham mưu cho lãnh đạo trường về công tác đảm bảo chất lượng Trường đã giao nhiệm vụ đảm bảo chất lượng trong nhà trường cho Bộ phận chuyên trách này quản lý
+ Hằng năm, trường đã trích một khoảng kinh phí ưu tiên cho công tác tự đánh giá Công tác tự đánh giá được trường quan tâm và xem đây là công tác cần thiết vì qua đó trường có thể xem lại các mặt đã thực hiện được
và chưa thực hiện được trong các năm học trước
Trang 39+ Ngoài ra, trường tăng cường thêm biện pháp đảm bảo chất lượng thông qua việc lấy ý kiến phản hồi của người học về giảng dạy môn học thí điểm ở một số ngành học [35]
1.3.2 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến phương pháp giảng dạy
Ngày nay, GDĐH của Việt Nam cũng như của nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới đang phải đối mặt với xu thế toàn cầu hóa kinh tế ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống Trong hoàn cảnh đó, sự cạnh tranh thị trường lao động có trình độ cao đang ngày càng trở nên gay gắt Sản phẩm của GDĐH Việt Nam là những công dân có phẩm chất và kiến thức nghề nghiệp nhất định đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các tổ chức doanh nghiệp, các đơn vị sử dụng lao động trong nước và ngoài nước
và giúp họ có khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường lao động ngày càng sôi động
Mục tiêu của giáo dục của mỗi nước trong thời đại ngày nay đã có sự thay đổi lớn về các nhìn mới, cách suy nghĩ mới, quan điểm mới đó là: Giáo dục đóng vai người học quyết định trong sự phát triển và thực hiện các chức năng kinh tế, khoa học và văn hóa [26]
Bên cạnh đó, theo yêu cầu của sự phát triển xã hội công tác đảm bảo chất lượng được triển khai thông qua hàng loạt các biện pháp đảm bảo chất lượng Mục tiêu cuối cùng của thực hiện các biện pháp ĐBCLGD là nâng cao chất lượng đào tạo theo xu thế hòa nhập quốc tế Các biện pháp ĐBCLGD đã làm thay đổi quan niệm vai trò của người dạy và người học như sau:
Vai trò của người học đã thay đổi:
Trong thời đại hiện nay, vai trò của người học đã thay đổi: người học là chủ thể của quá trình dạy học, học là quá trình tự biến đổi mình và
Trang 40làm phong phú mình bằng cách chọn nhập và xử lí thông tin từ môi trường xung quanh
Quá trình học là sự đối thoại nhóm được lặp lại và cộng tác giải quyết các vấn đề
Vai trò người của người dạy cũng đã thay đổi:
Tuyên bố mục tiêu, hướng dẫn người học bằng các gợi ý, sắp xếp tăng cường các hệ quả đối với hành vi tiếp ngay sau đó của người học
Vai trò hàng đầu của người dạy là sắp xếp các điều kiện để hỗ trợ các quá trình ghi nhớ
Tổ chức các thông tin mới, liên kết các thông tin mới và các kiến thức đã có Vai trò của người dạy là mô hình và hướng dẫn, đặt ra những vấn
đề hay, tạo nên các hoạt động học trong nhóm
Nêu mô hình và hướng dẫn quá trình của tri thức cấu trúc
Như vậy giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức nữa Kiến thức của người học có được do tiếp xúc môi trường xung quanh là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: nghe giảng, trao đổi thảo luận, tham quan, đọc và tham khảo tài liệu giấy và internet, Để người học thích nghi với môi trường xã hội, PPGD của giáo viên phải thay đổi [26]