MỐI LIÊN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG XÃ HỘI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG CHUỖI CUNG ỨNG, VAI TRÒ TRUNG GIAN CỦA LIÊN KẾT TRONG CHUỖI CUNG ỨNG TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
DƯƠNG NGỌC HỒNG
MỐI LIÊN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG XÃ HỘI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG CHUỖI CUNG ỨNG, VAI TRÒ TRUNG GIAN CỦA LIÊN KẾT TRONG CHUỖI
CUNG ỨNG TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
Mã số: 9340101
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS.TS Nguyễn Đông Phong
2 PGS TS Bùi Thanh Tráng
Thành phố Hồ Chí Minh – 2022
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Người hướng dẫn khoa học:
(ghi rõ họ tên, chức danh khoa học, học vị) Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại
Vào hồi giờ ngày tháng năm Có thể tìm thấy luận án tại thư viện: ……….………
(ghi tên các thư viện nộp luận án)
Trang 3CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trên thế giới, các nhà lãnh đạo và nhà quản lý tại các công ty lớn đang quan tâm và hướng đến việc phát triển bền vững Nhiều tác giả chỉ ra rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt tại khu vực Châu Á, phát triển bền vững hiện vẫn đang hạn chế và chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu (Gugler và Shi, 2009) Hơn nữa, các công ty đa quốc gia phần lớn hoạt động tại các nước đang phát triển Các vấn đề về xã hội trong chuỗi cung ứng là một trong những chủ đề được thảo luận nhiều nhất ở các quốc gia này Tuy nhiên, các nhà quản lý không dành nhiều
sự quan tâm đến việc tìm hiểu và giải quyết Bên cạnh đó, việc áp dụng các tiêu chuẩn xã hội để đo lường hiệu quả hoạt động liên quan đến môi trường, tài chính và xã hội hầu như không được thực hiện, đặc biệt là trong chuỗi cung ứng (Torugsa, O'Donohue, & Hecker, 2013; Hutchins và Sutherland, 2008) Do đó, nhiều học giả cho rằng lĩnh vực này cần được nghiên cứu sâu hơn để tìm được những giải pháp triệt để liên quan đến phát triển bền vững về mặt xã hội tại các quốc gia này Tác giả nhận thấy cần phải có một nghiên cứu về tác động của phát triển bền vững tại Việt Nam Thứ nhất, như đã đề cập ở trên, tác giả nhận thấy sự cần thiết về một nghiên cứu chuyên sâu: mối liên hệ của phát triển bền vững xã hội (PTBVXH) và hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng với vai trò trung gian của sự liên kết, đặc biệt là ở các nền kinh tế đang phát triển Trong thời gian gần đây, với tư cách là một thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, Việt Nam đã và đang tích cực xây dựng và thực hiện các chiến lược thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững Chính phủ và Nhà nước đã ban hành một số chính sách và chương trình nhằm nâng cao nhận thức, hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các mô hình kinh doanh
Trang 4bền vững Do đó, nghiên cứu của tác giả xem xét các vấn đề chính: (1) PTBVXH ảnh hưởng như thế nào sự liên kết và hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng? (2) Sự liên kết trong chuỗi cung ứng (nội bộ, nhà cung cấp, và khách hàng) có tác động như thế nào đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng? (3) Sự liên kết giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng làm trung gian cho mối quan hệ giữa tính bền vững xã hội và hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng như thế nào? Thông qua việc xem xét các vấn đề trên, nghiên cứu của chúng tôi sẽ mang đến những đóng góp về mặt học thuật cũng như thực tiễn, trong bối cảnh tại các nền kinh tế đang phát triển
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu 1 Xác định mối quan hệ giữa phát triển bền vững
về mặt xã hội và hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng, vai trò trung gian của sự liên kết trong chuỗi cung ứng
Mục tiêu 2 Kiểm tra tác động của PTBVXH trên ba khía cạnh của sự liên kết trong chuỗi cung ứng: nội bộ, khách hàng, và nhà cung cấp
Mục tiêu 3 Xác định mối quan hệ giữa sự liên kết trong chuỗi cung ứng với hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1 PTBVXH sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng với vai trò trung gian của sự liên kết trong chuỗi cung ứng như thế nào?
Câu hỏi 2 PTBVXH ảnh hưởng như thế nào đến sự liên kết trong chuỗi cung ứng (nội bộ, nhà cung cấp, và khách hàng)?
Câu hỏi 3 Sự liên kết trong chuỗi cung ứng ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng?
Trang 51.4 Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu
Nghiên cứu này được chia thành hai giai đoạn: (1) Nghiên cứu thí điểm, và (2) Nghiên cứu chính Các biến quan sát liên quan đến PTBVXH trong chuỗi cung ứng được điều chỉnh từ nghiên cứu của Mani và cộng sự, (2016) và Mani & Agrawal (2015) Ngoài ra, các biến quan sát từ một nghiên cứu trước của Jajja, Chatha, & Farooq (2018) đã được sử dụng để đo lường Sự liên kết trong chuỗi cung ứng, bao gồm Sự liên kết với nhà cung cấp, nội bộ, và khách hàng Đối với hiệu quả hoạt động khách hàng, hiệu quả hoạt động nhà cung cấp, và hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng, tác giả đã sử dụng các biến quan sát từ nghiên cứu của Mani, Jabbour và Mani (2020) Bên cạnh đó, tác giả đã thực hiện khảo sát kết hơp trực tuyến và trực tiếp với các nhân viên điều hành và nhà quản lý tại các công ty ở Việt Nam Dữ liệu của nghiên cứu này được lấy từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2021; đối tượng khảo sát là các công ty vừa, nhỏ và lớn tại Việt Nam, các công ty đa phần tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương
và Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có những khu công nghiệp và khu chế xuất lớn Tất cả các công ty phải có ít nhất 4-5 năm hoạt động trong chuỗi cung ứng Tác giả đã áp dụng các tiêu chí này nhằm đảm bảo các công ty đều có thời gian hoạt động lâu dài cũng như có những kiến thức liên quan đến PTBVXH
1.5 Đóng góp nghiên cứu
1.5.1 Đóng góp lý thuyết
Kết quả của nghiên cứu sẽ làm rõ những lý thuyết liên quan đến PTBVXH tại các quốc gia đang phát triển Thứ nhất, kết quả của nghiên cứu giải thích sâu hơn những khái niệm về PTBVXH trong chuỗi cung ứng và chứng minh rằng PTBVXH sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng một cách đáng kể Thứ hai, nghiên
Trang 6cứu này có thể là nghiên cứu đầu tiên điều tra về mối liên hệ giữa PTBVXH và hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng tại các thị trường mới nổi, đặc biệt là ở Việt Nam Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng sự liên kết với khách hàng không ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả kinh doanh của khách hàng trong chuỗi cung ứng Việc này có thể lý giải là do có sự khác biệt trong nhận thức và kiến thức quản lý giữa nhân viên điều hành và nhà quản lý doanh nghiệp Bên cạnh đó, nghiên cứu sẽ thu hẹp được khoảng trống bằng cách giải thích các khía cạnh khác nhau của phát triển bền vững trong chuỗi cung ứng tại các nước đang phát triển như Việt Nam Kết quả chứng minh rằng nếu công ty thường xuyên đóng góp, hỗ trợ tích cực vào các hoạt động xã hội, từ thiện tại địa phương, cũng như nâng cao đời sống cho nhân viên, thì công ty sẽ dễ dàng nâng cao được danh tiếng và uy tín Khách hàng cũng sẵn sàng mua các sản phẩm và dịch vụ đến từ các công ty đã và đang thực hiện cam kết về phát triển bền vững Hơn nữa, các công ty có thể khuyến khích các nhà cung cấp cũng như khách hàng của họ cùng chung tay hành động, nâng cao ý thức về tầm quan trọng của việc phát triển bền vững
1.5.2 Đóng góp thực tiễn
Trước hết, các nhà quản lý nên quan tâm đến việc nâng cao sự liên kết trong chuỗi cung ứng, bao gồm sự liên kết với nhà cung cấp, khách hàng và nội bộ công ty Hơn nữa, nghiên cứu chứng minh rằng tùy vào từng lĩnh vực và ngành nghề cụ thể, sự liên kết sẽ có sự thay đổi, không đồng nhất với nhau Vì vậy, nhà quản lý cần phải có những chính sách cũng như giải pháp cụ thể phù hợp với mục tiêu kinh doanh của công
ty Ngoài ra, nghiên cứu giúp các nhà quản lý giải quyết các vấn đề về PTBVXH một cách hiệu quả Kết quả nghiên cứu khuyến khích các nhà quản lý nên tăng cường các phúc lợi và nâng cao điều kiện làm
Trang 7việc của nhân viên trong công ty cũng như đóng góp cho các hoạt động
xã hội và thiện nguyện tại địa phương Cuối cùng, nghiên cứu này cung cấp hướng dẫn quan trọng cho các nhà quản lý về lợi lích của phát triển bền vững và tác động của phát triển bền vững lên hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng
CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương này sẽ đề cập đến những lý thuyết được trình bày trong nghiên cứu nhằm làm rõ khoảng trống nghiên cứu Bên cạnh đó, những lý thuyết nền tảng liên quan đến phát triển bền vững, sự liên kết, và hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng sẽ được đề cập trong phần này Ngoài ra, những giả thuyết và mô hình nghiên cứu sẽ được tác giả đề nghị ở cuối chương
2.1 Lý thuyết chính
2.1.1 PTBVXH trong chuỗi cung ứng
Nhiều tác giả giải thích rằng PTBVXH đề cập đến việc giải quyết các sản phẩm và dịch vụ trong chuỗi cung ứng có ảnh hưởng trực tiếp đến
sự an toàn, sức khỏe và quyền lợi của tất cả thành viên tham gia (Tate, Ellram, & Kirchoff, 2010; Giannakis & Papadopoulos, 2016; Castka
& Corbett, 2016) Trong những năm gần đây, các chuyên gia và nhà nghiên cứu trên thế giới đang có xu hướng quan tâm nhiều hơn về việc PTBVXH trong chuỗi cung ứng (Lu và cộng sự, 2012; Mani, Gunasekaran, & Delgado, 2018) Một số nghiên cứu đã gợi ý rằng hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng có liên quan trực tiếp đến việc áp dụng các quy tắc PTBVXH tại doanh nghiệp (Carter, 2005) Ngoài ra, các nhà lãnh đạo trên thế giới cũng dành nhiều sự quan tâm về vấn đề phát triển bền vững (Carter & Liane Easton, 2011; Carter & Jennings, 2004) Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu ở các nước đang phát triển về
Trang 8chủ đề này (Ashby, Leat, & Hudson-Smith, 2012) Đây là có thể được xem là một khoảng trống trong nghiên cứu
Trong khi sự chú ý đến việc áp dụng các quy tắc về thực hành PTBVXH ngày càng gia tăng trên toàn cầu, nhiều nhà nghiên cứu chỉ
ra rằng các nghiên cứu trong lĩnh vực này tại các nước đang phát triển, đặc biệt là tại châu Á đang rất hạn chế (Gugler và Shi, 2009) Nhiều công ty đa quốc gia đang đặt nhiều cơ sở và nhà máy sản xuất tại các nước đang phát triển Các vấn đề xã hội trong chuỗi cung ứng được xem là một trong những chủ đề được thảo luận nhiều nhất tại các thị trường mới nổi; tuy nhiên, các nhà quản lý đã không quan tâm đến việc tìm hiểu và giải quyết triệt để những vấn đề này vì nhiều lý do khác nhau Bên cạnh đó, việc áp dụng các tiêu chuẩn xã hội để đo lường hiệu quả về môi trường, tài chính và xã hội hầu như không được thực hiện, đặc biệt là trong chuỗi cung ứng (Torugsa và cộng sự, 2013; Hutchins và Sutherland, 2008)
Hơn nữa, Yawar và Seuring (2017) cho rằng các vấn đề xã hội trong chuỗi cung ứng tại các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển có rất nhiều sự khác biệt Nên có nhiều nghiên cứu liên quan đến các vấn đề xã hội tại các quốc gia đang phát triển, nơi có nền kinh tế – chính trị, văn hóa – xã hội rất đa dạng và phức tạp Bên cạnh đó, các chỉ tiêu đo lường sẽ có sự thay đổi, tùy thuộc vào môi trường kinh doanh nơi mà các công ty đa quốc gia đang hoạt động (Hoejmose, Brammer, & Millington, 2013) Hiện nay, có rất nhiều tác giả chứng minh rằng, PTBVXH sẽ tạo ra một tiền đề quan trọng trong tương lại, cũng như mang lại rất nhiều lợi ích và hiệu quả trong chuỗi cung ứng Dựa trên những nghiên cứu trước đây, tác giả đề xuất sáu nhân tố ảnh hưởng đến PTBVXH tại Việt Nam, bao gồm “Từ thiện, Công bằng, Nhân quyền, An toàn, Sức khỏe & Phúc lợi, và Đạo đức”
Trang 92.1.2 Sự liên kết trong chuỗi cung ứng
Sự liên kết trong chuỗi cung ứng được giải thích là một quá trình trong
đó tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng đều tham gia và liên kết chặt chẽ với nhau nhằm đạt được mục tiêu một cách hiệu quả Theo Horvath (2001), một trong những chìa khóa chính dẫn đến thành công trong chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các thành viên Do đó, các doanh nghiệp cần phải tập trung phát triển sự liên kết và hợp tác trong chuỗi cung ứng để tăng khả năng cạnh tranh Liên kết nhà cung cấp, liên kết nội bộ và liên kết khách hàng được xác định là ba khía cạnh quan trọng của sự liên kết trong chuỗi cung ứng (Frohlich & Westbrook, 2001; Zhao, Huo, Selen, & Yeung, 2011) Ngoài ra, nhu cầu liên kết chặt chẽ giữa các nhà cung cấp, khách hàng và nội bộ đang được quan tâm nhiều hơn do sự cạnh tranh toàn cầu Điều này dẫn đến việc cung cấp đầy đủ thông tin, sự trao đổi chặt chẽ về nhu cầu hàng hóa và dịch vụ trong chuỗi cung ứng (Chang & Lee, 2007)
Ngoài ra, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra sự hợp tác giữa liên kết nội bộ, nhà cung cấp, và khách hàng (Hillebrand & Biemans, 2004), điều này sẽ tạo ra một mối quan hệ tích cực giữa bên trong và bên ngoài công ty (Stank, Keller, & Daugherty, 2001) Tương tự, một nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng hợp tác nội bộ có tác động tích cực đến hợp tác bên ngoài (Braunscheidel & Suresh, 2009) Có rất nhiều tác giả cho rằng mối quan hệ giữa liên kết bên ngoài và liên kết bên trong cần phải được tăng cường và chú ý nhiều hơn nếu công ty muốn đạt được hiêu quả kinh danh và nâng cao chất lượng dịch vụ/sản phẩm trong chuỗi cung ứng tòan cầu (Salvador, Rungtusanatham, & Forza, 2004; Sanders & Premus, 2005; Sanders, 2007; Carr & Kaynak, 2007) Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự phối hợp trong chuỗi
Trang 10cung ứng cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của các sản phẩm/dịch vụ mới (Koufteros, Vonderembse, & Doll, 2001)
2.1.3 Hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng
Hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng là khả năng tiếp cận để xác định hiệu suất tổng thể của chuỗi cung ứng Một định nghĩa khác về hiệu suất của chuỗi cung ứng là việc thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng (Grimm, 2004) Ngoài ra, hiệu suất của chuỗi cung ứng đề cập đến các hoạt động mở rộng của chuỗi cung ứng trong việc đáp ứng các yêu cầu của khách hàng cuối, bao gồm tính sẵn có của sản phẩm, giao hàng đúng thời hạn, chất lượng của sản phẩm Việc doanh nghiệp có thể kiểm soát được lượng hàng tồn kho, và năng lực cung ứng hàng hóa/dịch vụ một cách hiệu quả và phù hợp với nhu cầu thị trường Hơn nữa, hiệu suất của chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm hiệu quả hoạt động của một công ty, mà nó còn bao hàm toàn bộ hiệu suất của các thành viên trong chuỗi cung ứng: nhà cung cấp, khách hàng, và các bên liên quan (Hausman, 2004) Theo Fugate, Stank, & Mentzer (2009), hiệu suất trong chuỗi cung ứng là tỷ lệ nguồn lực được sử dụng so với kết quả thu được Nếu nguồn lực bỏ ra càng ít,
mà hiệu quả đạt được càng cao, thì hiệu suất trong chuỗi cung ứng đạt được mức tối đa (Mentzer & Konrad, 1991) Ngày nay, khi đo lường hiệu suất trong chuỗi cung ứng, các nhà quản lý thường đo lường hiệu suất của khách hàng cũng như hiệu suất của nhà cung cấp, để tính toán mức độ hiệu quả của toàn bộ quá trình trong chuỗi cung ứng
2.2 Cơ sở lý thuyết
Trong phần này, tác giả sử dụng ba lý thuyết nền để giải thích sự phát triển các giả thuyết và mô hình nghiên cứu của luận án
Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory): mối quan
hệ giữa PTBVXH và sự liên kết trong chuỗi cung ứng
Trang 11 Năng lực động (Dynamic capabilities view): mối quan hệ
giữa sự liên kết trong chuỗi cung ứng và hiệu suất trong chuỗi cung ứng
Quan điểm dựa trên nguồn lực của các bên liên quan (Stakeholder resource based view): mối quan hệ giữa
PTBVXH và hiệu suất trong chuỗi cung ứng
2.3 Phát triển giả thuyết
Bảng 1 – Giả thuyết nghiên cứu
6 H6 Sự liên kết NCC tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động NCC
7 H7 Sự liên kết KH tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động KH
8 H8 Sự liên kết nội bộ tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng
9 H9 Hiệu quả hoạt động NCC tác động tích cực đến hiệu
quả hoạt động chuỗi cung ứng
10 H10 Hiệu quả hoạt động KH tác động tích cực đến hiệu
quả hoạt động chuỗi cung ứng
11 H11 PTBVXH tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động
chuỗi cung ứng
Nguồn: đề xuất từ tác giả, 2021
Trang 12Hình 1 – Mô hình nghiên cứu
Nguồn: đề xuất từ tác giả, 2021
CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này mô tả phương pháp thực hiện nghiên cứu và cung cấp một số thông tin về cách tiếp cận nghiên cứu, bảng câu hỏi thiết kế, và cách thu thập dữ liệu Các phương pháp như đánh giá độ tin cậy, giá trị hội tụ và phân biệt của các thang đo cũng được giới thiệu trong chương này Cuối cùng, tác giả sẽ áp dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (PLS-SEM) để kiểm tra các tác động trực tiếp, biến trung gian, biến kiểm soát và phân tích đa nhóm
3.1 Nghiên cứu thí điểm
3.1.1 Thiết kế bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi được thiết kế chia thành 2 phần chính Phần đầu tiên bao gồm các mục hỏi đo lường SCSS (PTBVXH trong chuỗi cung ứng) Các phản hồi được đo lường trên thang đo Likert 7 điểm gồm 1 = hoàn toàn không đồng ý, 4 = không ý kiến và 7 = hoàn toàn đồng ý PTBVXH trong chuỗi cung ứng được điều chỉnh từ nghiên cứu của
Trang 13Mani, Agarwal, et al (2016) và Mani & Agrawal (2015) Ngoải ra, các biến quan sát từ một nghiên cứu trước đây của Jajja et al (2018) được sử dụng để đo lường Sự liên kết trong chuỗi cung ứng, bao gồm
Sự liên kết với nhà cung cấp (4 biến quan sát), Sự liên kết trong nội
bộ (4 biến quan sát) và Sự liên kết với khách hàng (4 biến quan sát) Đối với hiệu quả hoạt động của Khách hàng (2 biến quan sát), hiệu quả hoạt động của Chuỗi cung ứng (4 biến quan sát) và hiệu quả hoạt động của Nhà cung cấp (3 biến quan sát), tác giả đã sử dụng các biến quan sát từ nghiên cứu của Mani, Jabbour và Mani (2020) Các câu hỏi này được trình bày trong Bảng 2 Người trả lời được yêu cầu dựa vào sự hiểu biết và kinh nghiệm của họ về các hoạt động liên quan đến chuỗi cung ứng trong công ty, sau đó sẽ đánh giá mức độ đồng ý dựa trên thang điểm Likert (từ 1 điểm đến 7 điểm)
Trong bước tiếp theo, một nghiên cứu thí điểm được thực hiện với 10 nhà quản lý và 30 nhân viên điều hành để đánh giá kết quả bài khảo sát Những người trả lời phải có ít nhất 10 năm kinh nghiệm làm việc Ngoài ra, các công ty của họ phải tham gia vào chuỗi cung ứng trong một thời gian dài và thường xuyên có những hoạt động đóng góp cho cộng đồng và xã hội Tất cả các nhà quản lý trong các nghiên cứu thí điểm đều đến từ các công ty vừa và lớn tại Việt Nam Tác giả lựa chọn tiêu chí trên vì người tham gia sẽ có đầy đủ kiến thức và hiểu biết sâu sắc về văn hóa tổ chức cũng như các mục tiêu phát triển bền vững của doanh nghiệp
Đầu tiên, tác giả sẽ gửi bảng câu hỏi qua email và gửi bản giấy trực tiếp đến công ty của người tham gia Tiếp theo, tác giả phải đảm bảo thông tin cá nhân và kết quả trả lời của người tham gia hoàn toàn được bảo mật và chỉ được sử dụng cho mục đích của nghiên cứu này Ngoài
ra, tác giả sẽ phỏng vấn chuyên sâu thông qua hình thức họp trực tuyến