Phương pháp dạy học ở các cấp học nói chung và ở THCS nói riêng phải hướng tới hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, nuôi dưỡng các ý tưởng khoa học của người học, làm cho học
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Khoa học giáo dục phát triển ngày càng mạnh mẽ, để đáp ứng được yêu cầu của xã hội và sự tiến bộ của loài người thì việc đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học để chuẩn bị cho thế hệ trẻ có đủ khả năng làm chủ được nền khoa học kĩ thuật hiện đại là rất cần thiết Nền giáo dục nước ta đang từng bước đổi mới về mọi mặt để có thể đào tạo được những con người lao động đạt được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đặc biệt mục đích giáo dục hiện nay không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức, kĩ năng mà con người tích lũy được từ trước tới nay mà phải đào tạo một con người có năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự chủ
Để đạt được điều đó nền giáo dục phải đổi mới toàn diện và quan trọng nhất phải đổi mới chiến lược đào tạo con người, những con người mới đáp ứng yêu cầu của thời đại mới Đổi mới giáo dục cần phải đổi mới phương pháp dạy học, trong
đó cần vận dụng những phương pháp dạy học tích cực đã tổ chức thành công ở các nước tiên tiến trên thế giới vào điều kiện thực tiễn ở Việt Nam Phương pháp dạy học ở các cấp học nói chung và ở THCS nói riêng phải hướng tới hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, nuôi dưỡng các ý tưởng khoa học của người học, làm cho học sinh có nhu cầu khao khát muốn bộc lộ ý tưởng, biết cách làm việc độc lập
và làm việc hợp tác Sự đổi mới của phương pháp dạy học cũng đã được đề cập ở Luật Giáo dục 2005, tại khoản 2 điều 28:
"Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh" [3]
Đã có nhiều phương pháp dạy học tích cực được áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới như: Dạy học theo góc, dạy học dự án, dạy học theo chủ đề, dạy
Trang 2học tích hợp, dạy học theo "LAMAP" LAMAP (LAMAP là viết tắt của cụm từ tiếng Pháp: La main à la pâte) là một trong những phương pháp dạy học tích cực
So với phương pháp dạy học truyền thống, dạy học theo LAMAP học sinh học tập nhờ hành động, cuốn hút mình trong hành động, học sinh học tập tiến bộ dần bằng cách tự nghi vấn, bằng cách trình bày quan điểm của mình có khi là đối lập với quan điểm của bạn Qua đó các em được rèn luyện về khả năng tư duy, óc phê phán, biết cách bảo vệ quan điểm, biết lắng nghe người khác, biết thừa nhận trên cơ sở của
lí lẽ, biết làm việc cho mục đích chung trong một khuôn khổ nhất định
Chúng tôi nhận thấy kiến thức Quang học trong chương trình Vật lí 7 có nhiều ứng dụng thực tiễn, gắn với đời sống, gắn với các hiện tượng tự nhiên gần gũi với học sinh THCS Hơn nữa chưa có luận văn nào nghiên cứu tổ chức hoạt động dạy học nội dung kiến thức này mà vận dụng LAMAP
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Tổ chức dạy học theo “LAMAP” trong dạy học các kiến thức chương “Quang học”- Vật lý 7 THCS.
2 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng LAMAP để tổ chức tiến trình hoạt động nhận thức trong dạy học kiến thức chương “Quang học” - Vật lý 7 nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
3 Đối tượng nghiên cứu
+ Nội dung kiến thức chương “Quang học” - Vật lý 7
+ Hoạt động dạy và học nội dung kiến thức chương “Quang học” - Vật lý 7
4 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng LAMAP để tổ chức tiến trình hoạt động nhận thức trong dạy học chương “Quang học” - Vật lý 7 đáp ứng được các yêu cầu của khoa học luận trong dạy học Vật lí thì có thể phát huy tính tích cực, tự lực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
Trang 3+ Nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực: nghiên cứu cơ sở sinh lí thần kinh, các biểu hiện của tính tích cực, tự lực và sự phát triển năng lực sáng tạo
+ Nghiên cứu và làm rõ cơ sở lí luận của dạy học theo LAMAP
+ Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa hiện hành, sách giáo viên và các tài liệu tham khảo có liên quan đến nội dung kiến thức chương “Quang học” - Vật lý 7 và phân tích những khó khăn của học sinh khi học những nội dung kiến thức này
+ Tìm hiểu thực tế dạy và học kiến thức chương “Quang học” - Vật lý 7.+ Vận dụng LAMAP để tổ chức tiến trình hoạt động nhận thức kiến thức chương “Quang học” - Vật lý 7 trong chương trình Vật lí nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo nội dung và tiến trình dạy học đã soạn thảo Phân tích kết quả thực nghiệm để đánh giá tính khả thi của đề tài, đánh giá hiệu quả của việc vận dụng LAMAP trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực,
tự lực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập Từ đó, chúng tôi
sẽ nhận xét, rút kinh nghiệm, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện để có thể vận dụng linh hoạt mô hình này vào thực tiễn dạy học các nội dung kiến thức khác trong chương trình Vật lí trung học cơ sở
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
+ Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu về cơ sở sinh lí thần kinh của
các mô hình dạy học tích cực, biểu hiện của tính tích cực, tự lực và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập, các tài liệu liên quan đến LAMAP, sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu khác liên quan
+ Nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu tình hình dạy - học kiến thức chương “Quang
học” - Vật lý 7 (sử dụng phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp với giáo viên, học sinh)
+ Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm với tiến trình
dạy học đã soạn thảo theo kế hoạch Phân tích kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm, đối chiếu với mục đích nghiên cứu và rút ra kết luận của đề tài
+ Thống kê toán học.
Trang 48 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về dạy học theo LAMAP
Chương 2: Vận dụng LAMAP để thiết kế tiến trình hoạt động nhận thức trong dạy học kiến thức chương “Quang học” - Vật lý 7
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 5NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO “LAMAP”
1.1 Phương pháp dạy và học tích cực
1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy và học tích cực
Thuật ngữ “Phương pháp dạy và học tích cực” được dùng để chỉ những phương pháp giáo dục/dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Phương pháp dạy và học tích cực đề cập đến các hoạt động dạy và học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học Trong đó, các hoạt động học tập được tổ chức, được định hướng bởi giáo viên, người học không thụ động, chờ đợi mà tự lực, tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực sáng tạo [2]
1.1.2 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy và học tích cực
1.1.2.1 Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh và chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Trong dạy học, cần rèn cho người học phương pháp tự học Nếu người học
có được phương pháp, kĩ năng, thói quen và ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng say
mê học tập, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người học và kết quả học tập sẽ được tăng lên Dạy và học tích cực tập trung trọng tâm vào hoạt động học, tạo ra chuyển biến từ học tập thụ động sang học tập chủ động, phát huy khả năng tự học ngay từ những lớp nhỏ ở trường phổ thông, tự học không chỉ trong giờ lên lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên mà cả ở nhà, trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp không
có sự hướng dẫn của giáo viên
1.1.2.2 Tăng cường hoạt động học tập của mỗi cá nhân, phối hợp với học hợp tác
Để người học có điều kiện bộc lộ, phát triển khả năng của mình, cần đặt họ vào môi trường hợp tác trong mối quan hệ thầy – trò, trò – trò Trong mối quan hệ tương tác đó, người học không chỉ học được qua thầy mà còn học được qua bạn, sự chia sẻ kinh nghiệm sẽ kích thích tính tích cực, chủ động của mỗi cá nhân, đồng
Trang 6thời hình thành và phát triển ở người học năng lực tự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo, các kĩ năng hợp tác, giao tiếp, trình bày, giải quyết vấn đề và tạo môi trường học tập thân thiện Tuy nhiên để học hợp tác có hiệu quả, giáo viên cần hình thành cho người học thói quen học tập tự giác, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau Đồng thời nhiệm
vụ được giao phải rõ ràng, cụ thể, mỗi thành viên trong nhóm đều được phân công, xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của mình để tránh dựa dẫm ỷ lại hoặc có những biểu hiện không hợp tác “phá rối” làm cho hoạt động hợp tác mất thời gian, kém hiệu quả
Khái niệm học tập hợp tác ngoài việc nhấn mạnh vai trò quan trọng hoạt động của cá nhân trong quá trình học sinh làm việc cùng nhau, còn đề cao sự tương tác và ràng buộc lẫn nhau giữa các học sinh
Ví dụ: Khi dạy học bài “Sự truyền ánh sáng Bóng đen Bóng mờ”, giáo viên có thể
tổ chức hoạt động xuất phát từ tình huống:
Hãy vẽ bóng của một người khi đứng ngoài trời nắng Theo em vì sao lại xuất hiện bóng đó?
Ở tình huống này nhằm phát huy hoạt động của mỗi cá nhân trong học tập dưới sự quan sát theo dõi của giáo viên
Sau khi học sinh làm việc cá nhân, giáo viên lại tổ chức hoạt động nhóm như dưới đây:
Làm việc theo nhóm nhỏ:
Sau khi các cá nhân đã hoàn thành hình vẽ của mình, họ sẽ trình bày hình vẽ của mình trước nhóm Các bạn khác nhận xét và tranh luận về những điều hợp lí cũng như chưa hợp lí trong bài viết Nhận xét chung của nhóm sẽ được ghi tóm tắt lại.
Theo LAMAP, để hoàn thành được một bài học, chiếm lĩnh một tri thức mới thì học sinh phải tích cực làm việc cá nhân, sau đó phải có sự trao đổi thảo luận phải có sự phối hợp trong học tập Như vậy, để làm việc nhóm có hiệu quả thì học sinh phải có tinh thần tương tác hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau biết lắng nghe ý kiến của người khác và bảo vệ ý kiến của mình
Trang 71.1.2.3 Dạy và học chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của học sinh, nhu cầu và lợi ích của xã hội
Dạy và học chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của học sinh, nhu cầu, lợi ích của xã hội nhằm phát huy cao độ tính tích cực, tự lực, rèn luyện cho học sinh cách làm việc độc lập, phát triển tư duy sáng tạo, kĩ năng tổ chức công việc, trình bày kết quả
Nhấn mạnh đến sự quan tâm, hứng thú cũng như lợi ích của người học, giáo viên cần thiết kế các tình huống học tập sao cho kích thích lôi cuốn được sự tham gia tích cực, tự chủ của người học và đảm bảo nguyên tắc phân hóa trong dạy học
1.1.2.4 Dạy và học coi trọng hướng dẫn tìm tòi
Việc coi trọng hướng dẫn tìm tòi là giúp học sinh phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề và nhấn mạnh rằng học sinh có thể học phương pháp học thông qua hoạt động Dạy và học coi trọng hướng dẫn tìm tòi đòi hỏi về phía người học sự học tập tích cực để tìm lời giải đáp cho vấn đề đặt ra và về phía người dạy cần có hướng dẫn kịp thời giúp cho sự tìm tòi của người học đạt kết quả
Một nhiệm vụ tốt là nhiệm vụ đặt ra thách thức với người học Nhiệm vụ không nên quá dễ, vì quá dễ sẽ tạo ra sự nhàm chán và thậm chí là chán nản Tuy nhiên, nhiệm vụ quá khó lại gây nên sự lo lắng và tâm lí sợ thất bại đối với học sinh Để đạt được sự cân bằng các nhiệm vụ cần đa dạng và thiết kế cho từng đối tượng từng trình độ học sinh trong điều kiện cho phép Một nhiệm vụ thách thức sẽ tạo ra nhu cầu cần hỗ trợ đối với học sinh Giáo viên cần quan sát để có sự hỗ trợ kịp thời Sự hỗ trợ của giáo viên phải là sự can thiệp tích cực
1.1.2.5 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy và học tích cực, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên
Tự đánh giá là một hình thức đánh giá mà học sinh tự liên hệ phần nhiệm vụ
đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học tập Học sinh sẽ học cách đánh giá các nỗ lực và tiến bộ, nhìn lại quá trình và phát hiện những điểm cần thay đổi để
Trang 8hoàn thiện bản thân Tự đánh giá không chỉ đơn thuần là tự mình cho điểm số mà là
sự đánh giá những nỗ lực, quá trình và kết quả, mức độ cao hơn là học sinh có thể phản hồi lại quá trình học của mình
Tự đánh giá đúng và điều chỉnh cách học là năng lực cần thiết cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh Đây chính là sự khác biệt giữa dạy học thụ động và dạy học tích cực
Kết hợp đánh giá của thầy và đánh giá của trò không những giúp cho học sinh nhìn nhận chính mình để điều chỉnh cách học mà giáo viên cũng có điều kiện nhìn nhận chính mình để điều chỉnh cách dạy
Đánh giá trong dạy và học tích cực còn là sự kết hợp của việc đánh giá về việc học (đánh giá kết quả), đánh giá vì việc học (đánh giá quá trình) với tự đánh giá [2]
Ví dụ: khi đánh giá học sinh trong tiến trình hoạt động nhận thực kiến thức: “Nhận biết ánh sáng Nguồn sáng và vật sáng”, giáo viên có thể tổ chức các hoạt động
dạy học dựa vào tình huống sau:
Theo em khi nào em nhìn thấy các đồ vật, khi nào em không nhìn thấy các đồ vật? Các vật như sợi tóc của bóng đèn đang sáng, bếp ga khi đang cháy, chiếc gương để ngoài trời nắng, Mặt trăng,quyển vở, cái bàn học, cái bút của em thì vật nào là nguồn sáng? Hãy viết ra vở những điều em nghĩ.
Sau khi làm việc cá nhân xong, giáo viên yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm nhỏ, làm việc chung cả lớp như sau:
Làm việc theo nhóm nhỏ:
Sau khi các cá nhân đã hoàn thành bài viết của mình, họ sẽ trình bày bài viết của mình trước nhóm Các bạn khác nhận xét và tranh luận về những điều hợp lí cũng như chưa hợp lí trong bài viết Nhận xét chung của nhóm sẽ được ghi tóm tắt lại.
Làm việc chung cả lớp:
Các nhóm trình bày kết quả đã thảo luận của nhóm mình Giáo viên ghi lại những điều chưa hợp lí chung của cả lớp
Sau đó giáo viên đề nghị tiến hành thí nghiệm để kiểm tra:
Các nhóm thống nhất với nhau sau đó sẽ đề xuất phương án thí nghiệm:
Trang 9+ Tiến hành thí nghiệm với hộp giấy kín, các thành bên trong sơn đen, có một mảnh giấy trắng dán trên thành màu đen phía chân hộp, thành đối diện có hai
lỗ nhỏ: lỗ đối diện với mảnh giấy để gắn đèn pin, lỗ nhỏ phía trên để gắn một ống thẳng dùng để quan sát mảnh giấy trong hộp, như hình vẽ dưới đây:
Sau khi làm xong thí nghiệm, giáo viên tổ chức cho học sinh:
Lập luận, trao đổi xung quanh các kết quả đã thu được
Các nhóm so sánh kết quả thí nghiệm với đề xuất ban đầu của nhóm mình Một số quan niệm sai có thể mắc phải:
+ Ta nhìn thấy mảnh giấy khi bật đèn pin sáng
+ Mắt ta nhìn thấy một vật khi có ánh sáng từ vật truyền vào mắt ta.
Từ kết quả của lập luận trên để rút ra kiến thức mới:
+ Mắt ta nhận biết được ánh sáng khi có ánh sáng truyền vào mắt ta.
+ Ta nhìn thấy một vật khi có ánh sáng từ vật truyền vào mắt ta.
+ Những vật có khả năng tự phát sáng gọi là nguồn sáng Vật sáng gồm nguồn sáng và những vật hắt lại ánh sáng vào mắt ta.
Giáo viên cho điểm học sinh để đánh giá quá trình học có tích cực, tự giác hay không, hay vẫn ỷ lại vào các bạn trong nhóm, hay thờ ơ với việc học tập trong các hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm của học sinh
Sau khi rút ra kiến thức mới, giáo viên có thể cho bài kiểm tra nhỏ để đánh giá kết quả học tập của học sinh
Giáo viên yêu cầu sau mỗi tiết học, học sinh tự chấm điểm cho mình
Điểm cuối cùng là trung bình của ba điểm trên: điểm quá trình hệ số 3, điểm đánh giá kết quả học hệ số 2, điểm tự đánh giá hệ số 1
Trang 101.1.3 Các yếu tố thúc đẩy dạy và học tích cực
1.1.3.1 Không khí và các mối quan hệ trong nhóm/lớp
Nội dung/nhiệm vụ và các hoạt động phù hợp với mức độ phát triển của học sinh; Gần gũi với thực tế; Đa dạng về hình thức; Tạo điều kiện cho học sinh được tự
do sáng tạo; Môi trường học tập thân thiện, mang tính kích thích thể hiện qua việc
bố trí bàn ghế, trang trí trên tường, cách sắp xếp không gian lớp học, quan tâm tới
sự thoải mái về tinh thần, không căng thẳng, không nặng nề, không gây phiền nhiễu, có các hoạt động giải trí nhẹ nhàng, truyện vui, hài hước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; Hỗ trợ cá nhân một cách tích cực; Tạo cơ hội để học sinh giao tiếp, thể hiện quan điểm, giá trị, mơ ước, chia sẻ kinh nghiệm, và hợp tác trong các hoạt động học tập
1.1.3.2 Sự phù hợp với mức độ phát triển của học sinh
Nhiệm vụ, các hoạt động học tập cần có sự phân hóa, quan tâm đến sự khác biệt về nhịp độ học tập, trình độ phát triển giữa các đối tượng học sinh khác nhau;
Có sự thỏa thuận cam kết rõ ràng, tránh mơ hồ, đa nghĩa; Khuyến khích học sinh giúp đỡ lẫn nhau; Quan sát học sinh học tập để tìm ra phong cách và sở thích học tập của từng học sinh, có sự hỗ trợ phù hợp, yêu cầu học sinh động não và hỗ trợ cá nhân, tạo điều kiện để học sinh trao đổi về nhiệm vụ học tập
1.1.3.3 Sự gần gũi với thực tế
Nội dung/nhiệm vụ học tập gắn với các mối quan tâm của học sinh và với thế giới thực tại xung quanh tận dụng mọi cơ hội có thể để học sinh tiếp xúc với vật thực/tình huống thực, sử dụng các công cụ dạy học hấp dẫn (trình chiếu, vi deo, tranh ảnh, ) để “đưa” học sinh gần với đời sống thực tế, giao các nhiệm vụ vận dụng kiến thức/kĩ năng vào thực tế, khai thác các đề tài vượt ra ngoài giới hạn của môn học
1.1.3.4 Mức độ và sự đa dạng của hoạt động
Trong các hoạt động học tập, hạn chế tối đa thời gian chết và thời gian chờ đợi; Tạo ra các thời điểm hoạt động và trải nghiệm tích cực; Tích hợp các hoạt động học mà chơi (các trò chơi giáo dục), thay đổi xen kẽ các hoạt động và nhiệm vụ học
Trang 11tập; Tăng cường các trải nghiệm thành công; Tăng cường sự tham gia tích cực; Đảm bảo hỗ trợ đúng mức (học sinh hỗ trợ lẫn nhau và hỗ trợ từ giáo viên); Đảm bảo đủ thời gian thực hành.
1.1.3.5 Phạm vi tự do sáng tạo
Học sinh được tạo điều kiện lựa chọn hoạt động theo sở thích; Học sinh được tham gia xây dựng kế hoạch và đánh giá bài học (tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng); Trong khuân khổ một số nhiệm vụ nhất định, học sinh được khuyến khích tự
do xác định quá trình thực hiện và xác định sản phẩm; Học sinh được tạo điều kiện tham gia vào các hoạt động học tập Giáo viên động viên, khuyến khích các em tự mình giải quyết vấn đề [2]
1.1.4 Cơ sở sinh lí thần kinh của các phương pháp dạy học tích cực
Theo quan điểm cũ, các chức năng của bán cầu não trái luôn được coi là trội hơn, nó như một đặc điểm chung của con người, mang tính bẩm sinh di truyền Tuy nhiên kết quả nhiều nghiên cứu về sinh lí, thần kinh và tâm lí học đã đạt được vào những năm cuối của thế kỉ XX đã cho thấy rằng: sở dĩ có vấn đề này chủ yếu là do học tập chứ không phải do gen di truyền Nghĩa là người ta sinh ra có thể phát triển trội (hoặc cân bằng) các chức năng của hai bán cầu não trái hay phải nhưng giáo dục có ảnh hưởng tiếp theo đến sự phát triển của chúng
Những nghiên cứu bằng ảnh cộng hưởng từ chức năng cũng cho thấy, toàn
bộ não hoạt động một cách đồng bộ trong các hoạt động thần kinh của con người và quá trình tư duy là sự kết hợp phức tạp giữa ngôn ngữ, hình ảnh, khung cảnh, màu sắc, âm thanh và giai điệu Tức là quá trình tư duy đã sử dụng toàn bộ các phần khác nhau trên bộ não
Nghiên cứu về bộ não cho thấy, bộ não chia thành các khu vực hoạt động của bản thân thành não trái (chất xám não trái) và não phải (chất xám não phải) rất rõ ràng và đồng đều Hai bán cầu não nối liền nhau nhờ vào tập hợp các sợi dây thần kinh Mỗi bán cầu não có một vai trò hết sức khác nhau Chức năng chủ yếu của não phải và não trái phân công như sau [16]:
Trang 12Hình 1.1: Mô phỏng chức năng của bán cầu não trái và bán cầu não phải.
Việc vận dụng các mô hình dạy học tích cực sẽ không làm cho học sinh có não phải phát triển trội tìm thấy sự thích ứng mà còn làm sao để cho mọi học sinh được phát triển cân bằng chức năng của hai bán cầu não, bởi vì chức năng của cả hai bán cầu não đều cần thiết để con người giải quyết các vấn đề khác nhau Như
câu nói của bà Madeline Hunter: “Bạn sẽ ôm được nhiều quả bóng nếu dùng cả hai tay Cũng như vậy, bạn sẽ lĩnh hội được nhiều thông tin nếu như bạn huy động cả hai nửa của bộ não”.
Giáo dục có thể làm cho nhiều người không có sự phát triển thiên lệch các chức năng ở hai nửa bán cầu não trở thành người có sự phát triển trội một số chức năng ở một nửa não nào đó, ngược lại, giáo dục có thể làm mất đi tính trội bẩm sinh của các chức năng của các bán cầu não
1.1.5 Cơ chế phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh
Để tất cả học sinh, dù là thuận não trái hay phải, dù có phong cách học khác nhau đều có cơ hội tham gia tích cực vào hoạt động học, đều có cơ hội phát triển toàn diện thì quá trình học tập đều phải trải qua ba giai đoạn:
Trang 133 Xuất dữ liệu: Nói, viết, các hoạt động ngoài ngôn ngữ (các hoạt động này
làm tăng khả năng lưu giữ thông tin từ 20% lên 90%)
Dạy học theo mô hình truyền thống đặt quan tâm chủ yếu vào hai giai đoạn đầu ( Khi bạn yêu cầu học sinh giải thích hiện tượng, giải bài tập theo khuôn mẫu, nhiều khi khá xa rời với thực tiễn, thực ra bạn đang yêu cầu học sinh thực hiện giai đoạn hai mà thôi)
Giai đoạn 3 không những rất quan trọng với những học sinh có não phải phát triển vượt trội vì khi tham gia vào giai đoạn 3 học sinh có cơ hội phát huy phong cách đa dạng, tư duy ngẫu hứng, trí tưởng tượng phong phú, khả năng sáng tạo của mình, mà giai đoạn này còn rất cần thiết với học sinh phát triển trội não trái vì họ có
cơ hội học hỏi để phát huy các chức năng não phải vốn còn chưa mạnh của mình, giúp các chức năng của hai bán cầu não được phát triển cân bằng Nói cách khác, giai đoạn 3 là rất quan trọng khi ta quan tâm đến sự phát triển các chức năng tư duy của não phải cho tất cả các học sinh
Dạy học trải qua 3 giai đoạn là dạy học quan tâm đến sự phát triển đồng đều các chức năng của cả hai bán cầu não, nghĩa là quan tâm đến sự phát triển toàn diện nhân cách của tất cả học sinh: những học sinh có tư duy não trái trội hơn khi tham gia vào giai đoạn thứ ba sẽ học tập được phong cách tư duy não phải, ngược lại học sinh có não phải phát triển trội hơn khi tham gia vào các giai đoạn một và hai sẽ rèn luyện được tư duy logic Các phương pháp dạy học tích cực ngày nay luôn cố gắng tạo điều kiện cho học sinh trải qua cả ba giai đoạn học tập và đặc biệt chú ý đến giai đoạn ba
Trong các mô hình dạy học tích cực, quan niệm học sinh là trung tâm thể hiện
ở chỗ: Học sinh, người tham gia tích cực, tự giác vào hoạt động học tập phải là người được quyết định một phần (hay toàn bộ) chiến lược học tập của mình, đồng thời học sinh cũng phải chịu trách nhiệm một phần với kết quả học tập của mình (trách nhiệm với sự phát triển hiểu biết, phát triển nhân cách của chính mình) [16]
1.1.6 Tính tích cực, tự lực và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
1.1.6.1 Tính tích cực, tự lực trong học tập
a) Tính tích cực của học sinh trong học tập
*)Khái niệm về tính tích cực của học sinh trong học tập
Trang 14Thuật ngữ “tích cực học tập” đã nói lên ý nghĩa của nó: đó chính là những gì diễn ra bên trong người học Quá trình học tập tích cực nói đến những hoạt động chủ động của chủ thể - về thực chất là tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Tính tích cực học tập nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức, để nâng cao hiệu quả học tập
Tính tích cực học tập liên quan trước hết tới động cơ học tập động cơ đúng tạo
ra hứng thú Hứng thú là tiền đề tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực Tính tích cực học tập có liên quan chặt chẽ tới tư duy độc lập Suy nghĩ, tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, học tập độc lập, tích cực, sáng tạo sẽ phát triển tính tự giác, hứng thú và nuôi dưỡng động cơ học tập [2]
Một số đặc điểm cơ bản thể hiện tích cực học tập của học sinh:
− Có hứng thú học tập
− Tập trung chú ý tới bài học/nhiệm vụ học tập
− Mức độ tự giác tham gia vào xây dựng bài học, trao đổi, thảo luận, ghi chép
− Có sáng tạo trong quá trình học tập
− Thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập được giao
− Hiểu bài và có thể trình bày lại theo cách hiểu của mình
− Biết vận dụng những tri thức thu được vào giải quyết các vấn đề thực tiễn [2]
*) Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập
Tính tích cực học tập ở học sinh biểu hiện ở những dấu hiệu như:
+ Biểu hiện bên ngoài, qua thái độ, hành vi và hứng thú:
− Học sinh chú ý lắng nghe, quan sát, theo dõi thầy cô giáo
− Học sinh khao khát tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập
− Học sinh tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ
Trang 15− Học sinh sẵn sàng, hồ hởi đón nhận các nhiệm vụ, tự giác thực hiện các nhiệm vụ, cố gắng hoàn thành công việc bằng mọi cách, hoàn thành công việc sớm hơn kế hoạch, xin nhận thêm nhiệm vụ để thực hiện.
− Học sinh thường xuyên tranh luận, trao đổi với bạn bè về các vấn đề học tập, không nản chí khi gặp khó khăn
+ Biểu hiện bên trong: những biểu hiện này khó phát hiện hơn, có những
sáng tạo trong học tập hơn trước, tập trung chú ý vào vấn đề đang học
+ Biểu hiện qua kết quả học tập: học sinh chủ động vận dụng linh hoạt
những kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trước những tình huống khó khăn và đạt kết quả học tập tốt hơn
*) Các cấp độ của tính tích cực trong học tập
Khi nói về tính tích cực người ta thường đánh giá nó ở cấp độ cá nhân người học trong quá trình thực hiện mục đích hoạt động chung Tính tích cực được chia làm ba cấp độ:
− Tính tích cực bắt chước, tái hiện (xuất hiện do tác động bên ngoài): học
sinh bắt chước hành động của giáo viên, của bạn bè
− Tính tích cực tìm tòi (đi liền với quá trình hình thành khái niệm, giải quyết tình huống nhận thức): học sinh tìm cách độc lập giải quyết vấn đề đã nêu ra, tìm ra cách giải quyết hợp lí nhất
− Tích cực sáng tạo (thể hiện khi chủ thể tìm tòi kiến thức mới): học sinh nghĩ
ra cách thiết kế, chế tạo dụng cụ thí nghiệm và các phương án thí nghiệm mới.[7]
b) Tính tự lực của học sinh trong học tập
Tính tự lực là một trong những phẩm chất trung tâm của nhân cách “Nếu đặc trưng của tính tích cực là sự nỗ lực của bản thân, thì đặc trưng của tính tự lực lại
là ở mối quan hệ với người khác: không chịu dựa dẫm vào người khác, hết sức tiết kiệm sự nhờ cậy”.[18]
1.1.6.2 Năng lực sáng tạo trong học tập
a) Khái niệm năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu
Trang 16biết đã có vào hoàn cảnh mới Sản phẩm của sự sáng tạo không thể suy ra từ cái đã biết bằng cách suy luận logic hay bắt chước, làm theo.
b) Các biểu hiện của năng lực sáng tạo của học sinh
Trong học tập, năng lực sáng tạo của học sinh được biểu hiện qua các hành động cụ thể như:
− Học sinh đề xuất được các giả thuyết và vận dụng linh hoạt kiến thức vào thực tế để giải thích các hiện tượng Vật lí
− Học sinh đưa ra được các phương án thiết kế thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết Có những sáng kiến trong quá trình làm thí nghiệm để thí nghiệm dễ quan sát, dễ thực hiện, cho kết quả chính xác
− Học sinh biết đưa ra giả thuyết mới khi mà giả thuyết trước đó không đúng biết lựa chọn các phương án thí nghiệm để kiểm tra [7]
c) Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lý
− Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới: Việc xây dựng kiến thức mới sẽ thường xuyên tạo ra những tình huống đòi hỏi học sinh đưa ra ý kiến mới, giải pháp mới đối với chính bản thân họ
− Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết:
Dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạo khoa học Dự đoán dựa chủ yếu vào trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phong phú và kiến thức sâu sắc
về mỗi lĩnh vực Dự đoán khoa học không phải là tùy tiện mà luôn phải có một cơ
sở nào đó, tuy chưa thật chắc chắn trong dạy học vật lý có thể có những căn cứ để đưa ra dự đoán:
+ Dựa vào liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có
+ Dựa trên sự tương tự
+ Dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán chúng có mối quan hệ nhân quả
Trang 17+ Dựa trên nhận xét về hai hiện tượng luôn luôn biến đổi đồng thời, cùng tăng hoặc cùng giảm mà dự đoán về mối quan hệ nhân quả giữa chúng.+ Dựa trên sự thuận nghịch thường thấy của nhiều quá trình.
+ Dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng dụng của một kiến thức đã biết sang một lĩnh vực khác
+ Dựa trên sự dự đoán về mối quan hệ định lượng
− Luyện tập đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán:
Từ một dự đoán, giả thuyết, ta phải suy ra được một hệ quả có thể quan sát được trong thực tế, sau đó tiến hành thí nghiệm để kiểm tra xem hệ quả rút ra bằng suy luận đó có phù hợp với kết quả thí nghiệm không Quá trình rút ra hệ quả thường áp dụng suy luận lôgic hay suy luận toán học Sự suy luận này không đòi hỏi một sự sáng tạo thực sự, có thể kiểm soát được Vấn đề đòi hỏi sáng tạo ở đây là
đề xuất được phương án thí nghiệm kiểm tra hệ quả đã rút ra được
− Bài tập sáng tạo:
Trong dạy học vật lý, ngoài việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh trong quá trình xây dựng kiến thức mới, người ta con xây dựng những loại bài tập riêng với mục đích bồi dưỡng năng lực sáng tạo và được gọi là bài tập sáng tạo Khi giải những bài tập sáng tạo, ngoài việc phải vận dụng những kiến thức đã học, học sinh bắt buộc phải có những ý kiến độc lập mới mẻ, không thể suy ra một cách lôgic
từ những kiến thức đã học [12]
* Các phương pháp dạy học tích cực đều hướng tới việc bồi dưỡng tính tích cực và
tư duy sáng tạo của học sinh trong đó có phương pháp LAMAP
1.2 Dạy học theo LAMAP
1.2.1 "LAMAP" là gì?
1.2.1.1 Sơ lược về lịch sử của LAMAP (Bàn tay nặn bột)
"LAMAP" (là viết tắt của cụm từ tiếng Pháp: La main à la pâte), tiếng Anh là Hand’s on approach
LAMAP được khởi xướng từ những năm 1980 do sáng kiến của Lederman (Mỹ), Georges Charpak (Pháp), hai nhà bác học được giải thưởng Nôben Vật lý
Trang 18Từ 1996, các nhà khoa học Pháp đã đề xuất một chiến lược giáo dục lấy tên
là La main à la pâte (Bàn tay nặn bột)
Đến năm 2011 có hơn 23 nước tham gia LAMAP Châu Á: Trung Quốc, Thái lan, Malaixia, Singapo, Campuchia, Lào, …
Các hoạt động của LAMAP được đưa vào một trang Web về dạy học các môn khoa học
1.2.1.2 Khái niệm về LAMAP
LAMAP là phương pháp dạy học tích cực dựa trên cơ sở của sự tìm tòi nghiên cứu LAMAP là phương pháp hình thành kiến thức cho học sinh thông qua thí nghiệm, tìm tòi nghiên cứu dưới sự giúp đỡ của giáo viên Chính các em tìm ra câu trả lời cho vấn đề được đặt ra thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra
1.2.2 Cơ sở của việc tổ chức dạy học theo LAMAP
Cơ sở lí luận chính của dạy học theo LAMAP là sự kết hợp những mặt mạnh khi vận dụng: dạy học giải quyết vấn đề, dạy học định hướng hành động và quan trọng nhất là thuyết kiến tạo
Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải
quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề Học sinh được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là những tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn
đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh,
có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh.[1]
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt
động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau Trong quá trình học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động chân tay Đây là một quan điểm dạy học tích cực hóa và tiếp cận toàn thể Vận dụng dạy học định
Trang 19hướng hành động có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nguyên lý với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội [1]
Thuyết kiến tạo: Học tập là sự kiến tạo tri thức
Tư tưởng nền tảng cơ bản của thuyết kiến tạo là đặt vai trò của chủ thể nhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức Khi học tập, mỗi người
hình thành thế giới quan riêng của mình Tất cả những gì mà mỗi người trải nghiệm thì sẽ được sắp xếp chúng vào trong “bức tranh toàn cảnh về thế giới’’ của riêng người đó, tức là tự kiến tạo riêng cho mình một bức tranh thế giới
Hình 1.2: Mô hình học tập theo thuyết kiến tạo
Những quan niệm chính của thuyết kiến tạo:
− Không có kiến thức khách quan tuyệt đối Tri thức được xuất hiện thông qua việc chủ thể nhận thức tự cấu trúc kiến thức vào hệ thống kiến thức bên trong của mình, vì thế tri thức mang tính chủ quan
− Với việc nhấn mạnh vai trò chủ thể nhận thức trong việc giải thích và kiến tạo tri thức, thuyết kiến tạo thuộc lý thuyết định hướng chủ thể
− Cần tổ chức sự tương tác giữa người học và đối tượng học tập, để giúp người học xây dựng thông tin mới vào cấu trúc tư duy của chính mình, đã được chủ thể điều chỉnh
− Học không chỉ là sự khám phá mà còn là sự giải thích, cấu trúc mới tri thức
Những đặc điểm cơ bản của học tập theo thuyết kiến tạo:
− Tri thức được lĩnh hội trong học tập là một quá trình và sản phẩm kiến tạo theo từng cá nhân thông qua tương tác giữa người học và nội dung học tập
HỌC SINH
(Phức hợp)
Tương tác
Giáo viên
MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP
Trang 20− Về mặt nội dung, dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực và vấn đề phức hợp, gần với cuộc sống và nghề nghiệp, được khảo sát một cách tổng thể.
− Việc học tập chỉ có thể được thực hiện trong hoạt động tích cực của người học, vì chỉ từ kinh nghiệm và kiến thức mới của bản thân thì mới có thể thay đổi và
cá nhân hóa những kiến thức và khả năng đã có
− Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng, thông qua tương tác xã hội trong nhóm góp phần cho người học tự điều chỉnh sự học tập của bản thân mình
− Học qua sai lầm là điều rất có ý nghĩa (nhấn mạnh vai trò của quan niệm
ban đầu)
− Các lĩnh vực học tập cần định hướng vào hứng thú người học, vì có thể học
hỏi dễ nhất từ những kinh nghiệm mà người ta thấy hứng thú hoặc có tính thách thức.
− Thuyết kiến tạo không chỉ giới hạn ở những khía cạnh nhận thức của việc dạy và học Sự học tập hợp tác đòi hỏi và khuyến khích phát triển không chỉ có lý trí, mà cả về mặt tình cảm, thái độ, giao tiếp
− Mục đích học tập là xây dựng kiến thức cho bản thân, nên khi đánh giá các kết quả học tập không chỉ đánh giá sản phẩm học tập, mà cần quan tâm cả đến những tiến bộ trong quá trình học tập và trong những tình huống học tập phức tạp
Nói cách khác kết hợp giữa đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết [1]
1.2.3 Các đặc điểm của dạy học theo LAMAP
Dạy học theo LAMAP tuân thủ theo sáu nguyên tắc cơ bản sau:
− Quan sát sự vật hiện tượng của thế giới thực tại gần gũi với học sinh và dễ cảm nhận, học sinh thực hành thao tác trên các sự vật đó
− Học sinh lập luận bảo vệ ý kiến đưa ra thảo luận tập thể những suy nghĩ và những kết luận
− Tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập tự lực
− Học sinh phải có vở thực hành
− Thời lượng tối thiểu giành cho việc học tập các môn khoa học là 2 giờ/tuần
Trang 21− Việc chiếm lĩnh dần các khái niệm khoa học và kĩ thuật, đi kèm theo là sự phát triển ngôn ngữ viết và nói.
Từ các nguyên tắc cơ bản đó có thể nhận thấy những đặc điểm chủ yếu của LAMAP như sau:
− LAMAP rất chú trọng tới vai trò của biểu tượng (quan niệm) ban đầu của người học
− LAMAP luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình học tập, xây dựng một phong cách học độc lập, hợp tác, tích cực, tự chủ, sáng tạo thể hiện thông qua các vấn đề như: đề xuất các dự đoán, các ý tưởng thực nghiệm, lựa chọn các thiết bị đến việc tiến hành các thí nghiệm
− Dạy học theo LAMAP chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học
sinh bằng các tiến trình tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm câu trả lời cho các
vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra
− Dạy học theo LAMAP giúp nuôi dưỡng các ý tưởng khoa học của người học Khi thực hiện việc học tập làm cho học sinh có nhu cầu và khao khát muốn bộc
lộ ý tưởng, khao khát muốn kiểm tra tính đúng đắn của chúng bằng thực nghiệm Học sinh biết xem xét vấn đề cần giải quyết dưới nhiều góc độ khác nhau, qua đó rèn luyện được năng lực giải quyết vấn đề khoa học và làm quen với tiến trình nghiên cứu khoa học một vấn đề thực tiễn
− Dạy học theo LAMAP giúp học sinh rèn luyện ngôn ngữ, phát triển ngôn
ngữ khoa học cũng như các kĩ năng phản hồi, năng lực ứng xử xã hội
1.2.4 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học theo LAMAP
1.2.4.1 Vai trò của giáo viên
Khác với phương pháp dạy học truyền thống giáo viên như một chuyên gia đứng từ trên nhìn xuống học sinh, với LAMAP giáo viên là người “hướng tới” học sinh và đóng vai trò là người tổ chức, quản lý, định hướng, giúp đỡ, người đồng hành, trợ giúp hoạt động nhóm và động viên khuyến khích người học, tạo điều kiện
Trang 22cho học sinh tiến hành các hoạt động - các hoạt động này thường gắn kết với một hoạt động nghiên cứu thực thụ
1.2.4.2 Vai trò của học sinh
Với LAMAP học sinh là người chủ động bộc lộ bản thân, chia sẻ và chiếm lĩnh kiến thức thông qua các hoạt động học tập
Học sinh là trung tâm của quá trình dạy học, họ tự quyết định một phần hay toàn bộ chiến lược học tập, tự nghiên cứu, hoạt động theo cách thức làm việc độc lập sau đó tranh luận và trao đổi với nhau để tìm ra giải pháp, chiến lược giải quyết vấn đề Cụ thể như:
− Học sinh là người thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau rồi tổng hợp, phân tích rồi tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc
− Học sinh quyết định cách tiếp cận vấn đề và các hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề
− Học sinh đưa ra giả thuyết, tiến hành thực nghiệm để kiểm tra giả thuyết nếu giả thuyết sai thì bác bỏ và đưa ra giả thuyết mới, quá trình này có khi phải lặp lại nhiều lần
− Học sinh trao đổi và lập luận trong quá trình hoạt động, chúng chia sẻ với nhau những ý tưởng của mình, thảo luận để hình thành những kết luận ban đầu bằng ghi chép hoặc bằng phát biểu Qua cách thức đó học sinh sẽ biết lắng nghe người khác, hiểu người khác, tôn trọng người khác và biết bảo vệ ý kiến của mình
nhóm đều tương thích với các kết quả của khoa học? … luôn được học sinh đưa ra.
Trang 23Vở thực hành là một công cụ quan trọng của LAMAP Nó là nơi ghi dấu ấn của quá trình suy nghĩ của học sinh:
− Đó là những ghi chép thể hiện điều đang suy nghĩ
− Những giả thuyết đã được học sinh đưa ra và lại bị chính các em bác bỏ
− Những kiến thức mà các em vẫn tưởng là đúng và đã tồn tại lâu trong suy nghĩ của các em nhưng rồi qua trải nghiệm thì nó không đúng
− Những áp phích để ghi nhớ công việc đã thực hiện
Vở thực hành được học sinh lưu giữ trong suốt thời gian học và đến cuối cấp học sẽ hình thành một tập ghi nhớ đặc biệt Nhìn vào quyển vở thực hành sẽ thấy được sự tiến bộ của học sinh sự tiến bộ này không chỉ về mặt kiến thức, kĩ năng, mà còn là những ý thức tự giác, tự chủ và sự sáng tạo trong học tập
1.2.6 Vai trò của ngôn ngữ trong dạy học theo LAMAP
Làm chủ được ngôn ngữ không chỉ là sự mong đợi của xã hội, của cha mẹ
mà cũng là điều ưu tiên của nền giáo dục quốc gia, đó cũng là một trong những mục
tiêu mà LAMAP nhắm đến Vì ngôn ngữ nói là kĩ năng cần thiết đối với các công
dân của thế kỉ 21
Trong một bối cảnh các hoạt động nghiên cứu đa dạng, do xuất phát từ các quan sát các hiện tượng tự nhiên và các tác động lên các đối tượng nghiên cứu của người học, hoạt động khoa học sẽ giúp trẻ vượt qua được những rào cản của ngôn ngữ và trao đổi thông qua các cách diễn đạt khác nhau:
Trang 24Sự tranh luận khoa học cũng có thể tạo thành kiểu tranh luận trong xã hội cả khi bản chất các kiểu tranh luận đó là khác nhau (sự đồng thuận khoa học không thể dựa trên bỏ phiếu – như trong các cuộc họp tập thể) Khi sự phát biểu mang tính khoa học, các em phải tìm kiếm từ ngữ giúp cho việc trình bày tốt nhất những quan
điểm, những suy nghĩ của mình để cho người khác hiểu.
Khi làm việc nhóm, sự tranh luận khiến các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn, và hình thành nên một thói quen biết làm việc vì mục đích chung
*) Ngôn ngữ viết
Việc chuyển từ một cách thức diễn đạt này sang một cách thức diễn đạt khác
là một pha quan trọng LAMAP khuyến nghị giành một thời gian thích đáng để ghi chép cá nhân, thảo luận và xây dựng tập thể những điều quan sát được, lời giải thích, những đề xuất cũng như những các kiến thức đã được trao đổi
Khi chuyển từ ngôn ngữ nói sang ngôn ngữ viết đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ xem nên viết như thế nào? Viết bằng cách nào để làm tài liệu ghi nhớ cho bản thân, làm tài liệu tham khảo cho các bạn trong nhóm, trong lớp Mặt khác, khi viết
nó cho phép giữ lại dấu vết của các thông tin đã thu nhận được, tổng hợp và hình thức hóa để làm nảy sinh ý tưởng mới Nó cũng làm cho thông báo được dễ dàng dưới dạng đồ thị vì thông tin đôi khi khó phát biểu và cho phép ghi lại các kết quả tranh luận
Mặt khác việc ghi chép không chỉ bằng ngôn ngữ mà còn bằng biểu đồ, hình
vẽ kí hiệu Qua đó ngôn ngữ viết dần được hoàn thiện hơn
* Vậy dạy học theo LAMAP giúp cho học sinh có thể làm chủ được ngôn ngữ của mình.
1.2.7 Tiến trình dạy học theo LAMAP
Dựa trên các nguyên tắc của LAMAP nhấn mạnh đến tính độc lập, tự chủ trong học tập của học sinh và cách thức làm việc tập thể của họ, dựa trên đặc điểm của các môn khoa học, chúng tôi đề xuất một tiến trình dạy học gồm 5 pha được sơ
đồ hóa như dưới đây [17]:
Trang 25Sơ đồ 1.2:Tiến trình dạy học theo LAMAP Pha 1 Xây dựng tình huống vấn đề
Trong giai đoạn này, các tình huống vấn đề được lựa chọn bởi giáo viên Tình huống vấn đề được xây dựng bằng cách khai thác những quan niệm có trước hoặc các ý tưởng của người học Nói cách khác, những tình huống này phải thách thức các kiến thức đã có của người học, kích thích hoạt động học sao cho học sinh tiếp nhận vấn đề cần giải quyết và bắt tay vào giải quyết
Pha 2: Đề xuất các giả thuyết
“Đặc điểm chủ yếu của khoa học là tính khách quan; cái cốt lõi của nó là sự
suy luận, thường được xây dựng từ trực giác hay giả thuyết: sự chứng minh nó cần dựa trên kiểm tra bằng thí nghiệm” Ở giai đoạn này, trước hết học sinh làm việc cá nhân, làm việc nhóm, sau đó làm việc chung cả lớp để trao đổi, tranh luận về những
Trang 26giả thuyết của mình và của bạn cùng nhau nhằm tìm kiếm câu trả lời cho vấn đề cần giải quyết.
Như vậy, trong pha này, khuyến khích học sinh suy nghĩ, phát vấn, giáo viên cần chú ý tới những kinh nghiệm sẵn có của học sinh, trong đó có thể tiềm ẩn những mâu thuẫn với giả thuyết và khuyến khích học sinh thể hiện Việc trao đổi, tranh luận đi đến những thách thức các dự đoán, giả thuyết của học sinh
Ở pha này học sinh có thể tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, đây cũng là điểm khác biệt của các phương pháp dạy học tích cực so với phương pháp truyền thống
Pha 3: Thực hiện các nghiên cứu để giải quyết vấn đề
Học sinh đề xuất các phương án thí nghiệm, tiến hành các thực nghiệm để kiểm chứng tính đúng đắn của các giả thuyết Từ việc phân tích các dữ liệu thực nghiệm, học sinh kiểm chứng được những giả thuyết của mình là đúng hay sai và tìm cách lí giải
Như vậy, không chỉ quan sát và thao tác, điều quan trọng là suy nghĩ về những kết quả có được từ quan sát và đối chiếu giữa cái có được từ suy luận và cái
có được từ thực nghiệm
Nếu ở pha này kết quả không đúng với giả thuyết ban đầu mà học sinh đã đưa ra thì học sinh lại đưa ra giả thuyết mới và lại thực hiện nghiên cứu để giải quyết vấn đề Pha 2 và pha 3 liên tục luân chuyển nhau
Pha 4: Lập luận, trao đổi xung quanh các kết quả nghiên cứu đã thu được
Theo LAMAP, “Chuẩn bị cho trẻ vào cuộc sống dân chủ, tức là cho trẻ cái ham thích tham gia tranh luận, dạy cho các em cách phát biểu ý kiến của mình, đối chiếu với quan điểm của người khác” Trong pha này, học sinh làm việc chung cả lớp, trao đổi ý kiến đi đến kết quả chung dưới sự hướng dẫn của giáo viên Chính quá trình này giúp cho học sinh tiếp thu được kiến thức một cách tự nhiên Qua quá trình trao đổi còn giúp cho học sinh rèn luyện ngôn ngữ nói, các kĩ năng giao tiếp, khả năng ứng xử
Pha 5: Tổng hợp kết quả
Trang 27Học sinh tiếp nhận kiến thức mới và nhập nó vào hệ thống kiến thức đã có Việc vận hành kiến thức thu được giúp cho người học làm chủ kiến thức và kĩ năng mới, nhưng qua đó lại có thể nảy sinh vấn đề mới, bắt đầu cho tiến trình nghiên cứu mới.
Tóm lại dạy học theo LAMAP người học luôn được đặt vào những tình huống rất thật trong đời sống khiến cho họ luôn khao khát tìm hiểu và giải quyết
Và như vậy sự tiếp nhận kiến thức cũng diễn ra hết sức tự nhiên Bên cạnh mục tiêu
về kiến thức thì mục tiêu về rèn luyện kĩ năng khác cũng đồng thời được tiếp nhận
Các pha này về hình thức giống với tiến trình giải quyết vấn đề Tuy nhiên, điểm khác biệt là: tình huống vấn đề là “Tình huống được xây dựng bằng cách khai thác những quan niệm có trước hoặc các ý tưởng của người học”, để xuất phát từ quan niệm ban đầu có thể đúng hoặc sai khi giải quyết tình huống ban đầu để chiếm lĩnh tri thức mới
1.2.8 Khả năng vận dụng LAMAP ở trường phổ thông
* Dạy học theo LAMAP ở trường phổ thông sẽ đạt hiệu quả khi đảm bảo các điều kiện sau đây:
− Lựa chọn nội dung bài học phù hợp với LAMAP Các môn khoa học thực
nghiệm: như môn Sinh, môn Hóa, môn Lí đều có thể tổ chức học theo phương pháp này
− Hình thức tổ chức dạy học phù hợp: Có thể vận dụng LAMAP để dạy
chính khóa hoặc tổ chức hoạt động ngoại khóa Khi dạy chính khóa để vẫn đảm bảo dạy và học theo phân phối chương trình, giáo viên căn cứ vào nội dung kiến thức cần xây dựng, từ đó có thể thiết kế tiến trình dạy học theo LAMAP cho nội dung cả bài hoặc có thể chỉ một đơn vị kiến thức trọng tâm nào đó của bài Với hoạt động ngoại khóa thì không bị hạn chế về thời gian
− Điều kiện dạy học:
+ Giáo viên: Giáo viên nhiệt tình, tích cực, có năng lực về chuyên môn, năng
lực tổ chức dạy học tích cực và khả năng tổ chức dạy học theo LAMAP
+ Học sinh: Say mê học tập, chịu khó, sáng tạo có khả năng làm việc độc lập
và không nản chí khi gặp thất bại
1.2.9 Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng LAMAP
Trang 28* Thuận lợi.
− Việc học tập có thể diễn ra cả ở trong và ngoài không gian lớp học
− Không hạn chế về mặt thời gian
− Gia đình và địa phương cũng có thể giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình
− Đồ dùng thí nghiệm để thực hiện việc dạy- học đơn giản, có thể tự chế tạo được
* Khó khăn:
− Dịch thuật ngữ “Bàn tay nặn bột” từ đầu đã làm cho nhiều người tầm thường hóa phương pháp này Nên họ đã đánh đồng với các phương pháp dạy học khác và cho rằng chẳng có gì mới so với các phương pháp dạy học do vậy sự ủng
Trang 29Kết luận chương 1
Trong chương 1 đề tài đã trình bày cơ sở lí luận hiện đại về các quan điểm về dạy học và các phương pháp dạy học tích cực trong đó đặc biệt chú ý tới dạy học theo LAMAP và các vấn đề có liên quan như: thế nào là tính tích cực, sáng tạo của học sinh dạy học theo phương pháp dạy học tích cực như thế nào thì đạt hiệu quả, Với dạy học theo LAMAP luận văn đã làm rõ những vấn đề liên quan như: tiến trình dạy học theo LAMAP, dạy học theo LAMAP khi nào thì đạt hiệu quả,
Có thể nói không có một phương pháp dạy học nào là vạn năng, không có một phương pháp nào là tối ưu Để đạt hiệu quả dạy học giáo viên phải biết sử dụng phối hợp nhiều phương pháp dạy học Giáo viên cần căn cứ vào điều kiện cụ thể, đặc điểm học sinh, nội dung kiến thức để lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp sao cho có thể phát triển được hoạt động nhận thức tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Nghiên cứu dạy học theo LAMAP, thấy rằng, đối với môn Vật lí nói riêng thì phương pháp dạy học này có thể đem áp dụng thành công để có thể đáp ứng được với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đem lại sự thoải mái cho học sinh trong học tập cũng như kết quả học tập được nâng cao hơn Có nhiều kiến thức vật
lí rất phù hợp với dạy học theo LAMAP và có thể kết hợp với các phương pháp dạy học khác, học sinh được tham gia vào các hoạt động phong phú, hấp dẫn, luôn đổi mới và có tính kế thừa, xâu chuỗi với nhau Bởi vậy, chúng tôi nhận thấy việc áp dụng dạy học theo LAMAP vào dạy học môn Vật lí ở trường THCS hiện nay là phù hợp và khả thi
Tất cả những điều trên sẽ được đề tài vận dụng vào thiết kế việc tổ chức dạy học các nội dung kiến thức chương “Quang học” – Vật lí 7
Trang 30Chương 2: VẬN DỤNG LAMAP ĐỂ THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC KIẾN THỨC CHƯƠNG "QUANG HỌC”
– VẬT LÝ 7 2.1 Nội dung kiến thức chương “Quang học” - Vật lý 7
2.1.1 Đặc điểm của chương “Quang học”
Chương “Quang học” – Vật lý 7 là chương mở đầu cho phần quang học của vật lý phổ thông Cũng là chương đầu tiên học sinh bắt đầu làm quen dần với các hiện tượng quang học có tính hệ thống nhưng chỉ mang tính chất mở đầu sơ khai, các hiện tượng quang học đó hoàn toàn quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày
Trong chương “Quang học”, học sinh bắt đầu làm quen với các khái niệm cơ bản như: nguồn sáng, vật sáng, tia sáng, đường truyền ánh sáng Cũng là lần đầu tiên học sinh vận dụng các kiến thức quang học để giải thích các hiện tượng thực tế của cuộc sống như: bóng tối, bóng nửa tối, nhật thực, nguyệt thực Trong chương này cũng có yêu cầu nâng cao hơn một chút đó là học sinh phải biết vận dụng đường truyền của tia sáng để giải quyết các tình huống trong thực tế như: ngắm cọc tiêu, xác định chiều cao của một vật nào đó mà không thể dùng cách đo trực tiếp, Trong chương này học sinh bắt đầu làm quen với khái niệm “ảnh ảo” khác hẳn với ngôn ngữ đời thường, “ảnh ảo” là một loại ảnh tồn tại trong thực tế, xác định được vị trí, độ lớn, nhìn thấy được nhưng không hứng được trên màn, “ảnh ảo”
là loại ảnh mà các em không thể cầm nắm được Chương “Quang học” – Vật lý 7 là chương đầu tiên giúp các em phân biệt được các loại gương, đặc điểm tạo ảnh của chúng và các ứng dụng kĩ thuật vô cùng to lớn của chúng trong đời sống hàng ngày: gương phẳng dùng trong trang điểm làm gương chiếu hậu của xe máy , gương cầu lồi dùng làm gương chiếu hậu và nhìn những vật bị che khuất ở những đoạn đường
bị gấp khúc, gương cầu lõm có thể dùng để thu năng lượng mặt trời,
Trong chương này, học sinh lần đầu tiên được làm quen với các “Định luật vật lý”: Định luật truyền thẳng ánh sáng, định luật phản xạ ánh sáng Trong đó,
“Định luật phản xạ ánh sáng” thì học sinh không chỉ làm quen với dấu hiệu định tính như quan hệ giữa phương của tia tới với phương của tia phản xạ, mà còn có cả
Trang 31dấu hiệu định lượng đó là quan hệ giữa góc tới và góc phản xạ Như vậy, các đại lượng vật lý không còn tuân theo ý muốn chủ quan của con người mà tuân theo những quy luật của khoa học.
Trong chương này, đã bắt đầu rèn cho học sinh có tư duy của nhà khoa học: trước một kiến thức, hiện tượng vật lý mới cần đưa ra dự đoán, đề xuất các phương
án thí nghiệm để kiểm tra xem dự đoán đó là đúng hay sai để rút ra kiến thức vật lý mới Trong chương “Quang học” cũng bắt đầu rèn cho học sinh kỹ năng làm thí nghiệm mặc dù đó là những thí nghiệm hết sức đơn giản, các kiến thức trong chương cũng rèn cho học sinh khả năng lập luận, tư duy lôgic
Tuy nhiên, đối với học sinh lớp 7, trình độ tư duy còn thấp, vốn kiến thức, vốn kinh nghiệm cũng như vốn ngôn ngữ của các em còn hạn chế, nên không đưa ra các khái niệm trừu tượng, xa lạ, quá hàn lâm cũng như các phương tiện học tập cũng gần gũi và quen thuộc với các em
2.1.2 Các kiến thức, kĩ năng và thái độ cần đạt
−Nêu được ví dụ về nguồn sáng và vật sáng
−Phân biệt được nguồn sáng, vật sáng trong thực tế.
−Phát biểu được định luật truyền thẳng ánh sáng
−Nhận biết được ba loại chùm sáng:
song song, hội tụ và phân kì
Hiểu nguồn sáng là các vật tự phát ra ánh sáng, vật sáng là mọi vật có ánh sáng từ đó truyền đến mắt ta Các vật được
đề cập trong phần Quang học ở cấp Trung học cơ
sở đều được hiểu là vật sáng
Không yêu cầu giải thích các khái niệm môi trường trong suốt, đồng
Trang 32Kĩ năng
−Tiến hành và quan sát được các thí nghiệm để rút ra điều kiện nhận biết ánh sáng và vật sáng.
−Biểu diễn được đường truyền của ánh sáng (tia sáng) bằng đoạn thẳng có mũi tên
−Tiến hành và quan sát được các thí nghiệm về đường truyền của các tia sáng, bóng tối và bóng nửa tối.
−Giải thích được một số ứng dụng của định luật truyền thẳng ánh sáng trong thực tế: ngắm đường thẳng, bóng tối, nhật thực, nguyệt thực
Thái độ
− Có thái độ nghiêm túc khi làm các thí nghiệm, hợp tác khi làm việc nhóm, tự lực khi làm việc cá nhân.
− Có hứng thú học Vật lí nói chung và các kiến thức phần Quang học nói riêng.
− Có thái độ khách quan, trung thực, tỉ mỉ có tinh thần hợp tác trong học tập, cẩn trọng hơn với lời nói và việc làm của mình.
tính, đẳng hướng
Chỉ xét các tia sáng thẳng
Trang 33−Nêu được đặc điểm chung về của một vật tạo bởi gương phẳng: đó là ảnh ảo, kích thước bằng vật, khoảng cách từ gương đến vật và ảnh bằng nhau.
xạ ánh sáng hoặc vận dụng đặc điểm của ảnh tạo bởi gương phẳng
−Dựng được ảnh của một vật trước gương phẳng
Thái độ
− Có thái độ nghiêm túc khi làm các thí nghiệm, hợp tác khi làm việc nhóm, tự lực khi làm việc cá nhân.
Trang 34− Có hứng thú học Vật lí nói chung và các kiến thức phần Quang học nói riêng.
− Có thái độ khách quan, trung thực, tỉ mỉ có tinh thần hợp tác trong học tập, cẩn trọng hơn với lời nói và việc làm của mình.
3.Gương cầu
Gương cầu lồi
Gương cầu lõm
Kiến thức
−Nhận biết được các loại gương:
gương phẳng, gương cầu lõm, gương cầu lồi từ đó có thể lấy ví dụ về các dụng cụ tương tự như ba loại gương trên trong thực tế.
− Nêu được những đặc điểm của ảnh
ảo của một vật tạo bởi gương cầu lõm
và tạo bởi gương cầu lồi
−Nêu được ứng dụng chính của gương cầu lồi và tạo ra vung nhìn thấy rộng
và ứng dụng chính của gương cầu lõm
là có thể biến đổi một chùm tia tới song song thành chùm tia phản xạ tập trung vào một điểm, hoặc có thể biến đổi một chùm tia tới phân kì thích hợp thành một chùm tia phản xạ song song
Kĩ năng
−Biết cách bố trí thí nghiệm để quan sát được ảnh ảo của vật tạo bởi ba loại gương.
Thái độ
Không xét đến ảnh thật tạo bởi gương cầu lõm
Trang 35− Có thái độ nghiêm túc khi làm các thí nghiệm, hợp tác khi làm việc nhóm, tự lực khi làm việc cá nhân.
− Có hứng thú học Vật lí nói chung và các kiến thức phần Quang học nói riêng.
− Có thái độ khách quan, trung thực, tỉ mỉ có tinh thần hợp tác trong học tập, cẩn trọng hơn với lời nói và việc làm của mình.
Các kiến thức, kĩ năng và thái độ cần đạt trước hết phải đạt được chuẩn
kiến thức và kĩ năng mà Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành (phần không in nghiêng), ngoài ra phải đạt được các mức độ cao hơn mà luận văn muốn hướng tới (phần in nghiêng) Nhìn chung, mức độ cần đạt của học sinh khi học chương “Quang học” lớp 7 theo chuẩn kiến thức và kĩ năng mà Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành chủ yếu
ở mức nhận biết, thông hiểu và vận dụng chiếm tỉ trọng rất ít, chỉ chú trọng rèn kĩ năng giải bài tập mà chưa chú trọng tới kĩ năng thực nghiệm của học sinh để từ đó rèn về thái độ học tập như chúng tôi nêu ở bảng trên
Trang 362.1.3 Sơ đồ cấu trúc nội dung và phân phối chương trình chương “Quang học”
Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “Quang học”
Định luật truyền thẳng ánh sáng Định luật phản xạ ánh sáng
Các loại gương
Đặc điểm của ảnh tạo bởi các loại gương
Vùng nhìn thấy
Ứng dụng trong đời sống và kỹ thuật
Ứng dụng định luật truyền thẳng ánh sáng
Bóng tối – Bóng nửa tối
Nhật thực – Nguyệt thực
Điều kiện nhìn thấy một vật
Trang 37Phân phối chương trình do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành
Chương 1: Quang học
1 Tiết 1 Bài 1: Nhận biết ánh sáng – Nguồn sáng và vật sáng
2 Tiết 2 Bài 2: Sự truyền ánh sáng
3 Tiết 3 Bài 3: Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng
4 Tiết 4 Bài 4: Định luật phản xạ ánh sáng
5 Tiết 5 Bài 5: Ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng
6 Tiết 6 Bài 6: Thực hành và kiểm tra thực hành: Quan sát và vẽ ảnh
của một vật tạo bởi gương phẳng
7 Tiết 7 Bài 7: Gương cầu lồi
8 Tiết 8 Bài 8: Gương cầu lõm
9 Tiết 9 Bài 9: Tổng kết chương 1: Quang học
2.2 Thực tiễn dạy học chương “Quang học” - Vật lý 7
2.2.1 Phương pháp điều tra
Để đạt được mục đích nêu trên, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp điều tra sau đây:
− Điều tra giáo viên: trao đổi trực tiếp với giáo viên, dùng phiếu điều tra, tham khảo kế hoạch bài học của các giáo viên [Phụ lục 1]
− Điều tra học sinh: trao đổi trực tiếp với học sinh, dùng phiếu điều tra [Phụ lục 2]
− Dự giờ một số tiết dạy
− Tham quan phòng thực hành và kho đựng dụng cụ thí nghiệm Vật lí
2.2.2 Kết quả thu được
Tháng 2 năm 2012 chúng tôi tiến hành điều tra ở trường THCS Tân Dân – Xã Tân Dân – Huyện Sóc Sơn – Thành phố Hà Nội, và trường THCS Thanh Xuân –
Xã Thanh Xuân – Huyện Sóc Sơn – Thành phố Hà Nội
Số phiếu điều tra giáo viên của mỗi trường: số phiếu phát ra: 5, số phiếu thu vào: 5
Quá trình tìm hiểu thực tế việc dạy và học chương “Quang học” ở trường trường THCS Tân Dân – Xã Tân Dân – Huyện Sóc Sơn – Thành phố Hà Nội, và
Trang 38trường THCS Thanh Xuân – Xã Thanh Xuân – Huyện Sóc Sơn – Thành phố Hà Nội Với mỗi trường:
− Phỏng vấn Hiệu trưởng nhà trường, 5 giáo viên Vật lí và 10 học sinh
− Tham khảo kế hoạch bài dạy Vật lí phần quang học lớp 7 của 1 giáo viên
− Tham quan phòng thực hành và phòng đồ dùng dạy học, làm một số thí nghiệm với các thiết bị đó
Sau khi điều tra, chúng tôi rút ra một số kết luận sau đây:
2.2.2.1 Tình hình giáo viên
* Về trình độ đào tạo:
− 100% giáo viên Vật lí của trường đều được đào tạo chính quy tập trung tại các trường Cao đẳng Sư phạm và Đại học Sư phạm trong nước như Cao đẳng Sư phạm Hà nội, Đại học Sư phạm Hà nội 2 … dạy đúng chuyên môn, nhiệt tình và tâm huyết với công việc Tuy nhiên, một số trường do thừa giáo viên Toán nên vẫn
có giáo viên dạy Toán và dạy cả vật lý không đúng với chuyên môn
− Về việc lập kế hoạch bài dạy:
+ 60% giáo viên đã thực hiện việc kế hoạch giảng dạy theo hướng đổi mới nhưng theo quan điểm cứ áp dụng công nghệ thông tin vào bài dạy và tổ chức nhóm thì mới có tính chất đối mới, đảm bảo thực hiện đúng theo kế hoạch, đúng theo chuẩn kiến thức và giảm tải đã chú ý tổ chức các hình thức hoạt động xen kẽ nhau của học sinh như: cá nhân, theo cặp và nhóm Tuy nhiên chưa thực sự rõ nét trong kế hoạch bài dạy
+ 40% giáo viên tổ chức dạy học theo phương pháp dạy học truyền thống : giáo viên thuyết trình, vấn đáp học sinh để tìm ra kiến thức mới Vai trò của giáo viên là chủ đạo
* Về các quan điểm đổi mới phương pháp dạy học, các phương pháp dạy học tích cực, các kĩ thuật dạy học:
− 100% các giáo viên Vật lý hầu như chưa biết đến các phương pháp dạy học tích cực, qua các đợt tập huấn, bồi dưỡng vào các dịp hè hàng năm thì chủ yếu
là bồi dưỡng về công nghệ thông tin và tháng 10 năm 2011 giáo viên có được tập
Trang 39huấn về một kĩ thuật dạy học tích cực đó là “Bản đồ tư duy”, nhưng không phải trường nào giáo viên Vật lý cũng được đi, có trường lại cử nhân viên có trình độ về công nghệ thông tin đi, khi về đến trường, giáo viên nào có nhu cầu thì đến xin copy phần mềm về và tự mày mò 100% giáo viên nói rằng giáo viên Vật lý rất ít khi được đi dự tập huấn Thỉnh thoảng, mới có buổi trao đổi về phương pháp dạy học giữa giáo viên các trường trong Huyện Cho nên giáo viên rất ngỡ ngàng khi
nói đến các phương pháp dạy học tích cực Các phương pháp dạy học tích cực rất
lạ lẫm, đặc biệt là dạy học theo LAMAP Dạy học theo phương pháp mới rất vất vả, dạy theo phương pháp cũ sẽ nhàn hơn mà học sinh vẫn hiểu bài Mục tiêu cuối cùng của họ là phải truyền đạt hết các kiến thức mà trong sách giáo khoa đã trình bày.
− Theo nhận định của các giáo viên: Tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình học tập còn hạn chế Đa phần các em vẫn còn thói quen ỷ lại vào giáo viên Các hoạt động chủ yếu trong giờ học của học sinh là nghe, nhìn, ghi chép những thông tin do giáo viên truyền đạt hay ghi trên bảng; thường đọc các kết luận,
định nghĩa, định luật trong sách giáo khoa, vận dụng các bài tập đơn giản.
* Về việc tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp:
− Trong quá trình dạy học 60% giáo viên vẫn chủ yếu diễn đạt bằng lời: Mô
tả, giải thích hiện tượng, giảng giải, nhấn mạnh cho học sinh những kiến thức cơ bản hay nội dung quan trọng
− Việc tổ chức hoạt động dạy học theo phương pháp đổi mới đã được giáo viên chú ý tới nhưng còn mang tính hình thức chưa triệt để và hiệu quả chưa cao như:
+ 60% giáo viên khi áp dụng phương pháp dạy học theo nhóm chưa có
kĩ năng tổ chức hoạt động nhóm, giao nhiệm vụ cũng như định hướng hoạt động cho các nhóm chưa thực sự rõ ràng, chưa quan tâm đến tất cả học sinh trong nhóm, chưa động viên khích lệ học sinh, chưa tạo điều kiện cho những học sinh thụ động tham gia hoạt động Việc khai thác vốn hiểu biết của học sinh chưa triệt để và hiệu quả
Trang 40+ Qua điều tra cho thấy 80% các bài học thường được giáo viên tiến hành chỉ với một bộ thí nghiệm dành cho giáo viên, vì họ cho rằng để học sinh làm thí nghiệm sẽ mất rất nghiều thời gian kể cả khâu ổn định tổ chức sau khi học sinh làm xong thí nghiệm, như vậy sẽ không có thời gian củng cố bài học.
− Việc kiểm tra, đánh giá vẫn hoàn toàn được thực hiện từ phía giáo viên thông qua các hình thức kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kì theo quy định của kế hoạch dạy học để lấy đủ số điểm quy định, do đó chưa phát huy được vai trò của kiểm tra đánh giá đối với việc dạy học Tuy nhiên có 20% giáo viên cho học sinh tự chấm chéo, chiếm khoảng 2/70 tiết học trong năm
*) Riêng chương “Quang học”:
− Các giáo viên vật lý của hai trường nói rằng: Nội dung kiến thức chương Quang học – vật lý 7 nội dung trình bày trong sách giáo khoa như vậy là hợp lý
− Các bài học trong chương Quang học các giáo viên có làm thí nghiệm nhưng chỉ là một bộ để giáo viên biểu diễn
− Phần kiến thức mà giáo viên cảm thấy khó dạy nhất là:
+ “Điều kiện nhìn thấy một vật”: vì ở phần này bộ thì nghiệm hộp đen
đã hỏng từ nhiều năm nay chưa được thay thế, trong khi đó giáo viên lại ngại tự chuẩn bị đồ dùng
+ “Định luật phản xạ ánh sáng”: vì học sinh lớp 7 chưa học khái niệm
về mặt phẳng nên hầu hết các giáo viên cho rằng rất khó nói “tia phản xạ nằm trong cùng mặt phẳng với tia tới và pháp tuyến của gương ở điểm tới”, nên kiến thức này giáo viên thông báo là chính
+ Về hình thức dạy học, vẫn dạy theo phương pháp truyền thống trong khi học nội dung kiến thức chương Quang học lớp 7, đã có sử dụng các thí nghiệm: hộp đen, đèn pin, ống cong, ống thẳng, các tấm bìa, các loại gương nhưng chủ yếu
là thí nghiệm biểu diễn để tận dụng thời gian còn lại chữa bài tập cho học sinh vì phân phối chương trình không có tiết bài tập, lí thuyết triền miên thì học sinh lại không nắm được kiến thức vừa học xong.
+ Giáo viên chưa chú ý đến việc rèn kĩ năng thí nghiệm cho học sinh, kĩ năng đọc và phân tích tài liệu, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng viết báo cáo, thuyết