1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường trên sông Thị Vải- Đồng Nai

20 3,2K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường trên sông Thị Vải-Đồng Nai
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế - Luật
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 752,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận Văn: Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường trên sông Thị Vải- Đồng Nai

Trang 1

1.1 KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI NGỌAI TÁC:

1.1.1 Khái niệm:

Ngoại tác là những hành động của các cá nhân hoặc doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến người khác, doanh nghiệp khác mà các cá nhân và doanh nghiệp này không phải trả tiền hoặc không được trả tiền về những ảnh hưởng kia

Ngoại tác là một trong những thất bại của thị trường

1.1.2 Phân loại:

Ngoại tác tích cực: là ngọai tác có lợi đối với người khác

Ví dụ: chủng ngừa ngăn chặn bệnh truyền nhiễm, phòng cháy, giáo dục, nâng cấp nhà ở,…

Ngoại tác tiêu cực: là ngoại tác có hại đối với người khác

Ví dụ: chất thải công nghiệp, khói thuốc lá, ô nhiễm và ùn tắc ôtô, hàng xóm ồn ào,…

1.2 HẬU QUẢ CỦA NGOẠI TÁC:

- Việc phân bổ nguồn lực sẽ không hữu hiệu

- Mức sản xuất và chi tiêu cho việc kiểm soát ngoại tác khó thực hiện đúng

Ví dụ: Doanh nghiệp có thể bỏ ra chi phí để làm giảm bớt ô nhiễm môi trường Điều này có lợi cho xã hội nhưng lợi ích cá nhân không cao

- Khi có ngoại tác tiêu cực thì chi phí xã hội biên lớn hơn chi phí cá nhân cận biên và cân bằng thị trường sẽ làm gia tăng quá mức hàng hóa Trong vấn đề nguồn lực chung thì lợi ích xã hội cận biên nhỏ hơn lợi ích cá nhân cận biên

1.3 KHẮC PHỤC NGOẠI TÁC TIÊU CỰC:

1.3.1 Nội bộ hóa ngoại tác:

Đây là giải pháp không cần có sự can thiệp của Chính phủ Có nghĩa là hình thành các đơn vị kinh tế có quy mô thích hợp để phần lớn hậu quả của hành vi ngoại tác diễn ra trong khuôn khổ đơn vị đó

Ví dụ: Chủ vườn táo trở thành người nuôi ong Điều này chỉ có thể làm được khi vườn táo đủ lớn để ong chỉ ở trong vườn táo

1.3.2 Tổ chức hoạt động hợp tác của các cá nhân với nhau:

Trong một số trường hợp, mọi người có thể tự giải quyết được vấn đề ảnh hưởng ngoại tác Định đề Coase cho rằng các bên tham gia có thể thương lượng với nhau và nhất trí về một giải pháp có hiệu quả Tuy nhiên, đôi khi họ không thể đạt được kết cục có hiệu quả do có quá nhiều bên liên quan và điều đó làm cho quá trình thương lượng trở nên khó khăn

Ví dụ: Việc bồi thường hay đền bù; sự trừng phạt của xã hội,

1.3.3 Sự can thiệp của Chính phủ:

Khi mọi người không tự giải quyết được vấn đề ảnh hưởng ngoại tác và khi một ảnh hưởng ngọai tác khiến cho thị trường không đạt được sự phân bổ có hiệu quả, thì chính phủ xuất hiện

Chính phủ có thể phản ứng theo một trong hai cách:

Trang 2

+ Một là, thực hiện các chính sách có tính chất chỉ huy và kiểm sóat để điều chỉnh hành vi một cách trực tiếp

+ Hai là, thực hiện các chính sách dựa trên thị trường để tạo ra những kích thích sao cho các nhà ra quyết định tư nhân tự chọn cách giải quyết vấn đề

Chính sách công có thể đưa ra các lọai giải pháp sau để quyết vấn đề ngọai tác tiêu cực:

a Điều chỉnh:

Chính phủ có thể sữa chữa ảnh hưởng ngoại tác bằng cách quy định rằng một số hành vi mang tính bắt buộc hoặc bị cấm Ví dụ: hành động thải hóa chất độc hại xuống nguồn nước bị coi là tội phạm Trong trường hợp này, chi phí ngoại tác đối với

xã hội lớn hơn rất nhiều so với ích lợi mà người gây ô nhiễm nhận được Do vậy, chính phủ thiết lập một chính sách mang tính chỉ huy và kiểm soát nhằm ngăn cấm hành động này

Song hầu hết các trường hợp gây ô nhiễm, tình huống không phải đơn giản như vậy Bất chấp những mục tiêu được một số nhà môi trường công bố, việc ngăn cấm tất

cả các hoạt động gây ô nhiễm là điều không thể thực hiện Ví dụ: hầu như phương tiện giao thông đều gây ra tình trạng ô nhiễm mà chúng ta không muốn thấy Chính phủ không thể cấm mọi phương tiện giao thông Do vậy, thay vì việc loại bỏ hoàn toàn tình trạng ô nhiễm, xã hội phải so sánh giữa chi phí và ích lợi để quyết định loại hình

và mức độ ô nhiễm cho phép

b Đánh thuế Pigou:

Chính phủ ngăn cản các hoạt động không có hiệu quả về mặt xã hội bằng cách điều chỉnh hành vi Hoặc có thể ảnh hưởng ngoại tác thông qua sử dụng thuế Pigou

Chính phủ có thể khắc phục ngọai tác tiêu cực bằng cách đánh thuế Thuế đóng vai trò là công cụ sửa chữa các ngọai tác tiêu cực gọi là thuế Pigou

Các nhà kinh tế thường thích sử dụng thuế Pigou hơn so với việc sử dụng các quy định khi giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bởi vì nó có thể làm giảm ô nhiễm với chi phí thấp nhất cho xã hội

Thứ nhất, họ chỉ ra rằng thuế có tác dụng như một quy định điều chỉnh việc cắt giảm tổng mức ô nhiễm Họ có thể đạt bất kỳ mức ô nhiễm nào họ muốn bằng cách áp mức thuế thích hợp Thuế càng cao, mức ô nhiễm càng thấp Trên thực tế, nếu thuế cao đến mức nhất định, các nhà máy sẽ đóng cửa và không còn gây ra ô nhiễm môi trường nữa

Lý do làm cho các nhà kinh tế thích sử dụng thuế là nó cắt giảm mức ô nhiễm theo các hiệu quả hơn Chính sách điều tiết thường yêu cầu mỗi nhà máy phải cắt giảm sản lượng như nhau, nhưng việc cắt giảm ô nhiễm một lượng bằng nhau không nhất thiết là biện pháp ít tốn kém nhất để làm sạch nguồn nước

Ưu điểm việc đánh thuế:

Việc đánh thuế ô nhiễm làm cho giá tăng và buộc người sản xuất phải giảm sản lương đến mức hiệu quả

Lợi về hiệu quả xã hội với gỉa định rằng mức thuế được định đúng

Lợi về công bằng cho những người bị ảnh hưởng

Làm tăng nguồn thu cho chính phủ

Trang 3

Nhược điểm việc đánh thuế:

Chúng không phổ biến

Chúng đòi hỏi nhiều thông tin để định đúng mức thuế

Việc đánh thuế làm giảm ô nhiễm nhưng không thể xóa bỏ ô nhiễm do sản xuất gây ra

Chúng đôi khi gây ra gánh nặng không cân xứng lên các hộ thu nhập thấp

c Giấy phép xã thải chuyển nhượng được: (Định lý Coase và chính sách

công)

Đây là một ứng dụng của định lý Coase vào chính sách công, là sự thiết lập các

giấy phép gây ra ô nhiễm có thể chuyển nhượng Đôi khi được gọi là quyền gây ô

nhiễm.

Ví dụ: Có 2 nhà máy sản xuất thép và sản xuất giấy Cục Bảo vệ môi trường quy định mức thải là 5 tấn cho mỗi nhà máy Nhà máy thép muốn tăng chất thải lên 1 tấn, nhà máy giấy đồng ý giảm chất thải xuống 1 tấn với điều kiện nhà máy thép sẵn sàng trả cho nhà máy giấy 1 triệu USD

Tóm lại giấy phép xả thải là

Ấn định mức ô nhiễm được cho phép

Tạo ra quyền gây ô nhiễm có thể đàm phán trên thị trường

Cho phép thị trường về quyền gây ô nhiễm tìm giải pháp hiệu quả nhất

Doanh nghiệp có thể cắt giảm dễ dàng nhất sẵn sang bán bất kỳ giấy phép nào

họ có

Doanh nghiệp phải cắt giảm ô nhiễm với chi phí cao sẵn sàng mua bất kỳ giấy phép nào khi họ cần Sự phân bổ cuối cùng sẽ có hiệu quả

1.3.4 Các biện pháp khác:

Chính phủ có thể khắc phục ngoại tác tiêu cực bằng cách chế tài bằng phạt tiền

và hình sự, tăng chi phí sản xuất và ngưỡng giá để nhập ngành, phí thải đánh trên mỗi đơn vị thải

Trang 4

2.1.VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ LỢI ÍCH KHAI THÁC TÀI NGUYÊN TRÊN SÔNG THỊ VẢI:

2.1.1 Vị trí địa lý sông Thị Vải:

Sông Thị Vải có độ dài gần 50 km bắt nguồn từ huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai đổ ra Vịnh Gành Rái chảy qua Tp.Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Có độ rộng 300-600m, nhưng độ sâu lớn (10-30m), ít bị bồi lắng nên rất thuận lợi cho việc xây dựng các cảng nước sâu và hoạt động của tàu từ 10.000 đến 50.000 DWT

Dòng sông có khả năng pha loãng và phân hủy chất ô nhiễm, làm sạch nước

thải Quá trình này được gọi là sự “đồng hóa” hoặc “tự làm sạch” Phụ thuộc vào khả

năng tự làm sạch tự nhiên các dòng sông có khả năng bị ô nhiễm với mức độ khác nhau khi tiếp nhận khối lượng chất ô nhiễm như nhau

Từ nghiên cứu mô hình chất lượng nước kết hợp số liệu phân tích Nguyễn Tất Đắc và CTV (1994, 1997, 2001) đã kết luận sông Thị Vải có hệ số tự làm sạch là 1,0 –

5,0 (Theo tính toán trong tài liệu nước ngoài dòng sông có hệ số tự làm sạch trong

khoảng 2,0 – 4,0 là có khả năng tự làm sạch ở mức trung bình, và nếu hệ số này trên 4,0 -10 là có khả năng tự làm sạch tốt)

Trạm H max H min V max +

(m/s)

V max

-(m/s)

€Q +

(m 3 /s)

€Q

-(m 3 /s)

€Q (m 3 /s)

€Q bq

(m 3 /s)

Nguồn: Huỳnh Bình An – Trung Tâm KTTV phía Nam, 2000.

2.1.2 Lợi ích khai thác tài nguyên trên sông Thị Vải:

Sông Thị Vải tuy không có ý nghĩa về mặt cung cấp nước, nhưng sông thuộc địa bàn 3 tỉnh, thành (Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, TP.Hồ Chí Minh) rất quan trong

về mặt sinh thái và môi trường Sông có hệ sinh thái rừng ngập mặn, khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ rất phong phú, có thể xem là lá phổi thanh lọc tự nhiên

Dòng sông mang nguồn nước mặn, lợ với chế độ bán nhật triều và hệ thống

động thực vật từ thượng nguồn đến hạ nguồn rất phong phú, đa dạng

Sông Thị Vải có hệ sinh thái đất ngập nước có giá trị rất quan trọng về mặt

môi trường và kinh tế - xã hội:

- Đây là nơi cơ trú, sinh trưởng của các loài tôm, cá Hoạt động đánh bắt cá ven

bờ và khai thác ngoài khơi công suất khoảng 12 sức ngựa, trong đó khoảng 10% số tàu có khả năng đánh bắt ở các vùng nước sâu trên 30m

- Rừng ngập mặn là vùng đệm bảo đảm chống xói lở bờ biển, bờ sông và gia tăng bồi lấp vùng cửa sông

- Rừng ngập mặn với cảnh quan thiên nhiên và nơi cư trú của động vật hoang

dã là điểm du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học lý thú đặc biệt là khu Dự trữ sinh quyển Cần Giờ

- Rừng ngập mặn và các bãi lầy ngập mặn góp phần vào việc xử lý nguồn nước

ô nhiễm từ Đồng Nai, TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An, bảo vệ môi trường nước cho các khu du lịch và khu nuôi trồng thuỷ sản ở Cần Giờ (TP.Hồ Chí Minh), Tân Thành (Bà Rịa-Vũng Tàu), Cần Giuộc (Long An)

Trang 5

Sông Thị Vải nằm trong vùng ven biển lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn có trên 220 km bờ biển và có độ sâu cao nên có điều kiện phát triển một hệ thống cảng biển làm nhiệm vụ tiếp nhận, xuất và trung chuyển hàng hóa quốc tế

2.2 THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRÊN SÔNG THỊ VẢI ĐỒNG NAI:

Tuy nhiên, đến nay hệ sinh thái con sông Thị Vải suy giảm mạnh Việc chuyển vùng đất ngập mặn ven sông Thị Vải thành đất công nghiệp và đô thị đã tác động xấu đến môi trường tự nhiên và các ngành kinh tế mũi nhọn: thuỷ sản và du lịch của Bà Rịa-Vũng Tàu, TP.Hồ Chí Minh

Các KCN đang hoạt động hoặc đã được quy hoạch ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và sông Thị Vải là nơi nhận nguồn nước thải cuối cùng:

Stt Khu công nghiệp Diện tích

(ha)

Loại hình khu công nghiệp Tỉnh Đồng Nai

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

1 Mỹ Xuân (A, A2, B1) 804 Nặng / nhẹ

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo hiện trạng môi trường các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2001, 2002 và năm 2003.

Ghi chú: + Công nghiệp nhẹ: các ngành dệt may, da giày, điện tử, chế biến thực phẩm.

+ Công nghiệp nặng: các ngành hóa chất, luyện kim, vật liệu xây dựng, năng kượng, cơ khí, đóng tàu,…

Nhiều năm gần đây, sông gây mùi hôi thối, khó chịu, có những đoạn nghiêm trọng tới mức thông số DO xấp xỉ bằng 0, thực vật và sinh vật phù du không có khả năng sinh sống Từ dòng sông có ý nghĩa “lá phổi” trở thành mối nguy hại khiến nhiều người dân lẫn các công ty ven bờ bị ảnh hưởng về kinh tế, xã hội lẫn sức khoẻ

2.2.1 Biểu hiện của sông Thị Vải:

Từ năm 1992 khu công nghiệp (KCN) Gò Dầu được xây dựng đến nay dòng sông đã bị ô nhiễm nặng do ảnh hưởng của chất thải công nghiệp tại khu vực Gò Dầu

Trang 6

Nước sông có mùi hôi khó chịu, càng đi gần vào

những bờ đùng thì mùi càng nặng hơn Nước ở giữa sông

còn có màu vàng nhưng đi vào trong thì chuyển sang màu

đen dần Có những lúc màu nước sông đen như nước kẹo

đắng Nước sông vào ban ngày đỡ hôi, vào ban đêm rất

hôi do ban đêm các nhà máy dọc sông Thị Vải mới xả

nước thải ra sông

Theo báo cáo khoa học “Điều tra và lập phương

án xử lý ô nhiễm môi trường sông Thị Vải do các công

trình công nghiệp lân cận gây ra” được chủ trì thực hiện bởi Viện Sinh thái Tài

nguyên và Môi trường, Viện Sinh học Nhiệt đới, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia (tháng 10-1997), ngoài lượng NH+4 (amoni), COD (nhu cầu ô

xy sinh hóa), BOD (nhu cầu ô xy hóa học) cao, nước thải còn chứa những hợp chất hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật

Trong điều kiện dung dịch nước thải có chứa hàng loạt gốc axít với vi sinh có trong tự nhiên sẽ chuyển thành các hợp chất chứa lưu huỳnh Qua các quá trình phân hủy, phản ứng hóa học tạo ra các chất kết tủa có màu đen trong nước; đồng thời làm giảm lượng ôxy hòa tan trong

nước khiến các loài thủy sinh không thể sống được.

Chưa hết, các sulfur kim loại nặng kết tủa sẽ lắng xuống đáy sông lẫn trong bùn Sự tích tụ này có hại cho chất lượng môi trường Qua hai đợt khảo sát mẫu bùn vào năm 1996 và 1997 ở cảng Gò Dầu (gần nhà máy Vedan), kết quả cho thấy hàm lượng H2S rất cao Khi hàm lượng

H2S trong nước tăng cao, không một sinh vật nào có thể tồn tại Cụ thể, các mẫu bùn lấy vào thời điểm tháng 9-1997 đã không tìm thấy loài động vật đáy nào sinh sống Theo kết luận điều tra của các nhà khoa học thuộc các cơ quan trên, sông Thị

Vải đã chìm sâu trong ô nhiễm hữu cơ với mức độ ô nhiễm tăng suốt từ năm 1994 đến nay Các nguồn chất hữu cơ xả vào sông Thị Vải đã biến một đoạn sông (ở trung lưu)

thành “nồi lên men vi sinh khổng lồ” và thành “bể nuôi cấy các loại tảo thích nghi ô

nhiễm bẩn” Điều đáng lưu ý là các sinh vật gây bệnh tiết ra nhiều loại chất độc như

một số tảo lam Cảng Gò Dầu được xác định là trung tâm ô nhiễm Từ đây chất bẩn phát tán đi khắp chiều dài sông

+ Thiệt hại về kinh tế:

- Trước đây sông Thị Vải cá tôm nhiều vô kể mỗi lần kéo được cả trăm ký lô và người dân ven khu vực sông sống nhờ vào nghề nuôi tôm, cá Nên đời sống khá giả Nhưng vài năm gần đây, cá tôm bị tuyệt chủng, nhiều hộ dân nuôi cá, tôm ở vùng ven sông Thị Vải, điêu đứng vì cá, tôm của họ chết hàng loạt, nổi và dạt trắng cả bờ Nhiều người khẳng định hiện tượng cá, tôm chết như vậy là do nguồn nước ở sông Thị Vải bị ô nhiễm nặng

Một lọat khu công nghiệp mọc lên bên sông

Thị Vải (Ảnh: T.L/báo Bà Rịa-Vũng Tàu)

Đề tài khoa học từ năm 1997

Trang 7

Ví dụ: Đùng rộng 30 ha của ông Ngô Văn Lượng, Phạm

Văn Lạng, Vũ Văn Quý, Vũ Văn Mộng,… do nước thủy triều lên

ông Lượng mở cống cho nước từ sông Thị Vải vào đùng của

mình Sáng sớm hôm sau, ông Lượng phát hiện cá trong đùng

chết hàng loạt (khoảng 1 tấn) thiệt hại gần 100 triệu đồng

Ông Ba Hùng nghề nuôi tôm trên đìa rộng 10.000 m2 ở sát rạch Bàu Riêu, ông phải bỏ ¼ diện tích để làm hồ chứa nước, lắng khoảng 10 ngày và dùng nhiều hóa chất khử độc mới bơm vào ao nuôi Mỗi vụ tôm ông phải tốn khoảng 20 triệu đồng tiền bơm nước và hóa chất Thế nhưng ông vẫn trắng tày 3 vụ tôm thiệt hại hơn 250 triệu đồng

Nước ô nhiễm, vón cục chen vào các đùng tôm, cá vẫn còn trơ ra đó Có khoảng 560

hộ dân ở 2 xã Phước An, Long Thọ huyện Nhơn Trạch phải bỏ nghề, đi nhiều nơi tìm

kế mưu sinh

Xã đảo Thạnh An huyện Cần Giờ - Tp.Hồ Chí Minh cũng bị ảnh hưởng gián

tiếp từ dòng sông Thị Vải Xã có khoảng 1.000 hộ với hơn 70% người dân sống bằng nghề đánh bắt thuỷ hải sản, làm muối và nuôi tôm sú Nhưng 2-3 năm gần đây ít nhất 50%

hộ dân lỗ từ 7-8 triệu đồng hoặc mất trắng khi lấy nước từ sông vào để nuôi tôm

- Sông Thị Vải không chỉ ô nhiễm nước bề mặt, mà nguồn nước ngầm cũng bị ô nhiễm Do nước giếng người dân khoan dùng hàng ngày gần đây có mùi tanh, múc lên để qua đêm nước đổi màu đen

- Tình trạng ô nhiễm trên sông Thị Vải cũng ảnh hưởng trì trệ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN Gò Dầu Ông Shinya Kajita -Tổng giám đốc – Công ty phân bón Việt Nhật, ông Nguyễn Hữu Hiếu – Giám đốc Nhà máy Shell đều phản ánh nhiều hãng tàu Nhật Bản từ chối vận chuyển hàng hóa cũng như nguyên vật liệu cho công ty qua cảng Gò Dầu, do nước sông ô nhiễm ăn

mòn thân tàu Các hãng tàu Singapore cũng từ chối vận chuyển qua sông Thị Vải Theo báo cáo của Công ty cổ phần cảng Đồng Nai số lượt tàu Singapore cập cảng chiếm 34% (200/600 lượt)

- Chi phí làm sạch dòng sông cao Hơn 10 năm qua,

số nước thải chưa qua xử lý khoảng hơn 10 triệu m3 Theo

Cống nước ông Lượng đã mở để lấy nước từ sông Thị Vải vào đùng làm cá chết hàng loạt hôm 14/12/2005

Hệ thống xử lý nước thải của ông Ngâm mỗi vụ

tôm "ngốn" mất 20 triệu đồng

Những đầm tôm giờ chỉ còn là kỷ niệm Ảnh: Thái Ngọc

Chất thải công nghiệp "phủ

trắng" nhiều đoạn sông Thị

Vải.

Trang 8

ông Nguyễn Tôn, Chủ tịch Hội Cấp thoát nước VN, việc tính toán chi phí xử lý nguồn nước thải từ sản xuất công nghiệp được căn cứ vào chất lượng nước thải, nồng độ ô nhiễm và công nghệ xử lý Với mức độ ô nhiễm trung bình, giá thành xử lý 1m3 nước thải sau khi làm sạch sẽ gần gấp đôi giá nước sạch đầu vào Nếu giá nước sạch hiện nay là từ 4.000 - 5.000 đồng/m3 thì giá 1m3 nước sau khi xử lý sẽ ít nhất là 8.000 -10.000 đồng/m3 Tức là để làm sạch lượng nước thải đó, phải tốn tới hàng trăm tỉ đồng

+ Thiệt hại về xã hội:

Hầu hết cán bộ công nhân viên của các công ty làm việc tại khu vực Gò Dầu đều mắc các bệnh viêm xoang, nhức đầu, đau ốm liên tục mà nguyên nhân là do nhiễm mùi hôi thối, mùi hóa chất thải ra hằng ngày của các công ty, xí nghiệp

Hơn 10 năm nay, số người mắc bệnh

viêm xoang tại khu vực xung quanh Nhà máy

Vedan và dọc theo sông Thị Vải tăng đột biến

Theo thống kê của cơ quan chức năng có đến

90% số người dân ở đây mắc các căn bệnh

mãn tính như viêm xoang, nhức đầu, khó thở,

nếu da tiếp xúc với nguồn nước bị ô nhiễm bị

nổi mẫn ngứa rất khó chịu, gây đau nhức và

còn biểu hiện một số triệu chứng khác

Sông Thị Vải bị ô nhiễm dẫn đến rừng

ngập mặn bị mất Mất rừng ngập mặn sẽ dẫn tới suy giảm ngành thuỷ sản, đặt biệt là nghề nuôi tôm cá của nhân dân Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và TP Hồ Chí Minh

2.2.2 Nguyên nhân ô nhiễm môi trường trên sông Thị Vải:

- Các thông số oxy hoà tan (DO) và nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) đực sử dụng

để đánh giá mức độ ô nhiễm nguồn nước do các chất hữu cơ kém bền vững Sông Thị Vải đang bị ô nhiễm hữu cơ với các mức độ khác nhau:

+ Khu vực Gò Dầu - Cảng Vedan về thượng lưu: ô nhiễm nghiêm trọng giá trị

DO thường <2,0 mg/l và giá trị BOD là 10-20 mg/l, có thời điểm lên trên 50 mg/l

+ Từ cảng Vedan về hạ lưu (Cái Mép) mức độ ô nhiễm giảm nhanh với giá trị

DO tăng dần từ 3,0 mg/l đến 5,5 mg/l và giá trị BOD giảm rõ rệt từ 4-8 mg/l từ Phú

Mỹ đến Gò Da

Sông Thị Vải có lượng phù sa thấp: hàm lượng chất rắn lơ lửng ở Cái Mép chỉ khoảng 20-50 mg/l vào mùa khô và 100-150 mg/l vào mùa mưa Tuy nhiên do ảnh hưởng của chất thải công nghiệp tại khu vực Gò Dầu –Vedan có nhiều thời điểm lượng chất thải lên đến 200 mg/l

Hàm lượng tổng coliform sông Thị Vải vượt giá trị 10.000 MPN/100ml (Tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn loại B)

Nguyên nhân cơ bản việc ô nhiễm sông Thị Vải do việc xả thải của các khu dân cư, cơ sở sản xuất công nghiệp từ các khu công nghiệp:

* Tại khu công nghiệp Mỹ Xuân A, huyện Tân Thành đã phát hiện DNTN

Liêm Chính (hoạt động từ năm 2001) trong lĩnh vực luyện và kéo cán thép xây dựng

với nguyên liệu là sắt, thép phế liệu nhưng không đấu nối vào hệ thống thoát nước thải

Váng vàng dày đặc mặt sông Thị Vải (Ảnh: CTV)

Trang 9

của khu công nghiệp Lúc kiểm tra doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng các thùng phuy chứa dầu, giẻ lau nhiễm dầu, thùng đựng hoá chất (chất thải nguy hại) để bừa bãi, không có mái che theo quy định

Dầu cặn tràn, chảy vào hệ thống thoát nước mưa của khu công nghiệp Lượng nước thải phát sinh trong quá trình sản xuất bị nhiễm dầu nặng được chia làm hai đường, trong đó có một đường dẫn vào hệ thống thoát nước mưa của khu công nghiệp Đoàn kiểm tra đã lấy mẫu nước thải để phân tích nhưng kết quả kiểm tra ban đầu cho thấy doanh nghiệp này không thực hiện báo cáo giám sát môi trường, không nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

* Tương tự, tại công ty gạch men Nhà Ý với lượng nước thải phát sinh trung

bình khoảng 100m3/ngày Công ty này đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải và hoạt động từ tháng 4/2007 nhưng đoàn kiểm tra phát hiện thấy bể thu gom nước thải trước khi đưa vào hệ thống xử lý được đấu nối với cống thoát nước thải của khu công nghiệp Ngoài ra, bùn cặn sau hệ thống xử lý được xả trực tiếp vào khu đất bên cạnh

hệ thống xử lý nước thải

* Công ty TNHH chế biến thuỷ sản Tiến Đạt ở ấp Láng Cát, xã Tân Hải,

huyện Tân Thành hoạt động từ năm 2002 với lĩnh vực chính là gia công, chế biến các mặt hàng thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu Trong quá trình hoạt đông công ty đã sử dụng hoá chất clorin, xà phòng để tẩy rửa và NaClO và thải ra chất thải nguy hại như dầu cặn, giẻ lau nhiễm dầu nhưng không đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại với cơ quan quản lý nhà nước Mỗi ngày, công ty xả thải khoảng 900m3 nước thải

Đoàn kiểm tra đã phát hiện công ty Tiến Đạt xả trộm toàn bộ lượng nước thải chưa qua xử lý vào một đường ống ngầm, cắm thẳng vào lòng kênh Rạch Tre (một nhánh của sông Thị Vải) Theo báo cáo của công ty Tiến Đạt, đường ống ngầm này lắp đặt từ năm 2004 Ngoài ra, lượng khí thải phát sinh trong quá trình sấy bột cá, đốt dầu DO chưa được xử lý, thải thẳng vào môi trường qua ống khói Đoàn đã yêu cầu công ty Tiến Đạt chấm chấm dứt ngay việc xả nước thải lén trên

* Công ty TNHH một thành viên giấy Mỹ Xuân thải khoảng 2.000m3/ngày nước Nước thải được thu gom về hệ thống xử lý nước thải Nhà máy có hai hệ thống

xử lý nước thải nhưng vẫn cho nước thải chưa qua xử lý chảy ra hệ thống cống chung của khu công nghiệp Trong ngày đầu kiểm tra hiện trường, dù nghi ngờ nhưng đoàn vẫn không phát hiện đường đi của nước vì đã được nguỵ trang, che gạch bên trên Cho đến ngày hôm sau đoàn mới phát hiện được

Theo giải thích của đại diện công ty, việc xả thẳng ra hệ thống thoát nước mưa của khu công nghiệp chỉ là tình huống sự cố (?!) Vụ việc đang được phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu làm rõ

* Tương tự, công ty TNHH PAK Việt Nam không có hệ thống xử lý nước thải

và số nước thải không qua xử lý được thải trực tiếp ra ngoài hệ thống cống thoát nước mưa Ngoài ra, trên sân của doanh nghiệp này còn tồn đọng từ 15 – 20 tấn rác thải nguy hại

Theo đoàn kiểm tra, lượng nước thải không qua xử lý của các doanh nghiệp trên được dẫn vào hệ thống thoát nước chung hoặc được dẫn trực tiếp ra sông Lượng nước

Trang 10

này chảy vào sông Thị Vải và tích tụ lâu ngày gây ra tình trạng ô nhiễm ngày càng cao cho sông Thị Vải

Những nguồn chất thải lỏng ra sông Thị Vải tại khu vực Gò Dầu gây ô nhiễm đáng lưu ý gồm: Từ nhà máy của Công ty cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam (Công ty Vedan) và nhà máy Super Phosphat Long Thành và Taicera Tuy nhiên, nhà máy Super Phosphat Long Thành và Taicera ô nhiễm bụi là chính

Sông Thị Vải bị ô nhiễm nặng nề chủ yếu do Công ty Vedan xả trực tiếp nước thải không qua xử lý vào sông Thị Vải.

Công ty Vedan Việt Nam xây dựng nhà máy vào năm 1991 tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, nằm ở phía Đông Nam thành phố Hồ Chí Minh, tổng diện tích 120 hecta Công ty Vedan được cấp giấy phép hoạt động từ năm 1994, lĩnh vực hoạt động của công ty chủ yếu là sản xuất bột ngọt, tinh bột, nước đường, xút (NaOH), axit (HCl), phân bón,…

Theo báo cáo tổng hợp về tài chính của Công ty Vedan, tổng vốn đầu tư hiện

nay của Công ty Vedan khoảng 460 triệu đô la Mỹ, doanh thu giai đoạn từ năm 1994 đến 2007 khoảng 151 triệu đô la Mỹ/năm, lợi nhuận trước thuế từ năm 1994 đến 2007 khoảng 11,3 triệu đô la Mỹ/năm Công ty Vedan cho biết, trong năm 2007, tổng doanh thu của công ty đạt 270 triệu USD, (so với năm 2006 đạt mức tăng trưởng khoảng 12%) Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 113 triệu USD (tăng so với năm

2006 koảng 19%), chiếm 42% tổng doanh thu Cũng trong năm 2007, Vedan đã nộp ngân sách 10 triệu USD, tăng 20% so với năm 2006

Theo bản báo cáo khảo sát, Vedan sử dụng các nguyên liệu chính như: đường,

mật, tinh bột, các loại Vitamin Công suất của nhà máy theo thiết kế mỗi năm sản xuất được: 60.000 tấn bột, 63.000 tấn đường; 60.000 tấn bột ngọt; 100.000 tấn a xit citric; 100 tấn thuốc trừ sâu vi sinh, gần 6,6 triệu thùng giấy và thùng đóng lon; 7,2 triệu thùng thực phẩm ăn liền Đặc biệt nhà máy Vedan còn có công suất sản xuất khoảng 40.000 tấn xút loại 100% và 34.800 tấn a xit Clo hidric Nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào của Công ty Vedan năm 2008 dự kiến tiệu thụ 638.180 tấn mì (diện tích khoảng 31.909 ha) của hơn 20.000 nông dân ở Đồng Nai và các tỉnh Gia Lai, Bình Định, Ninh Thuận, Phú Yên, Hà Tĩnh,

Hiện công ty có 2.700 công nhân đang làm việc Lương trung bình của công nhân ở đây hiện nay là 3 triệu đồng/tháng Đa phần công nhân là người Đồng Nai, ngoài ra có cả người đến từ các tỉnh miền Trung, Đồng bằng Sông Cửu Long và miền Bắc

Mặc dù Công ty đã có những đóng góp tich cực về mặt ngân sách cho Nhà nước, tạo việc làm cho hàng nghìn công nhân và nông dân Việt Nam Tuy nhiên, những thiệt hại mà Công ty Vedan đã gây ra cho môi trường Việt Nam thì không nhỏ

Vedan thải gì ra sông Thị Vải? Trong quá trình sản xuất các sản phẩm bột

ngọt, tinh bột, nước đường, xút (NaOH), axit (HCl), phân bón,… nước thải của công

ty có chứa nhiều chất gây ô nhiễm môi trường:

Ngày đăng: 10/12/2012, 09:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Loại hình khu công nghiệp Tỉnh Đồng Nai - Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường trên sông Thị Vải- Đồng Nai
o ại hình khu công nghiệp Tỉnh Đồng Nai (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w