1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Sát hạch lái xe mô tô hạng A1 dễ hay khó

3 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sát Hạch Lái Xe Mô tô Hạng A1 Dễ Hay Khó
Tác giả Nguyễn Xuân Trung
Trường học Trường Cao đẳng Giao thông Huế
Chuyên ngành Giao thông vận tải
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 447,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô tô hạng A1 là phương tiện giao thông phổ biến tại Việt Nam. Hàng năm có hàng triệu người tham gia học và sát hạch cấp giấy phép lái xe hạng này. Kết quả phân tích độ khó bộ đề trắc nghiệm dùng cho sát hạch lý thuyết lái xe mô tô hạng A1 cho thấy, chỉ có 1/148 câu ở mức trung bình, còn lại 147/148 câu là dễ. Trong đó, có thể chia ra bốn mức nhỏ gồm 9 câu “tương đối dễ”, 28 câu “dễ”, 51 câu “rất dễ” và 59 câu “hoàn toàn dễ”.

Trang 1

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 8(117).2017 23

SÁT HẠCH LÁI XE MÔ TÔ HẠNG A1 DỄ HAY KHÓ?

ARE LEVEL A1 MOTORCYCLE DRIVING THEORY TESTS EASY OR DIFFICULT?

Nguyễn Xuân Trung

Trường Cao đẳng Giao thông Huế; nxtrung.gtvthue@gmail.com

Tóm tắt - Mô tô hạng A1 là phương tiện giao thông phổ biến tại Việt

Nam Hàng năm có hàng triệu người tham gia học và sát hạch cấp

giấy phép lái xe hạng này Kết quả phân tích độ khó bộ đề trắc

nghiệm dùng cho sát hạch lý thuyết lái xe mô tô hạng A1 cho thấy,

chỉ có 1/148 câu ở mức trung bình, còn lại 147/148 câu là dễ Trong

đó, có thể chia ra bốn mức nhỏ gồm 9 câu “tương đối dễ”, 28 câu

“dễ”, 51 câu “rất dễ” và 59 câu “hoàn toàn dễ” Như vậy, sát hạch lý

thuyết đối với người học lái xe mô tô hạng A1 là rất dễ dàng Kết quả

này khá tương thích với một phân tích định tính về độ khó đã được

thực hiện trước đây và với tỷ lệ đạt sát hạch trung bình năm Từ đó,

có thể cho rằng yêu cầu về năng lực có được sau khi học xong của

người lái xe mô tô hạng A1 là rất dễ dàng Vì vậy, rất cần phải xem

xét điều chỉnh về cả mục tiêu, tiến trình dạy học và sát hạch

Abstract - Motorcycle is a popular transport means in Vietnam Every

year, millions of learners attend driving courses to test and receive level A1 driver’s licenses The analysis result about the levels of difficulty of multiple choice questions used for level A1 motorcycle driving theory tests shows that there is only 1/148 questions is at average level, 147/148 are easy Particularly, the questions can be classified into 4 small levels:

9 are rather easy, 28 easy, 51 very easy and 59 completely easy It is explained that theory tests for level A1 motorcycle learners are very easy This result is almost compatible with a qualitative analysis about the levels of difficulty carried out before and with average test passing rate each year Thereby, it is affirmed that the request for capacity for level A1 motorcycle driving learners is very easy Therefore, it is very necessary

to reconsider and adjust objectives, teaching process and tests

Từ khóa - sát hạch lái xe; độ khó; câu hỏi trắc nghiệm; mô tô hạng

A1; định lượng

Key words - driving test; levels of dificulty; multiple choice

questions; level A1 motorcycle; quantitative

1 Đặt vấn đề

Đến cuối năm 2016, nước ta có khoảng trên 45 triệu mô

tô, xe gắn máy đang lưu hành và dự kiến tăng hàng triệu

chiếc mỗi năm [7], cùng với sự gia tăng đó là hàng triệu

người tham gia sát hạch lấy giấy phép lái xe, chủ yếu là

hạng A1 Hiện nay, để có giấy phép lái xe hạng A1 (lái xe

mô tô hai bánh có dung tích xi lanh từ 50 đến 175 cm3)

người học cần trải qua 8 giờ học pháp luật giao thông

đường bộ, 2 giờ kỹ thuật lái xe và 2 giờ thực hành lái xe

[2] Sau đó, theo quy định của Tổng cục Đường bộ Việt

Nam, phải trả lời đúng 15/20 câu hỏi trắc nghiệm của bài

sát hạch lý thuyết và đạt 80/100 điểm của bài sát hạch thực

hành, theo thứ tự đạt lý thuyết mới được thực hành [9] Như

vậy, phần lý thuyết chiếm phần lớn thời gian học và là phần

quan trọng nhất

Nhưng sát hạch lý thuyết đối với người học là dễ hay

khó, dễ như thế nào, khó như thế nào? Dạy học nói chung

dựa trên ba nền tảng là mục tiêu, tiến trình và kiểm tra, đánh

giá, mà ở đây là sát hạch Trả lời được câu hỏi này sẽ tạo cơ

sở để điều chỉnh, cải tiến mục tiêu, nội dung và thậm chí là

cả phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học

lý thuyết lái xe mô tô A1 Đặc biệt là phần này lại có ảnh

hưởng đến thực trạng chấp hành pháp luật giao thông đường

bộ, một vấn đề bức xúc của toàn xã hội hiện nay

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Với trắc nghiệm khách quan, việc kiểm tra, đánh giá trở

nên nhanh chóng và thuận tiện hơn so với tự luận Dù đã

có nhiều lần thay đổi, cả về số lượng câu hỏi của bộ đề, số

câu hỏi trong một đề lẫn về thời gian làm bài, nhưng hình

thức trắc nghiệm khách quan luôn được sử dụng trong sát

hạch lý thuyết lái xe [3, 8] Bài sát hạch lý thuyết lái xe mô

tô A1 hiện nay được thực hiện trên máy vi tính hoặc trên

giấy với thời gian tối đa 15 phút [9] Từ tháng 7/2013, đề

sát hạch được tổ hợp từ bộ đề 150 câu hỏi có kết cấu nội

dung và phân bố trong đề như Bảng 1 [9] Riêng các câu

74 và 75 không sử dụng từ ngày 01/3/2016 do thay đổi quy định về tốc độ xe chạy [1]

Bảng 1 Kết cấu nội dung 150 câu hỏi và

phân bố trong một bài sát hạch lý thuyết

Thứ tự câu hỏi trong bộ đề Nội dung trong bài sát hạch Thứ tự câu hỏi Câu 1 đến 13 Các định nghĩa, khái niệm Câu 1

Câu 14 đến 32 Các hành vi bị cấm

Câu 2 đến 9 Câu 33 đến 42 Tín hiệu giao thông đường bộ

Câu 43 đến 73 Quy tắc giao thông đường bộ Câu 76 đến 80 Văn hóa giao thông Câu 10 Câu 81 đến 115 Biển báo hiệu đường bộ Câu 11 đến 15 Câu 116 đến 150 Sa hình tình huống giao thông Câu 16 đến 20

Một câu hỏi trắc nghiệm được phân tích định lượng bằng hai chỉ số là độ khó và độ phân biệt, còn đánh giá một

đề thi trắc nghiệm thì dùng độ tin cậy và độ giá trị [6] Các chỉ số phân tích, đánh giá này hoàn toàn không xét đến các đặc điểm cá nhân của người học (độ tuổi, giới tính, trình độ nhận thức, ) Dù vậy, sau 22 năm thực hiện sát hạch cấp giấy phép lái xe mô tô A1, đối tượng học hiện nay chủ yếu

là người trẻ đủ 18 tuổi Và cũng có thể thấy rằng, mục đích

đi học trước tiên là để lấy giấy phép lái xe Với sát hạch lý thuyết lái xe mô tô A1, chỉ có thể phân tích độ khó do có đến 116/150 câu hỏi (77,3%) không đúng thể thức trắc nghiệm nhiều lựa chọn [10] Theo tác giả Lâm Quang Thiệp, độ khó của một câu hỏi được tính bằng số người trả lời đúng chia cho số người tham gia trả lời [6] Một số tác giả đề nghị mức 0,7 – 1 là câu hỏi dễ (có 70 – 100% số người trả lời đúng), mức 0,3 - 0,7 là trung bình, từ 0,3 trở xuống là khó [4, 5] Tuy nhiên, như vậy thì điểm biên chưa được xác định nên có thể chọn mức 0,4 – 0,6 là trung bình

3 Kết quả và thảo luận

Tại Trường Cao đẳng Giao thông Huế, từ ngày 01/3/2016 đến ngày 01/3/2017 (một năm từ thời điểm thay đổi quy định về tốc độ xe chạy), đã có 135 khóa học lái xe

Trang 2

24 Nguyễn Xuân Trung

mô tô A1 với 14.231 người dự sát hạch và tỷ lệ đạt lần thứ

nhất tính trung bình gần 87,77%, khóa đạt thấp nhất là

59,42% và cao nhất là 100% Để phân tích độ khó, hai khóa

học được chọn ngẫu nhiên từ danh sách, gồm khóa

A11363489 có 56/75 người đạt sát hạch, chiếm tỷ lệ

74,67% (độ tuổi trung bình là 19,9) và khóa A11443501 có

171/189 người đạt sát hạch, chiếm tỷ lệ 90,48% (độ tuổi

trung bình là 20,5), chỉ tính với lần sát hạch thứ nhất Tính chung hai khóa là 227/264 người đạt sát hạch, chiếm tỷ lệ 85,6%, tỷ lệ này gần với mức trung bình nêu trên Kết quả tính toán độ khó được trình bày ở Bảng 2, trong đó câu hỏi

có số người trả lời thấp nhất là 12 và số lượng này phù hợp

để tính toán đến 0,1 Giá trị độ khó (tính làm tròn) cao nhất

là 1 và thấp nhất là 0,5

Bảng 2 Độ khó của 150 câu hỏi sát hạch lái xe mô tô hạng A1

Câu hỏi Số người trả lời Độ đúng Câu hỏi Số người trả lời Độ đúng Câu hỏi Số người trả lời Độ đúng Câu hỏi Số người trả lời Độ đúng

1 24 0,9 39 38 1 77 44 1 115 41 1

2 17 1 40 39 0,9 78 58 0,9 116 33 1

3 17 0,9 41 29 0,9 79 60 0,9 117 24 1

4 20 0,9 42 28 0,8 80 51 0,9 118 41 1

5 26 0,9 43 33 0,7 81 29 0,9 119 33 1

6 18 0,9 44 42 1 82 39 0,8 120 30 1

7 33 1 45 38 0,7 83 41 0,8 121 30 0,9

8 19 1 46 32 0,8 84 31 0,7 122 25 0,9

9 20 0,8 47 30 0,9 85 38 1 123 41 0,9

10 19 0,9 48 36 0,9 86 32 1 124 34 0,9

11 13 0,5 49 30 0,9 87 40 1 125 42 0,9

12 19 0,9 50 38 0,7 88 46 0,9 126 41 0,8

13 16 0,8 51 34 0,7 89 23 0,8 127 42 0,8

14 30 0,9 52 28 0,9 90 52 0,8 128 37 1

15 36 1 53 39 0,9 91 32 0,8 129 33 0,9

16 38 1 54 35 0,8 92 38 0,8 130 43 1

17 31 0,7 55 36 0,9 93 35 0,8 131 41 0,8

18 43 1 56 42 0,9 94 33 0,9 132 30 0,9

19 31 1 57 44 0,9 95 40 0,8 133 36 0,8

20 34 1 58 28 0,9 96 32 0,9 134 44 0,9

21 37 1 59 42 1 97 38 0,8 135 38 1

22 27 1 60 42 1 98 35 0,9 136 39 0,9

23 29 1 61 31 1 99 46 0,8 137 32 0,8

24 27 1 62 33 0,9 100 37 1 138 40 0,9

25 32 1 63 35 1 101 44 1 139 36 0,9

26 33 1 64 35 1 102 34 1 140 36 0,9

27 35 0,9 65 39 0,9 103 31 1 141 40 1

28 35 1 66 40 1 104 39 1 142 37 0,8

29 32 0,9 67 36 0,7 105 43 0,9 143 53 0,9

30 30 0,9 68 45 1 106 37 1 144 47 0,7

31 33 1 69 39 1 107 35 1 145 37 0,8

32 40 0,8 70 41 1 108 39 1 146 40 0,8

33 32 1 71 35 0,9 109 34 1 147 40 0,9

34 43 1 72 40 0,8 110 31 1 148 41 0,8

35 29 0,9 73 12 1 111 36 1 149 29 0,8

36 42 0,8 74 - - 112 41 1 150 39 0,7

37 39 0,9 75 - - 113 44 1

38 32 1 76 48 0,9 114 31 1

Trong 148 câu hỏi trắc nghiệm, trừ hai câu 74 và 75,

không có câu hỏi nào ở mức khó, chỉ có 1 câu trung bình

và 147 câu dễ Từ đây, đã có thể đưa ra nhận định ban đầu

rằng, sát hạch lý thuyết lái xe mô tô hạng A1 là dễ dàng

Để có thể xem xét chi tiết hơn, mức dễ được chia thành bốn

mức nhỏ là 0,7 = tương đối dễ, 0,8 = dễ, 0,9 = rất dễ và

1 = hoàn toàn dễ Kết quả phân tích cho thấy chỉ có 6% bộ

đề là “tương đối dễ”, 18,9% “dễ”, 34,5% “rất dễ” và 39,9%

là “hoàn toàn dễ” (96 – 100% làm đúng) (Bảng 3) Nếu tính

từ mức nhỏ “rất dễ” trở xuống thì tỷ lệ sẽ là 74,4%, còn nếu

từ “dễ” thì lên tới 93,3%

Trang 3

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 8(117).2017 25

Bảng 3 Số lượng câu hỏi theo độ khó trong từng nội dung hỏi

Nội dung Số lượng câu hỏi theo độ khó Cộng

0,5 0,7 0,8 0,9 1 Các định nghĩa, khái

niệm 1 0 2 7 3 13

Các hành vi bị cấm 0 1 1 4 13 19

Tín hiệu giao thông

đường bộ 0 0 2 4 4 10

Quy tắc giao thông

đường bộ 0 5 3 12 11 31

Văn hóa giao thông 0 0 0 4 1 5

Biển báo hiệu đường

bộ 0 1 10 6 18 35

Sa hình tình huống

giao thông 0 2 10 14 9 35

Cộng 1 9 28 51 59 148

Nếu phân tích độ khó nêu trên là định lượng, thì một phân

tích định tính cũng đã được thực hiện với bộ câu hỏi sát hạch

lý thuyết lái xe mô tô hạng A1 về một số bất cập như thể

thức câu hỏi, nội dung hỏi, cách dùng từ và độ khó theo thang

đo cấp độ tư duy Bloom [10] Trong đó, có 127 câu ở cấp độ

thấp nhất là “biết” (chỉ cần biết là trả lời đúng) chiếm 84,6%,

có 16 câu ở cấp độ “thông hiểu” chiếm 10,7%, có 7 câu ở

cấp độ “vận dụng” chiếm 4,7%, không có câu ở cấp độ “phân

tích” [10] So sánh các tỷ lệ phần trăm, có thể thấy hai kết

quả phân tích định lượng và định tính về độ khó là khá tương

thích với nhau và với cả tỷ lệ đạt sát hạch trung bình nêu

trên Rõ ràng, người học rất dễ dàng trả lời đúng, chỉ cần

“biết” phần lớn và “hiểu” thêm chút ít

Bảng 3 cũng cho thấy xu hướng số lượng câu hỏi tăng theo

mức độ dễ Số lượng những câu hỏi “rất dễ” và “hoàn toàn

dễ” chiếm phần lớn trong các nội dung hỏi, nghĩa là không có

một nội dung nào có vẻ khó hơn so với nội dung khác, kể cả

sa hình tình huống giao thông Trong khi đó, câu hỏi “khó”

nhất (độ khó 0,5) lại là về khái niệm, vốn chỉ cần học thuộc,

tức là người học chỉ cần “biết” Nội dung câu hỏi này như sau:

Câu 11: “Phương tiện tham gia giao thông đường bộ”

gồm những loại nào?

1 Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

2 Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ và xe máy

chuyên dùng

Để trả lời đúng câu hỏi này thì phải chọn cả hai phương

án Đây là câu hỏi bị sai về thể thức trắc nghiệm nhiều lựa

chọn Từ những phân tích định lượng và định tính nêu trên,

có thể lập luận rằng, sự “khó” ở bộ đề 150 câu hỏi sát hạch

lái xe mô tô A1 không phải do nội dung hỏi mà là do những

bất cập trong thiết kế câu hỏi Nếu được thiết kế tốt với cùng

nội dung hỏi đó thì có khả năng người học sẽ còn dễ dàng

trả lời hơn nữa Điều này cũng cho thấy yêu cầu về năng lực

có được sau khi học xong, bao gồm kiến thức - kỹ năng - thái

độ, của người lái xe mô tô hạng A1, thực ra là rất dễ dàng

4 Kết luận

Do các chương trình đào tạo lái xe và bộ đề sát hạch

hiện nay đều không được quy định hay hướng dẫn về mục

tiêu hay năng lực người học phải đạt được [2, 8, 9] nên không thể tham chiếu để đánh giá độ khó của câu hỏi như kết quả phân tích có phù hợp với mục tiêu hay không Tuy nhiên, với 147/148 câu hỏi ở mức dễ và 127/150 câu chỉ ở cấp độ tư duy thấp nhất là “biết” [10] thì đánh giá sát hạch

lý thuyết lái xe mô tô hạng A1 rất dễ dàng là hoàn toàn có

cơ sở Sự dễ dàng này đến từ nội dung câu hỏi sát hạch, nội dung chương trình đào tạo và thực trạng chấp hành pháp luật giao thông đường bộ hiện nay, cho thấy cần phải thay đổi Trước tiên, cần xác định rõ ràng mục tiêu của chương trình đào tạo, mục tiêu của các môn học lý thuyết và thực hành Sau đó là xây dựng nội dung chi tiết của chương trình, nên bao gồm cả mục tiêu của từng bài học, và cuối cùng là sửa đổi bộ đề sát hạch Từ mức điểm yêu cầu 15/20 của bài sát hạch lý thuyết, có thể thiết kế một bộ đề với 25% số câu hỏi mức dễ, 50% mức trung bình và 25% mức khó, tương ứng với các cấp độ tư duy “biết”, “hiểu” và “vận dụng” hoặc “phân tích” Dù có khó hơn nhưng 75% số câu hỏi vẫn từ trung bình đến dễ, người học chỉ cần cố gắng hơn một chút nhưng bù lại sẽ có năng lực tốt hơn về pháp luật giao thông đường bộ Tỷ lệ đạt sát hạch có thể giảm nhưng có lẽ không nhiều, có thể chấp nhận được

Ngoài ra, dù sát hạch lý thuyết được thực hiện trên máy

vi tính bằng phần mềm chuyên dùng, nhưng việc thu thập

số liệu để phân tích hoàn toàn phải thủ công, rất khó khăn Phần mềm chỉ cho phép trích xuất bài sát hạch của từng người chứ không thống kê được theo câu hỏi của bộ đề Do vậy, sau khi sửa đổi bộ đề trắc nghiệm, phần mềm sát hạch

lý thuyết, cần có các chức năng phân tích độ khó, độ phân biệt, độ tin cậy và độ giá trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bộ Giao thông Vận tải, Quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông trên đường

bộ, Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT, ngày 31/12/2015

[2] Bộ Giao thông Vận tải, Quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái

xe cơ giới đường bộ, Thông tư số 12/2017/TT-BGTVT, ngày 15/04/2017 [3] Ngọc Hậu, Bộ đề thi giấy phép lái xe mới: Thực tế và dễ hiểu hơn,

Báo Người lao động, http://nld.com.vn/ban-doc/bo-de-thi-giay-phep-lai-xe-moi-thuc-te-va-de-hieu-hon-60647.htm, ngày 17/07/2003 [4] Nguyễn Thị Hồng Minh và Nguyễn Đức Thiện, “Đo lường – đánh giá trong

thi trắc nghiệm khách quan: Độ khó câu hỏi và khả năng của thí sinh”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Số 22(4), 2006, trang 34-47 [5] Ngô Tứ Thành, Nghiên cứu tạo lập bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan, Tài liệu Hội nghị khoa học lần thứ 7 của Học viện Công nghệ

Bưu chính Viễn thông: Nhân dịp kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, 2005, trang 294-301

[6] Lâm Quang Thiệp, Trắc nghiệm và ứng dụng, NXB Khoa học và Kỹ

thuật, Hà Nội, 2008

[7] Đức Thọ, Hai người dân một xe máy: Thị trường chưa thấy điểm bão hòa, VnEconomy,

http://vneconomy.vn/xe-360/hai-nguoi-dan-mot- xe-may-thi-truong-chua-thay-diem-bao-hoa-20170111052325412.htm, ngày 12/01/2017

[8] Tổng cục Đường bộ Việt Nam, V/v sử dụng bộ 450 câu hỏi dùng để sát hạch lái xe cơ giới đường bộ, Công văn số

851/TCĐBVN-QLPT&NL, ngày 05/3/2013

[9] Tổng cục Đường bộ Việt Nam, 150 câu hỏi dùng cho sát hạch, cấp giấy phép lái xe mô tô hạng A1 và A2, NXB Giao thông Vận tải, Hà

Nội, 2013

[10] Nguyễn Xuân Trung, “Một số vấn đề về câu hỏi trắc nghiệm dùng cho sát

hạch lái xe”, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, Số 37(98), 2013, trang 46-48 (BBT nhận bài: 26/05/2017, hoàn tất thủ tục phản biện: 14/06/2017)

Ngày đăng: 25/11/2022, 21:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w