KHOA SƯ PHẠM NGỮ VĂN BÀI TẬP LỚN Học phần VĂN HỌC TRUNG QUỐC TÊN ĐỀ TÀI BI KỊCH CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU THUYẾT “HỒNG LÂU MỘNG” CỦA TÀO TUYẾT CẦN – CAO NGẠC CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN ĐỒ.
Trang 1BÀI TẬP LỚN
Học phần VĂN HỌC TRUNG QUỐC
TÊN ĐỀ TÀI:
BI KỊCH CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU THUYẾT “HỒNG LÂU
MỘNG” CỦA TÀO TUYẾT CẦN – CAO NGẠC
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN
ĐỒNG THÁP, THÁNG 12 NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
1.1 Tác giả Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc 04
1.2 Quá trình hình thành tác phẩm Hồng lâu mộng 05
2 Vấn đề bi kịch và bi kịch con người cá nhân trong tác phẩm văn học 06
2.2 Bi kịch con người cá nhân trong tác phẩm văn học 07
3 Bi kịch con người cá nhân trong tiểu thuyết “Hồng lâu mộng” 07
Trang 3MỞ ĐẦU
Văn học thời Minh – Thanh là giai đoạn cuối của quá trình phát triển văn học
cổ điển, đánh dấu sự chuyển mình sang khuynh hướng hiện đại của nền văn học Trung Hoa Giai đoạn này có những bộ tiểu thuyết nổi tiếng như: “Tam chí quốc diễn nghĩa”, “Thủy hử”, “Tây du kí”, “Liêu trai chí dị”, “Kim Bình Mai”, “Hồng lâu mộng”,…
“Hồng lâu mộng” là một trong bốn kiệt tác của văn học cổ điển Trung Quốc
Nó đã góp phần làm cho đời sống văn học Trung Quốc nói riêng, văn học nhân loại nói chung trở nên phong phú hơn
“Hồng lâu mộng” phê phán xã hội phong kiến Trung Hoa mục nát với những giáo điều khắc nghiệt đã ăn sâu hàng ngàn năm trong đời sống của người dân Trung Quốc Tác phẩm còn thể hiện tinh thần dân chủ, đòi tự do yêu đương, giải phóng cá tính; đòi bình đẳng và khát khao một lí tưởng sống mới
Tác phẩm “Hồng lâu mộng” đã có nhiều tác giả nghiên cứu về các vấn đề xoay quanh nhưng vấn đề bi kịch con người vẫn chưa được khai thác Nhận thấy đây
là một vấn đề đáng quan tâm nên chúng tôi quyết định chọn vấn đề “Bi kịch con
người cá nhân trong tiểu thuyết “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết Cần - Cao Ngạc” làm đề tài cho tiểu luận Do giới hạn về mặt dung lượng và thời lượng
nên đề tài này chúng tôi chỉ tập trung khai thác bi kịch con người cá nhân xoay quanh ba nhân vật: Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo Thoa
Trang 4NỘI DUNG
1.Vài nét về tác giả và tác phẩm
1.1 Tác giả Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc
Tào Tuyết Cần (1716 - 1763?) tên thật là Tào Triêm, tự là Mộng Nguyên, hiệu
là Tuyết Cần, Cần Phố, Cần Khê, quê ở Liêu Dương, tổ tiên ông vốn là người Hán sau nhập tịch Mãn Châu Ông là một nhà thơ, một nhà tiểu thuyết gia vĩ đại người Trung Quốc, tác giả của cuốn tiểu thuyết “Hồng lâu mộng” nổi tiếng Ông xuất thân trong một gia đình quan lại thuộc tầng lớp đại quý tộc thời nhà Thanh Vào thời Tào Dần - ông nội Tào Tuyết Cần, gia đình họ Tào hết sức thịnh vượng, vua Khang Hy năm lần đi kinh lý phương Nam thì đã bốn lần trú tại nhà ông Qua đó có thể thấy được cuộc sống hào hoa và mối quan hệ mật thiết giữa gia đình họ Tào với hoàng thất Không chỉ là một hào môn vọng tộc, gia đình Tào Tuyết Cần còn có truyền thống về văn chương thi phú Tào Dần là người lưu giữ sách nổi tiếng thời đó, chính Tào Dần là người đứng ra hiệu đính và in ấn bộ
“Toàn Đường Thi” nổi tiếng, ông còn là tác giả bộ “Luyện đình thi sao” và nhiều tác phẩm khác
Đến thời Ung Chính thứ 5 (1729), cha của Tào Tuyết Cần là Tào Diệu bị cách chức với tội danh hành vi bất đoan, nhũng nhiễu dịch trạm, thiếu khống, rồi bị
hạ ngục trị tội, tịch biên tài sản Tào Tuyết Cần phải theo gia đình rời Giang Nam về Bắc Kinh sinh sống Nhà họ Tào sa sút, Tào Tuyết Cần phải sống những tháng ngày cay đắng, nghèo khổ, phải sống nhờ vào việc bán tranh và sự giúp đỡ của bạn bè Sau này vì ốm đau không tiện chạy chữa, lại thêm đau khổ trước cái chết của đứa con trai duy nhất, ông mất, để lại người vợ góa bụa với cuộc sống túng quẫn và 80 hồi “Thạch đầu kí” còn dang dở Đám tang của ông chỉ có vài
ba người bạn thương tình tống táng qua quýt Đó là kết cục bi thảm của một tiểu thuyết gia thiên tài vào bậc nhất của nhân loại
Tào Tuyết Cần là người thông minh, nhạy cảm, đa tài, đa nghệ, giỏi thơ, khéo
vẽ, thích rượu, cao ngạo, phóng túng và có thái độ ngạo nghễ trước các thế lực đen tối trong xã hội Tuy lớn lên trong cảnh bần cùng, suy sụp của gia đình
Trang 5nhưng ông vẫn giữ được phẩm chất thanh cao, coi khinh những kẻ xu thời phụ thế, chán ghét con đường công danh phú quý
Cao Ngạc (1738 - 1815?) tự là Lan Thự, Vân Sĩ, biệt hiệu là Hồng lâu ngoại sĩ (người ở ngoài lầu hồng – không dính dáng đến công danh phú quý) Tổ tiên của ông ở huyện Thiết Lĩnh, tỉnh Liêu Linh Ông xuất thân từ tầng lớp quý tộc, là người Hán nhập tịch Mãn Châu như Tào Tuyết Cần
Thuở nhỏ Cao Ngạc thích đi du ngoạn cảnh đẹp quê hương Ông là người chăm học, thuộc lòng kinh sử, giỏi văn bát cổ, thi, từ, tiểu thuyết, hí khúc, hội họa Cao Ngạc muốn tiến thân lập công danh bằng con đường khoa cử Năm Càn Long thứ 53 (1788), Cao Ngạc thi Hương đỗ cử nhân Năm Càn Long thứ 60, ông thi đỗ tiến sĩ tam giáp và lần lượt làm chức Lịch quan nội các trung thư, Nội các thị độc Năm Gia Khánh thứ 6 (1801), ông đảm nhiệm việc khảo xét kì thi Hương và khảo thí quan lại Đến năm 1809, ông làm chức Giang Nam đạo Giám sát ngự sử Đến năm 1813, ông được thăng chức làm Hình khoa cấp sự trung Trong thời gian làm quan ông được xem là người tiết tháo, cẩn trọng, chính sự cần mẫn, tài năng đứng đầu, hiểu biết sâu rộng Cao Ngạc làm quan dưới hai triều Càn Long - Gia Khánh, trải qua nhiều hoạn nạn chốn quan trường, về già ông sống cuộc sống thanh bần
Ngoài 40 hồi viết tiếp “Hồng lâu mộng”, Cao Ngạc còn có nhiều tác phẩm khác: “Thanh sử cảo - Văn uyển nhị” có chép “Lan thự thi sao”, “Dương Tông
Hy trong Bát kỳ văn kinh” có chép “Cao Lan Thự tập”, đến nay đều bị thất truyền Hiện nay còn “Lan Thự thập nghệ” (bản thảo), “Lại trị tập yếu” cùng tập thơ “Nguyệt tiểu sơn phòng di cảo” và tập từ “Nghiên Hương từ - Lộc tồn thảo”
1.2 Quá trình hình thành tác phẩm “Hồng lâu mộng”
“Hồng lâu mộng” (Giấc mộng lầu son) là bộ tiểu thuyết xuất hiện vào thời Kiền Long (cuối thế kỉ XVIII) “Hồng lâu mộng” gồm 120 hồi, 80 hồi đầu do Tào Tuyết Cần viết Viết chưa xong thì ông từ trần Sau đó, Cao Ngạc viết tiếp
40 hồi sau
Trang 6Sống trong xã hội nhiều thăng trầm, gia đình lâm vào cảnh sa sút, trải qua đủ cay đắng cuộc đời đã thôi thúc Tào Tuyết Cần sáng tác “Hồng lâu mộng” Ông
đã dồn toàn bộ trí lực trong mười năm cuối đời để viết tác phẩm Qua năm lần sửa chữa thì ông đã hoàn thành được 80 hồi và dự thảo 40 hồi còn lại
Khi Tào Tuyết Cần mất tác phẩm vẫn chưa hoàn thành và không được công bố Mười lăm năm sau, bạn của ông là Cao Ngạc đã dụng tâm nghiên cứu tỉ mỉ nguyên ý và căn cứ trên nền tảng ý tưởng, văn phong của Tào Tuyết Cần mà viết tiếp 40 hồi sau Tác phẩm hoàn thành, Cao Ngạc đổi tên “Thạch đầu kí” thành
“Hồng lâu mộng” (Giấc mộng lầu hồng), vừa phù hợp với nội dung tác phẩm, vừa mang dáng dấp của tâm hồn ông vì biệt hiệu của ông là Hồng Lâu Ngoại Sĩ Giới nghiên cứu nhận định bốn mươi hồi sau của Cao Ngạc không thể sánh với
80 hồi đầu của Tào Tuyết Cần về mặt nội dung và tư tưởng nghệ thuật Nhưng
đã bảo vệ được sự nhất quán về tư tưởng tình cảm, phong thái dung mạo, ngôn ngữ, tính cách của hơn 400 nhân vật mà Tào Tuyết Cần xây dựng, hoàn thành kết cấu bi kịch của toàn bộ tác phẩm, khiến cho câu chuyện trở nên hoàn chỉnh, nhờ vậy mà “Hồng lâu mộng” nhanh chóng được lưu truyền rộng rãi
2 Vấn đề bi kịch và bi kịch con người cá nhân trong tác phẩm văn học
2.1 Khái niệm bi kịch
Từ phương diện thể loại, nói như Gulaiev: “bi kịch là một tác phẩm kịch được
xây dựng trên một xung đột, thể hiện về mặt thẩm mĩ những mâu thuẫn tồn tại trong cuộc sống giữa khát vọng chủ quan của cá nhân con người với khả năng khách quan không thể thực hiện được của nó” [5, tr.166].
Trong văn học hiện đại, khái niệm bi kịch có thể hiểu đó là trạng huống tâm lí miêu tả số phận của con người mâu thuẫn, bất mãn đến cùng cực, phải mang đau đớn, mất mát trong cuộc đời đầy biến động và phức tạp Chẳng hạn như sự mâu thuẫn giữa những yếu tố phát triển của thời đại với những yếu tố kìm hãm sự phát triển của thời đại đó; mâu thuẫn giữa những phạm trù đối lập bên trong con người, mâu thuẫn giữa con người với thực tại,
Trang 7Nhân vật trong “Hồng lâu mộng” là những con người sống có lí tưởng, mơ ước đến một cái gì đó rất thực, nó tượng trưng cho khát vọng sống nhưng rồi tận cùng của giấc mộng là tận cùng của bi kịch, họ ngỡ ngàng nhận ra mình đang xây lâu đài mơ ước trên cát, để rồi chỉ cần một đợt sóng vỗ bờ, tất cả sẽ cuốn trôi đi lí tưởng không thành ấy Những mâu thuẫn giữa những yếu tố phát triển của thời đại với những yếu tố kìm hãm sự phát triển của thời đại đã sinh ra những bi kịch cho các nhân vật trong “Hồng lâu mộng”
2.2 Bi kịch con người cá nhân trong tác phẩm văn học
Trong tác phẩm văn học, bi kịch con người cá nhân được miêu tả là tổng hoà, phức hợp của những mâu thuẫn, xung đột, những nỗi đau không thể giải quyết, điều hoà trước tác động của hiện thực.Vì vậy, việc phân tích những biểu hiện của bi kịch con người cá nhân chỉ mang tính chất tương đối
Trong văn học cận đại, khoa học đã cấp cho các nghệ sĩ cái nhìn duy lí về thế giới, về tính quy luật của cuộc sống,…Nhân vật bi kịch cô lập hoàn toàn với thần thánh, chỉ phụ thuộc vào chính bản thân mình, vào tính cách con người và những hoàn cảnh sống Nhân vật trải qua những chặng đường đấu tranh gay gắt trong nội tâm để hướng đến những mục đích sống nhưng cuối cùng nhân vật vẫn rơi vào cái chết do chưa thể chiến thắng được hoàn cảnh sống
Trong văn học hiện đại, nhân vật bi kịch được xây dựng mang những phiền não,
u sầu, tuyệt vọng, đau khổ, bất an trong thời buổi xã hội mới mà họ chưa làm chủ được Đó là bi kịch của những tư tưởng mới, những khát vọng chính đáng, phù hợp với tất yếu lịch sử nhưng vẫn chưa đủ sức chiến thắng trước cái cũ Những bi kịch này gắn với sự đau khổ, dằn vặt trong trạng thái tâm lí cá nhân song lại động chạm đến lẽ sống, tình yêu, đạo đức, sứ mệnh của con người, mang ý nghĩa xã hội rộng lớn, có ảnh hưởng tới lịch sử
3.Bi kịch con người cá nhân trong tiểu thuyết “Hồng lâu mộng”
3.1 Bi kịch tình yêu
Trang 8Tính chất căng thẳng của bi kịch tình yêu trong “Hồng lâu mộng” xoay quanh mối quan hệ tình yêu, hôn nhân của bộ ba nhân vật Giả Bảo Ngọc – Lâm Đại Ngọc – Tiết Bảo Thoa Ba hình tượng nhân vật này giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và triển khai cốt truyện
Tình yêu của Giả Bảo Ngọc – Tiết Bảo Thoa rơi vào bi kịch là do giữa Bảo Ngọc và Bảo Thoa có sự khác biệt về tư tưởng Bảo Thoa rất trung thành với lễ giáo phong kiến Chính tư tưởng phong kiến thâm căn cố đế đã trở thành cái hố ngăn cách không thể vượt qua được giữa nàng và Bảo Ngọc
Bảo Thoa cũng yêu Bảo Ngọc Nhưng tình yêu trong xã hội phong kiến bị ngăn cấm tuyệt đối nên nàng luôn né tránh Bảo Ngọc, phải tự kiềm chế, che giấu tình cảm trong lòng Nàng không bao giờ dám sống thật với tình cảm của mình
mà dùng lí trí để nhìn nhận tình yêu Bảo Thoa đã giam trái tim mình trong cái vòng lễ giáo và tự hài lòng với những khuôn phép mà mình tuân thủ
Khi thấy Bảo Ngọc và Đại Ngọc bên nhau thì nàng giả vờ như không thấy hoặc chọc ghẹo hai người Bảo Thoa chôn chặt mối tình thầm lặng của mình Chính điều này khiến chúng ta thật khó nhận ra nỗi đau khổ thực sự ẩn chứa trong lòng nàng
Điều quan trọng là thái độ căm ghét của Bảo Ngọc đối với lối sống phong kiến
“làm quan trị nước” không thể không xung đột với nàng về mặt tư tưởng Bảo Thoa hi vọng Bảo Ngọc có thể học hành, thi cử và lập thân bằng con đường khoa cử để chen chân vào chốn công danh, với Bảo Thoa người con trai được xem là hiếu thảo khi chăm chỉ học hành đỗ đạt, làm rạng danh cho dòng họ Bảo Thoa phản đối Bảo Ngọc đọc loại sách “Tạp học bàng thư” vì cô cho rằng đọc sách đó sẽ làm thay đổi tâm tính và vô dụng đối với khoa cử, cô lưu ý Bảo Ngọc đọc sách của Khổng Mạnh, dốc lòng vào chuyện kinh bang tế thế, làm quan giúp nước trị dân Nhưng Bảo Ngọc lại ghét thứ văn chương khoa cử nhất, chàng cũng không muốn đọc sách để thăng quan tiến chức, lại càng không thích chen chân vào chốn quan trường
Bảo Thoa hiểu rõ Bảo Ngọc không yêu mình nhưng nàng không dám chống lại
sự sắp đặt của bậc gia trưởng Đó cũng là nỗi khổ tâm của nàng, nàng là người
Trang 9con gái xinh đẹp, thông minh, sắc xảo nhưng cuối cùng nàng không thể quyết định được số phận của mình Cuộc hôn nhân này phù hợp với quan niệm, nguyên tắc sống của Bảo Thoa nhưng nó lại đi ngược lại với lòng tự tôn của nàng nên ở hồi 97 khi nghe Tiết phu nhân nói chuyện đã chấp nhận hôn ước thì Bảo Thoa không nói gì, sau lại lặng lẽ rơi nước mắt Trong ngày thành hôn, Bảo Ngọc không chịu nhận Bảo Thoa mà luôn mồm nhắc Đại Ngọc, Bảo Thoa chỉ
cúi đầu, không biết nói gì, “làm ngơ như không biết gì, một mình lên giường
ngủ” [2, tr.568].
Tuy sau này, dưới ngòi bút của Cao Ngạc, Bảo Ngọc dần dần chấp nhận Bảo Thoa và có được cuộc sống vợ chồng dù không thực sự là có yêu thương Nhưng không lâu sau đó, Bảo Ngọc nhất quyết ra đi, từ bỏ người thục nữ kiểu mẫu, phủ định triệt để định mệnh “Kim ngọc lương duyên” Bảo Thoa có được địa vị “mợ hai” và thân xác Bảo Ngọc nhưng không có trái tim của chàng Cuộc hôn nhân của Bảo Ngọc – Bảo Thoa chỉ nhằm mục đích chính trị nên nó không có hạnh phúc Đó chỉ là nấm mồ chôn vùi tuổi thanh xuân của Bảo Thoa trong cô đơn, lạnh lẽo của cảnh góa bụa với đứa con còn chưa chào đời
Bi kịch của Bảo Thoa là bi kịch của một con người trung thành với đạo đức phong kiến Nàng bị tư tưởng, luân lí, đạo đức phong kiến đầu độc, kéo nàng vào hố sâu bi kịch mà nàng phải chấp nhận sống với nó đến hết cuộc đời Đó
là nỗi đau, là bi kịch lớn nhất giành cho giai nhân phong kiến kiểu mẫu
Giả Bảo Ngọc – Lâm Đại Ngọc có chung tư tưởng sống nhưng họ không đến được với nhau là do có bàn tay cản trở của giai cấp phong kiến
Lúc ban đầu, Bảo Ngọc còn phân vân trước tình yêu giữa Bảo Thoa và Đại Ngọc, song dần dần chàng nhận thấy Bảo Thoa chỉ mong ngóng cái danh lợi, nên chàng đã hết lòng yêu Đại Ngọc, mong muốn lấy nàng làm vợ
Tình cảm của Bảo Ngọc dành cho Đại Ngọc là tình cảm chân thành, sâu nặng,
nó giống như sinh mệnh của chính chàng vậy Còn Đại Ngọc khi yêu duy nhất chỉ có tình yêu với Bảo Ngọc làm chỗ dựa tinh thần.Tình cảm của họ ngày càng lớn mạnh trong lòng xã hội phong kiến Mối tình của Bảo Ngọc – Đại Ngọc
Trang 10không phải là câu chuyện lửa gần rơm, cũng không phải câu chuyện “tài tử giai nhân nợ sẵn”, mà giữa họ có sự tri âm, đồng điệu trên tư tưởng về những vấn đề
có ý nghĩa của cuộc sống
Bảo Ngọc coi văn bát cổ chỉ là “cần câu cơm” thì Đại Ngọc cũng ghét cay ghét đắng nó Bảo Ngọc coi bọn quan lại là “mọt ăn lộc”, là “giặc nước” thì Đại Ngọc gọi chúng là “trai thối” Cả hai đều chán ngán đạo học, chán ngán
những kẻ đem kinh truyện nhồi nhét vào đầu rồi lếu láo cho rằng mình hiểu sâu hộc rộng Đại Ngọc và Bảo Ngọc cho rằng kho tàng Kinh học mà chế độ phong kiến tuyên truyền quá sáo rỗng Tuy nhiên cả hai đều không phê phán tất cả sách
thánh hiền Ở hồi 3, Bảo Ngọc đã nói: “Trừ Tứ Thư ra cũng còn khối chỗ bịa
đặt” [1, tr.46] Còn ở hồi 82, Đại Ngọc cũng nói “…anh muốn lập nên công danh, sự nghiệp thì học cái đó cũng có phần đáng quý đó chứ” [2, tr.336] và
ngay từ nhỏ Đại Ngọc đã đọc Tứ Thư
Mỗi khi buồn phiền vì bị ép học hành thi cử, Bảo Ngọc lại tìm đến Đại Ngọc
Ở hồi 17 – 18, sau khi bị cha thử tài học và quát mắng nửa ngày trời trong vườn Đại Quan, Bảo Ngọc vội chạy đến tìm Đại Ngọc ngay Đến hồi 33, khi Bảo Ngọc bị cha đánh thừa sống thiếu chết vì không chịu học hành tử tế mà đi gây họa thì ngay khi tỉnh táo, anh đã cho người gửi một chiếc khăn lụa cho Đại Ngọc
Ở hồi 81, Bảo Ngọc nghe lời cha vào trường học, ngay khi được về nhà anh đã vội vàng chạy đến quán Tiêu Tương Bảo Ngọc tìm đến Đại Ngọc vì tìm thấy sự đồng cảm và chia sẻ
Trong cách đối xử với bề dưới, Bảo Ngọc – Đại Ngọc cùng thương cảm, xót
xa trước số phận bi thảm của những a hoàn trong phủ Giả như Kim Xuyến, Tình Văn và căm ghét sự độc ác của Vương phu nhân, sự giả dối của Bảo Thoa và Giả Mẫu Đại Ngọc đồng tình với chuyện Bảo Ngọc tưởng nhớ, thương xót đến Kim Xuyến Đối với a hoàn Tình Văn, Đại Ngọc cũng thương cảm khôn nguôi Hồi 77, Bảo Ngọc làm văn tế hoa phù dung để khóc cho cái chết thảm thương, oan ức của Tình Văn, Đại Ngọc bất ngờ xuất hiện, nàng xem bài văn tế một cách trân trọng và còn góp ý để Bảo Ngọc sửa lại cho có phần thanh nhã hơn Điều đó