KHOA SƯ PHẠM NGỮ VĂN TIỂU LUẬN Học phần VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 2 TÊN ĐỀ TÀI NHỮNG ĐẶC SẮC TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH ẢNH THƠ CỦA CHẾ LAN VIÊN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI ĐỒNG THÁP, THÁNG 12 NĂM 2021 2 MỤC.
Trang 1TIỂU LUẬN Học phần VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 2
TÊN ĐỀ TÀI:
NHỮNG ĐẶC SẮC TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH ẢNH
THƠ CỦA CHẾ LAN VIÊN
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:
ĐỒNG THÁP, THÁNG 12 NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
1.Quan niệm về thơ và phong cách nghệ thuật trong thơ của Chế Lan
1.1 Quan niệm về thơ của Chế Lan Viên 04
1.2 Phong cách nghệ thuật trong thơ của Chế Lan Viên 04
2.Những đặc sắc nghệ thuật xây dựng hình ảnh thơ của Chế Lan Viên 06
Trang 3MỞ ĐẦU
Chế Lan Viên là một tác gia có vị trí rất quan trọng trong nền văn chương Việt Nam hiện đại Hơn nửa thế kỉ sáng tạo nghệ thuật, Chế Lan Viên đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, để lại cho đời biết bao vần thơ đặc sắc Người đọc ở nhiều thế hệ tìm đến thơ Chế Lan Viên với niềm say mê và khâm phục Sự cần mẫn, sung sức, cùng với tài hoa và tâm huyết nghệ thuật đã giúp Chế Lan Viên vươn tới đỉnh cao của thơ Việt Nam hiện đại Đọc thơ Chế Lan Viên, chúng ta như bước vào một lâu đài kì diệu và bí mật mà càng tìm tòi khám phá, chúng ta càng phát hiện thêm nhiều giá trị có ý nghĩa lớn lao về nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật trong thơ ông Ngay từ khi xuất hiện, Chế Lan Viên đã là “một niềm kinh dị” đối với người đọc và cho đến những ngày cuối đời nằm trên giường bệnh ông vẫn chạy đua với thời gian để sáng tạo
Hơn nửa thế kỉ sáng tạo thơ, Chế Lan Viên đã để lại cho thơ ca dân tộc biết bao vần thơ đặc sắc Sự tài hoa, thông minh và sắc sảo của tâm hồn thơ Chế Lan Viên đã làm cho nhiều người đọc hướng tới thơ ông với niềm say mê, khâm phục Tìm hiểu thơ Chế Lan Viên, chúng ta như được bước vào một lâu đài thơ kì diệu, bí mật, mà càng khám phá tìm tòi, càng nghiền ngẫm, chúng ta lại càng phát hiện thêm những giá trị mới ở thơ ông Nhưng có lẽ không ai không nhận thấy một đặc điểm nổi bật và bao trùm trong phong cách thơ Chế Lan Viên đó là sự sáng tạo hình ảnh Đây cũng là một trong những thành công rực rỡ nhất về nghệ thuật của thơ ông
Trang 4NỘI DUNG
1.Quan niệm về thơ và phong cách nghệ thuật trong thơ của Chế Lan Viên
1.1 Quan niệm về thơ của Chế Lan Viên
Trong lời Tựa cho tập thơ Điêu tàn, Chế Lan Viết đã viết : “Hàn Mặc Tử viết: Làm thơ tức là điên Tôi thêm : Làm thơ là làm sự phi thường Thi sĩ không phải là Người
Nó là tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu Nó thoát Hiện tại, nó xáo trộn Dĩ vãng Nó
ôm trùm Tương lai” “Với nó, cái gì nó nói đều có cả” [1] Tìm hiểu thơ Chế Lan Viên ở thời kì trước cách mạng, tuy không có cụ thể một bài thơ nào bàn riêng về thơ, nhưng chính quan niệm trên đã chi phối mạnh mẽ quá trình sáng tạo thơ của Chế Lan Viên Ông không chấp nhận đi theo những lối mòn trong sáng tạo Ông có ý thức tìm con đường độc đáo cho riêng mình Vì thế, ông đã viết nên những vần thơ “phi thường”, làm người đọc phải ngạc nhiên Có thể nói, Chế Lan Viên đã tạo cho mình một “cõi ta rộng rãi đến vô biên”, “cõi ta ngập chìm trong bóng tối” , trong nỗi “ưu phiền, đau khổ với buồn lo” để cảm nhận cuộc đời Chế Lan Viên thoát hiện tại, cầu mong đến “một tinh cầu giá lạnh”, “một vì sao trơ trọi cuối trời xa”, ông đi vào cõi siêu hình để sáng tạo và đem đến biết bao điều bất ngờ , thú vị cho người đọc Quả thật, tập thơ Điêu tàn là một minh chứng hùng hồn cho quan niệm “làm thơ là làm sự phi thường” của Chế Lan Viên
Cách mạng tháng Tám thành công và chính cuộc đời mới đã giúp cho đời và thơ của Chế Lan Viên có những thay đổi vô cùng lớn lao Ông nhận thức ngày một sâu sắc hơn
về Tổ quốc và dân tộc Bài thơ Người thay đổi đời tôi -Người thay đổi thơ tôi đã thể hiện rất xúc động niềm vui sướng, hạnh phúc đến nghẹn ngào đó của Chế Lan Viên Càng tâm huyết với nghề, Chế Lan Viên càng có quan niệm đúng đắn về nghề, về thơ Hơn ai hết, Chế Lan Viên là người có nhiều ý kiến độc đáo, sâu sắc về thơ Quan niệm
đó của Chế Lan Viên được tập hợp lại trong nhiều tập phê bình, tiểu luận Đồng thời,
nó còn được thể hiện trong rất nhiều bài thơ của ông
1.2 Phong cách nghệ thuật trong thơ của Chế Lan Viên
Chế Lan Viên là một hồn thơ đa dạng Thơ của ông là sự tập hợp, giao thoa của nhiều đối cực rất khác nhau và ở mọi phương diện, từ đề tài, cảm hứng đến chất liệu, hình ảnh, từ giọng điệu, ngôn ngữ đến thể thơ và bút pháp…
Sự đa dạng này không chỉ trải ra theo thời gian qua các chặng đường sáng tác, mà
có thể bộc lộ ở ngay từng giai đoạn, từng tập thơ, thậm chí ở ngay mỗi bài thơ Là một hồn thơ không yên ổn, luôn trăn trở và muốn tìm cho thơ mình một con đường, một diện mạo riêng biệt nhưng Chế Lan Viên cũng không bao giờ tự khép mình vào một lối đi, một ranh giới đã định mà luôn tìm tòi, trải nghiệm và bứt phá với một khát vọng
Trang 5sáng tạo không ngừng Nhưng trong sự đa dạng và luôn biến đổi ấy cũng có thể tìm thấy những nét nổi trội và tương đối ổn định tạo nên những điểm đặc trưng của phong cách nghệ thuật Chế Lan Viên
Thứ nhất là sức mạnh trí tuệ biểu hiện trong khuynh hướng thơ suy tưởng - triết lí Chế Lan Viên từng nhiều lần phát biểu quan niệm thơ của mình, trong đó ông nhấn
mạnh: “Thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh, không chỉ ơ hời mà còn đập bàn, quát
tháo, lo toan” Tư duy thơ của Chế Lan Viên có cách tiếp cận riêng với đời sống.
Không dừng lại ở cảm xúc, ở bề ngoài của sự vật hiện tượng cái nhìn nghệ thuật của
nhà thơ muốn khám phá sự vật “ở cái bề sâu, ở cái bề sau, ở cái bề xa” Trí tuệ của
nhà thơ hướng tới nắm bắt cái ý nghĩa triết lí hàm ẩn trong mỗi hiện tượng và bằng tưởng tượng, liên tưởng mà liên kết các sự vật, hiện tượng trong nhiều mối tương quan
từ đó làm nảy lên những ý nghĩa sâu sắc Cuộc sống hiện ra trong thơ Chế Lan Viên, nhà thơ không chỉ xúc cảm về nó mà còn suy nghĩ về nó Cuộc sống đi vào trong thơ
vì thế mà có thể ít đi phần nào cái cụ thể, chi tiết, sinh động, cái “non tơ” tươi tắn của
nó, nhưng lại được làm giàu thêm ở một phía khác ở sức khái quát triết lí, ở sự hư ảo biến hóa, ở sự đa diện và đa dạng của các điểm nhìn, của các quan hệ…
Thứ hai là khai thác triệt để các tương quan đối lập Tư duy thơ của Chế Lan Viên đặc biệt nhạy bén trong sự phát hiện những tương quan đối lập Nhà thơ nhìn sự vật trong mặt đối lập, đặt các hiện tượng tương phản bên nhau, làm nổi rõ bản chất và quy luật phát triển của nó, gây được hứng thú thẩm mĩ bất ngờ Khai thác các tương quan này là phương thức phổ biến để tạo ý và cấu tứ trong thơ Chế Lan Viên, nó cũng là một hình thức quan trọng để sáng tạo và liên kết các hình ảnh thơ Thường gặp trong thơ Chế Lan Viên là các mối tương quan giữa các phạm trù quá khứ và hiện tại, dân tộc và nhân loại, nội dung và hình thức, chủ đề và khách thể, còn và mất
Thứ ba là năng lực sáng tạo hình ảnh phong phú Trí tuệ sắc sảo ở Chế Lan Viên gắn liền với năng lực sáng tạo hình ảnh hết sức dồi dào và đa dạng Có thẻ nói, Chế Lan Viên cảm nhận, suy nghĩ về mọi điều bằng hình ảnh và hình ảnh lại khuê gợi, kích thích cho sự suy tưởng của nhà thơ càng vươn xa – sức mạnh của Chế Lan Viên nổi trội cả ở ý và hình
Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên được tạo lập bằng vô số hình ảnh dày đặc với nhiều dạng thức khác nhau Có hình ảnh khái niệm, có hình ảnh kì ảo, lại có hình ảnh vừa thực vừa ảo, có hình ảnh đơn lẻ nhưng nhiều hơn là những hình ảnh được kết thành chuỗi, thành chùm, theo lối liên tưởng bổ sung hoặc đối lập Năng lực sáng tạo hình ảnh ở Chế Lan Viên đã được bộc lộ ngay từ tập “Điêu tàn” Nhưng chủ yếu “Điêu tàn” thiên về những hình ảnh được tạo bằng tưởng tượng, thậm chí bằng tư tưởng để gây được ấn tượng kinh dị như những nấm mồ, sọ người, xương khô, ma hời, xương
vỡ, máu trào,…
Trang 62.Những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng hình ảnh thơ Chế Lan Viên
Hình ảnh thơ Chế Lan Viên tạo nên sức hấp dẫn đối với người đọc không chỉ ở nội dung biểu đạt, mà còn ở nghệ thuật xây dựng hình ảnh Có thể nói, trong thơ Chế Lan Viên nổi bật nhất, tạo dấu ấn đậm đà nhất đối với người đọc chính là loại hình ảnh vừa thực vừa ảo, hình ảnh so sánh, hình ảnh ẩn dụ tượng trưng, hình ảnh liên kết
2.1 Hình ảnh vừa thực vừa ảo
Hình ảnh vừa thực vừa ảo được sáng tạo nên trên cơ sở của hiện thực đời sống và trí tưởng tượng mãnh liệt, liên tưởng phong phú trước những khách thể mà nhà thơ đã tìm tòi, khám phá, thể hiện Chế Lan Viên có sự kết hợp tài hoa hai loại hình ảnh này để tạo nên hình ảnh vừa thực vừa ảo Tuy nhiên, hình ảnh thực được sử dụng ít hơn so với hình ảnh ảo Hình ảnh thực trong thơ Chế Lan Viên được sử dụng không nhiều nhưng bao giờ cũng xuất phát từ sự cảm nhận tinh tế, sắc bén của nhà thơ trước những vấn đề hiện thực đời sống Ngay ở tập thơ “Điêu tàn” bên cạnh cái thế giới hư ảo, rùng rợn, chúng ta vẫn nhận ra đó đây những hình ảnh của cuộc đời thực qua một cảnh đẹp mùa xuân:
“Vườn đầy hoa ríu rít tiếng chìm trong
Cỏ non biếc giãi mình chờ nắng rụng
Bên lau già theo gió uốn lưng cong”
(Xuân về) Sau cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên được hòa mình vào đời sống của dân tộc nên nhận thức về cuộc sống của Chế Lan Viên ngày một sâu sắc hơn và ông đã có sự đổi mới về tư duy thơ Hình ảnh thực được Chế Lan Viên lựa chọn, suy ngẫm kĩ càng trước khi đưa vào thơ Vì thế, điểm nổi bật của hình ảnh thực trong thơ Chế Lan Viên
là sự chọn lọc cao, từ đó đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn của hình ảnh thơ Chế Lan Viên đối với người đọc Ngay từ tập thơ “Gửi các anh” người đọc cũng dễ dàng nhận
thấy đặc điểm trên qua nhiều hình ảnh như : “nhành vải đỏ”, “bó lúa hương”, “bữa
cơm thường”, “cau vàng, cam đỏ trái”, “bát nước, củ gừng”, “đá chởm tai mèo”,
“mưa dài đường sên” Từ những hình ảnh có chọn lọc đầy tinh tế đó, Chế Lan Viên
đã gợi cho người đọc sự xúc động về cái đẹp gần gũi, giản dị của quê hương đất nước trong thời kì kháng chiến đầy khó khăn, gian khổ Chế Lan Viên luôn hòa mình với cuộc đời mới để cảm nhận cái vị mặn mòi của đời đang ở độ kết tinh, “lấy cơn nắng, cơn mưa làm điều suy nghĩ” để tạo nên những hình ảnh thực rất chân tình, da diết về
quê hương ở các bài: Kết nạp Đảng trên quê mẹ, Đi ra ngoại ô, Thóc mới Điện Biên,
Sông cầu, Mặt khác, Chế Lan Viên đã đem lại cho người đọc nhiều hình ảnh giàu
sức khái quát, giàu chất suy tư, triết lí về cuộc đời Điều này được biểu hiện sinh động
Trang 7ở những hình ảnh thơ trong các bài : Giữa tết trồng cây, Chim lượn trăm vòng, Tổ
quốc bao giờ đẹp thế này chăng?, Ngày vĩ đại, Thơ bổ sung, Nét nổi bật ở hình ảnh
thực trong thơ Chế Lan Viên còn được thể hiện ở sự độc đáo, mới mẻ Nhà thơ biết cách khám phá để tìm được cái mới lạ từ những gì quen thuộc của đời sống hàng ngày trong quá trình xây dựng hình ảnh thơ Từ sự suy ngẫm sâu sắc các vấn đề đời sống, Chế Lan Viên đã sáng tạo nên những hình ảnh thực rất sinh động và gợi cảm Trước cuộc sống của một thời khổ đau, đói nghèo Chế Lan Viên đã có những hình ảnh thơ xúc động:
“Ôi! gió Lào ơi! ngươi đừng thổi nữa!
Những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ
Những đồi sim không đủ quả nuôi người
Cuộc sống gian lao ít tiếng nói cười
Chỉ tiếng gió mù trời chen tiếng súng”
(Kết nạp Đảng trên quê mẹ) Khi thể hiện sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân, Chế Lan Viên đã sáng tạo những hình ảnh thơ vừa giản dị, vừa quen thuộc trong đời sống, mang ý nghĩa khái quát cao về sức mạnh và tấm lòng gắn bó son sắt của nhân dân đối với cách mạng:
“Nhớ năm ta ăn nhạt nằm bờ chịu đói
Nhân dân như Bụt hiện về cho ta hạt muối
Hạt muối đậm ân tình, dần nếm dám đâu ăn!”
(Thơ bổ sung) Bên cạnh hình ảnh thực, Chế Lan Viên còn sử dụng hình ảnh ảo Trước cách mạng tháng Tám, nhà thơ triền miên trong biển cả siêu hình, trong cõi hư vô với những nấm
mồ hoang, hình ảnh trong thơ Chế Lan Viên thời kì này chủ yếu là hình ảnh ảo: “đóm
lửa ma trơi”, “cõi chết xa xôi”, “những đêm mờ rùng rợn Nhà thơ viết nhiều về
những cảnh: “muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi”, “bầu sao rụng”, “xứ trăng
mây” Khi buồn chán thực tại Chế Lan Viên đã gửi niềm tin của mình vào thế giới
hư ảo:
“Ai kêu ta trong cùng thẳm Hư Vô?
Ai réo gọi trong muôn sao, chới với?”
(Ngủ trong sao) Sau cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên thoát khỏi “những mối đau thương”, “khối sầu vô hạn” để trở về với cuộc đời thực Trên cơ sở đó, ông đã sáng tạo nên những hình ảnh ảo Nếu hình ảnh ảo trong “Điêu tàn” tạo nên cho người đọc cảm giác về cái
“bát ngát mênh mông như Âm giới”, thì hình ảnh ảo ở những tập thơ sáng tác sau cách mạng của Chế Lan Viên lại đem đến cho người đọc một vẻ đẹp thơ mộng:
“Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắc
Trang 8Nơi bốn mùa đã hóa thành thu
Nơi đáy bể những rừng san hô vờ thức ngủ
Những rừng rong tóc xoa, lược trăng cài
Nơi những đàn mây trắng xóa cá bay đi ”
(Cành phong lan bể) Một trong những biểu hiện nổi bật nhất cho hình ảnh thơ của Chế Lan Viên là loại hình ảnh vừa thực vừa ảo Loại hình ảnh này đã tác động lớn đến tình cảm và tạo nên dấu ấn lâu bền trong nhận thức của người đọc Nếu ở “Điêu tàn” tư tưởng siêu hình của tôn giáo đã hướng Chế Lan Viên tới cõi hư vô để “xa lánh trần gian”, thì ở những tập thơ sáng tác sau cách mạng ông chiếm lĩnh thực tại với ước mơ và hi vọng Trước thực tại cuộc sống cách mạng, Chế Lan Viên yêu cuộc sống hiện tại bao nhiêu thì niềm tin về tương lai của ông càng bền chặt bấy nhiêu
Sự cảm nhận và sáng tạo thành công loại hình ảnh trên vừa tạo nên vẻ đẹp gợi cảm cho bài thơ, vừa thể hiện sinh động bức tranh nội tâm dạt dào chất lãng mạn của nhà thơ Những vấn đề của đời sống thông qua trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ đã tạo nên sự hài hòa giữa phần thực cuộc đời và phần thơ mộng, lãng mạn trong hình ảnh thơ Vì vậy, người đọc không chỉ cảm nhận được hương sắc ngào ngạt, mà còn hiểu hơn ý nghĩa cuộc đời tỏa ra từ những vần thơ của ông
2.2 Hình ảnh ẩn dụ tượng trưng
Trong thơ Chế Lan Viên, hình ảnh ẩn dụ xuất hiện rất nhiều và mang bản sắc riêng Chế Lan Viên đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ giữa ý và hình, tầm quan trọng của ý trong việc bộc lộ tư tưởng, tình cảm Chính vì vậy, sáng tạo hình ảnh ẩn dụ, nhà thơ nhằm mở rộng khả năng diễn đạt và cảm thụ ở một phạm vi rộng lớn hơn Hình ảnh
“Một cánh chim thu lạc cuối ngàn” trong bài thơ Xuân đã thể hiện được tâm trạng trĩu nặng buồn thương của nhà thơ trước thực tại cuộc sống đang “Điêu tàn” Hình ảnh
“dãy Trường Sơn bừng giấc ngủ” và “cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây” trong bài
“Người đi tìm hình của nước” mang ý nghĩa tượng trưng cho sức mạnh thần kì của dân tộc Hình ảnh đó chất chứa niềm tin và khát vọng mãnh liệt của Bác trên con đường
“đi tìm hình của nước” Cũng với cách sáng tạo đó, ở bài thơ “Tiếng hát con tàu” hình ảnh con tàu là một hình ảnh ẩn dụ được nhà thơ nhắc đi, nhắc lại nhiều lần và mỗi lần
mang một ý nghĩa khác nhau: “Khi lòng ta đã hóa những con tàu”, “con tàu này”,
“tàu đói những vành trăng”, “tàu gọi anh đi”, “tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội”
Bài thơ khép lại với những hình ảnh thơ mộng, lãng mạn:
“Lấy cả những cơn mơ
Ai bảo con tàu không mộng tưởng?
Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng?
Trang 9Lòng ta cũng như tàu ta cũng uống
Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân.”
(Tiếng hát con tàu)
Từ những hình ảnh ẩn dụ trên, người đọc cảm nhận được một niềm vui, niềm tin yêu tràn đầy trước cuộc đời rực rỡ phù sa
Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, những cảm nhận về sự mất còn của bản thân, gia đình, về sự tồn vong của dân tộc được nhà thơ thể hiện sinh động ở nhiều hình ảnh
ẩn dụ Những hình ảnh đó xoáy sâu vào nhận thức của người đọc khiến họ phải trăn trở , suy ngẫm:
“ Con ơi! Cha từng yêu trời xanh như tôn giáo của trời
Và nước biếc như ái tình của nước
Mà không yêu được nữa đâu, không yêu được nữa rồi
Bởi lắm lúc tình yêu thành tội ác
Chả lẽ trời đồng lõa với bom thù và sống với thủy lôi
Nơi rải thảm B.52, ai không thích kẽo kẹt đưa ru tiếng võng của bà
Bốc nắm đất lên ai không thích chẳng thấy mảnh bom chỉ còn hạt giống
Lửa đạn chết rồi nhãn vải ra hoa.”
(Tuyên bố của mỗi lòng người, khẩu súng, nhành hoa) Viết về cuộc sống đời thường, Chế Lan Viên dành khá nhiều vần thơ viết về người
mẹ Ông sử dụng những hình ảnh ẩn dụ để góp phần khắc họa thành công chân dung của người mẹ Việt Nam với tất cả tình cảm yêu thương, tự hào và trân trọng Có nhiều hình ảnh ẩn dụ về người mẹ đã tạo nên sự rung động mãnh liệt trong tâm hồn người đọc, toát lên tấm lòng bao la, tình thương và niềm ước mơ của người mẹ đối với con, bao giờ mẹ cũng ở bên con:
“Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ!
Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng!”
(Con cò) Trong thơ Chế Lan Viên có nhiều bài viết về hoa Nhiều loài hoa như : hoa đào, hoa mai, hoa hồng, hoa sen, hoa sứ, hoa súng tím, hoa táo , đã đi vào thơ ông thông qua những rung động tinh tế để có thêm vẻ đẹp ngọt ngào Sử dụng hình ảnh những bông sen trắng, nhà thơ đã diễn tả một nét đẹp thơ mộng, lãng mạn của Huế:
“Trắng muốt mùa sen trắng cổ thành
Ngỡ như mùa hạ Huế chờ anh
Mượn ai tà áo bay màu lụa
Bọc lấy mùa hương ấy để dành.”
(Sen Huế)
Trang 10Đặc biệt, Chế Lan Viên có khả năng sử dụng những hình ảnh ẩn dụ nối tiếp nhau Những hình ảnh đó bổ sung hỗ trợ cho nhau để cùng làm nổi bật hơn ý tưởng của nhà thơ Thể hiện khát vọng mạnh mẽ của mỗi một con người Việt Nam trong việc cống hiến sức lực và khả năng của mình để đất nước ngày một mạnh giàu, nhà thơ đã viết:
“Không ai có thể ngủ yên trong đời chật
Buổi thủy triều vẫy gọi những vầng trăng,
Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt,
Gỗ trăm cây đều muốn hóa nên trầm,
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt,
Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng ”
(Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng?)
Có thể nói, việc Chế Lan Viên sử dụng thành công hình ảnh ẩn dụ đã thực sự góp phần tạo nên sự sinh động, gợi cảm hơn cho câu thơ, bài thơ Hình ảnh ẩn dụ trong thơ Chế Lan Viên mang vẻ đẹp của các sắc thái, để từ đó mở ra những chân trời liên tưởng phong phú cho người đọc
2.3 Hình ảnh so sánh
Trước hết, hình ảnh so sánh trong thơ Chế Lan Viên mang tính chất mộc mạc giản
dị và rất gần gũi với đời sống của nhân dân, nó có khả năng tạo nên ở người đọc những liên tưởng độc đáo Xuất phát từ thực tế đời sống kháng chiến chống Pháp gian khổ và
giàu ân tình qua tập thơ “Gửi các anh” Chế Lan Viên đã sáng tạo những hình ảnh so sánh như: “Ve dài như núi”, “Mẹ thương con như sữa nồng, như nước mắt”, “Bản em
có Bác như nhà có trăng” Nhưng phải đến tập thơ “Ánh sáng và phù sa” thì những
tính chất trên của hình ảnh so sánh mới được thể hiện nổi bật:
“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.”
(Tiếng hát con tàu) Khi viết về Tổ Quốc, tính chất này của hình ảnh cũng được bộc lộ rõ nét Nếu Tố Hữu so sánh Tổ Quốc “như bà mẹ sớm chiều gánh nặng, nhẫn nại nuôi con suốt đời im lặng”, thì với Chế Lan Viên hình ảnh Tổ Quốc “như bà mẹ nghèo thì thào cùng tôi qua nước mắt” Cách so sánh của hai nhà thơ tuy khác nhau nhưng đều làm ngời sáng lên tình cảm gắn bó sâu nặng của con người Việt Nam đối với Tổ Quốc Chính tình yêu
Tổ Quốc đã giúp nhà thơ nhận thức được đất nước gắn liền với những gì thiêng liêng
mà gần gũi, thân thiết nhất trong đời sống của con người Việt Nam:
“Ôi Tổ Quốc ta, ta yêu như máu thịt