Chủ ĐỀ 1 vùng đất bến tre từ đầu tk xvii đến giữa tk xix Chủ ĐỀ 1 vùng đất bến tre từ đầu tk xvii đến giữa tk xix BÀI 1 QUÁ TRÌNH KHAI KHẨN, HÌNH THÀNH TỈNH BẾN TRE ĐẦU TK XVII ĐẾN GIỮA TK XIX Hiểu đư.
Trang 2Chủ ĐỀ 1 vùng đất bến tre từ đầu tk xvii đến
giữa tk xix
BÀI 1 QUÁ TRÌNH KHAI KHẨN, HÌNH THÀNH TỈNH BẾN TRE ĐẦU TK
XVII ĐẾN GIỮA TK XIX
Trang 3•H iểu
được nguồ
n gố
c c
ư dân Bến
Tre ủa ngư ư c h c phá, địn khai ình uá tr •Q
ời Việ
t ở vùng
•H iểu
được quá
tr ình hình
thành
về mặt
hành chính Tr Bến dân cư của thần nh t, t chấ vật sống •Đời e
MỤC TIÊU BÀI HỌC
Trang 4I-NGUỒN GỐC DÂN CƯ BẾN TRE
II-QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ VÀ ĐỊNH CƯ CỦA NGƯỜI VIỆT TRÊN VÙNG ĐẤT BẾN TRE
III-ĐỜI SỐNG CỦA CƯ DÂN BẾN TRE
Trang 5NGUỒN GỐC DÂN CƯ BẾN TRE I
Trang 6BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH BẾN TRE
Bình Đại
Ba Tri
Thạnh Phú
Giồng Trôm
Mỏ Cày Nam
Bến Tre
Mỏ Cày Bắc
Châu Thành Chợ
Lách
- Diện tích: 2.360 km2, được
hình thành từ cù lao An Hoá,
cù lao Bảo, cù lao Minh, và do
phù sa của 4 nhánh sông Cửu
Long bồi tụ mà thành (gồm
sông Tiền dài 83 km, sông Ba
Lai 59 km, sông Hàm Luông
71 km, sông Cổ Chiên 82
km).
Trang 7-Bắc giáp Mỹ Tho
-Nam giáp Trà Vinh
-Tây giáp Vĩnh Long
-Đông giáp biển Nam Hải
Trang 8“Tại vùng đất phía Nam, trong đó có Bến Tre, vẫn còn hoang vu…Những cửa sông rộng lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những
gố cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú sum suê Khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu Vào nửa đường trên cửa sông, người ta mới thấy những cánh đồng hoang không có gốc cây nào Xa nửa tầm mắt chỉ thấy toàn cỏ cây đầy rẫy Hàng trăm hàng nghìn trâu rừng tụ họp từng
bầy Tiếp đó nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm
Tình trạng hoang dã của vùng này vẫn còn kéo dài cho đến thế kỉ XVII”
Theo “Địa Chí Bến Tre-Thạch Phương- Đoàn Tứ”
Vào lúc mới hình thành, vùng đất Bến Tre được mô tả như
thế nào?
Trang 9NGUỒN GỐC DÂN CƯ BẾN TRE I
NỘI DUNG GHI BÀI:
- Mãi đến thế kỷ XVII, Bến Tre vẫn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá.
Trang 11NỘI DUNG GHI BÀI:
- Mãi đến thế kỷ XVII, Bến Tre vẫn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá.
- Khắp nơi đều là rừng rậm, đầm lầy
Trang 12“Từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu
trở vào toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm”
Trích “Phủ Biên Tạp Lục – Lê Quý Đôn”
Trang 13-Nhiều đợt cư dân khắp nơi chuyển đến liên tục trong
suốt thế kỷ XVII – XVIII đã làm nơi đây thay đổi.
NỘI DUNG GHI BÀI:
-Đầu thế kỉ XVIII, những lưu dân người Việt từ
miền Bắc và miền Trung vào khai phá và sinh sống.
Trang 14Đầu thế kỉ XVII, Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu, tổ chức nhiều đợt di cư của người Việt từ miền ngoài vào khai khẩn vùng đất Nam Bộ Lúc này dân số đã lên 4 vạn hộ, tương đương 200.000 dân
Năm 1679, Chúa Nguyễn Phúc Tần cho 3.000 binh lính người Hoa không chịu thuần phục nhà Thanh vào cư trú và khai khẩn vùng đất phía Nam Một nhóm đến vùng sông Tiền, họ tập trung tại Mỹ Tho rồi khai khẩn dần
qua phía tỉnh Bến Tre
Trang 15NỘI DUNG GHI BÀI:
- Ngoài ra còn một số thành phần khác như: binh lính, người trốn lính, tù nhân bị lưu đài, người có tội với triều đình… - Người di dân đến Bến Tre bằng 2 cách : đường
biển và đường bộ, nhưng đa số là đường biển.
Theo em, người Việt di dân đến Bến Tre bằng
cách nào?
Trang 17QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ VÀ ĐỊNH
CƯ CỦA NGƯỜI VIỆT TRÊN
VÙNG ĐẤT BẾN TRE
II
Trang 18QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ, ĐỊNH CƯ CỦA NGƯỜI VIỆT TRÊN VÙNG ĐẤT BẾN TRE
II
Theo em, cư dân đến Bến Tre đầu tiên họ chọn ở vùng địa hình nào? Ở ven khu vực
nào?
Họ thường chọn những giồng đất cao ráo để sinh sống, chủ yếu ở khu vực ven biển
Trang 19Các vùng đất được khai phá sớm nhất?
Cù lao Minh
Sông Hàm Luông
Ba Tri
Mỏ Cày Bắc
Mỏ Cày Nam Cái
Nhum
Trang 20-Vùng đất Ba Tri được khai phá sớm nhất, dân đông lập thôn, lập làng.
NỘI DUNG GHI BÀI:
-Cây trồng: ruộng lúa, vườn dừa, cây ăn trái…
Trang 21Đến giữa thế kỉ XIX, Bến Tre đã có 110.000 dân sinh sống, với
khoảng 44.200 ha đất trồng trọt, chủ yếu là lúa, dừa, cây ăn trái
Chỉ trong 2 thế kỉ, những vùng đất hoang vu đầy dã thú, các cù lao ở cuối song Tiền, sông Ba Lai, song Hàm Luông, Cổ Chiên đã trở thành những cánh đồng bao la, những vườn dừa bạt ngàn, những vườn cây ăn trái tươi tốt
Trang 23NỘI DUNG GHI BÀI:
-Bến Tre không có rừng cây lớn, nhưng lại phủ một màu xanh dịu mát của dãy rừng ngập mặn ven biển và ở các cửa sông
-Nhìn chung địa hình bằng phẳng, rải rác có những cồn cát
xen kẽ với ruộng vườn, bốn bề sông nước bao bọc
Trang 24Bến Tre đã có từ thời nhà Nguyễn và trở thành trung tâm hành chính kể từ khi Pháp đặt dinh tham biện (inspection) đầu tiên bên bờ rạch Bến Tre - viên tham biện đầu tiên là De Champeaux.
Năm 1871, sở tham biện Bến Tre là một trong số 7 sở tham biện bị bãi bỏ để sáp nhập với
sở tham biện Mỏ Cày (đầu tiên là tham biện Sylvestre) Ngày 2 tháng 9 năm 1871, sở
tham biện Mỏ Cày dời lỵ sở về chỗ cũ bên rạch Bến Tre
Ngày 1 tháng 1 năm 1900, Pháp bỏ sở tham biện để thành lập tỉnh Bến Tre
Trang 27Chợ Trúc Giang trước năm 1975.
Trang 28NỘI DUNG GHI BÀI:
-Từ năm 1957, vùng đất Bến Tre không còn thuộc Thủy Chân Lạp nữa mà
được sáp nhập vào bản đồ nươc Nam, vùng đất Bến Tre được gọi là Tổng Tân
An thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ, phủ Gia Định
-Năm 1867 thực dân Pháp thành lập hạt Bến Tre (Sở Tham Biện )
-Ngày 1/1/1900, toàn quyền Đông Dương Paul Dumer đổi thành tỉnh Bến
Tre
Trang 29ĐỜI SỐNG CỦA CƯ DÂN BẾN TRE TRÊN VÙNG ĐẤT MỚI
III
Trang 30Đời sống vật
chất Đời sống tnh
thần
Trang 31Đời sống vật chất
- Nhà ở cất dọc bờ sông, rạch, trục đường bộ.
- Hoạt động sản xuất gắn liền với nghề nông và đánh bắt thủy sản
Trang 32Đời sống vật chất
+ Trồng lúa: phụ thuộc vào nguồn nước ngọt trong vùng
+ Làm vườn: phát triển nhanh, mang đến nguồn lợi cao, trồng nhiều loại cây ăn trái, đặc biệt là dừa chiếm tỉ lệ cao
+ Đánh bắt thủy sản: được xem là nghề phụ bên cạnh nghề trồng
trọt, cung cấp nguồn thức ăn quanh năm cho cư dân
Trang 34Đời sống tnh thần
- Đời sống tinh thần phong phú
- Kho tàng văn hóa dân gian đa dạng: truyền thuyết, truyện cười, truyện trạng, tục ngữ…
Trang 36Đời sống tinh thần phong phú, đa dạng