1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Văn mẫu lớp 12: Phân tích đoạn mở đầu Tuyên ngôn độc lập (Dàn ý + 12 Mẫu)

23 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích đoạn mở đầu trong bản Tuyên ngôn độc lập
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Giáo án môn Văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 121 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích đoạn mở đầu Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh tuyển chọn dàn ý và 12 bài văn mẫu siêu hay được đánh giá cao. TOP 12 mẫu phân tích đoạn mở đầu Tuyên ngôn độc lập sẽ là nguồn tài liệu bổ ích, giúp các em lớp 12 tự học, tự ôn luyện nhằm vươn lên học khá, giỏi môn Ngữ văn. Từ đó biết cách vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học để phân tích tác phẩm hay. Đoạn mở đầu Tuyên ngôn Độc lập của Bác chứa đựng một tư tưởng lớn có ý nghĩa quan trọng đối với nền độc lập của dân tộc Việt Nam. Nhờ những lí lẽ sâu sắc, thuyết phục và sắc bén, văn kiện này đã mở ra một trang lịch sử chói lọi của chính dân tộc Việt Nam. Để hiểu rõ hơn về nội dung đoạn mở đầu, mời các bạn cùng đón đọc 12 bài văn mẫu dưới đây

Trang 1

Dàn ý phân tích đoạn đầu bản Tuyên ngôn độc lập

a Giá trị nội dung của phần mở đầu bản tuyên ngôn

- Phần mở đầu nêu nguyên lí chung của bản tuyên ngôn

- Tác giả đã trích dẫn hai bản Tuyên ngôn: Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791 nhằm:

● Khẳng định các quyền lợi cơ bản của con người: Quyền sống, quyền bình đẳng

và quyền mưu cầu hạnh phúc

● Nhắc nhở những hành động của bọn đế quốc, thực dân đang đi ngược lại và làm trái với những điều mà đất nước họ từng dõng dạc tuyên bố

- Từ việc trích dẫn về quyền con người để làm dẫn chứng, tác giả đã nâng tầm và mở rộng thành quyền dân tộc

b Giá trị nghệ thuật của phần mở đầu bản tuyên ngôn

- Tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho các phần còn lại

- Dẫn chứng xác thực góp phần củng cố lí lẽ, luận điểm đanh thép của tác phẩm

- Lập luận chặt chẽ và giàu sức thuyết phục, vừa khôn khéo vừa kiên quyết

3 Kết bài

- Đánh giá vai trò của phần mở đầu đối với tác phẩm "Tuyên ngôn độc lập"

Trang 2

Dàn ý chi tiết số 2

I Mở bài

- Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm, đoạn trích Tuyên ngôn độc lập

II Thân bài

* Phân tích đoạn trích mở đầu Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh)

- Nội dung: Đoạn trích đã khẳng định những quyền thiêng liêng cao cả của con người không ai có thể xâm phạm Mọi người, mọi dân tộc trên thế giới đều bình đẳng, có quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do

● Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn từ hai bản tuyên ngôn của người Pháp và người Mĩ

● Dùng phép suy luận tương đồng, sau khi trích Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, Người còn “Suy rộng ra cau ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh

ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền

● Lập luận sắc sảo, linh hoạt, sáng tạo: lời suy rộng ra của Người mang tư tưởng lớn của nhà cách mạng Người đã phát triển quyền lợi của con người lên

Trang 3

(thành) quyền tự quyết, quyền bình đẳng của các dân tộc trên thế giới Đây là một đóng góp riêng của tác giả và cũng là của dân tộc ta vào một trong những trào lưu tự tưởng cao đẹp vừa mang tầm vóc quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại trong thế kỉ XX.

* Liên hệ phần mở đầu của Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) để nhận xét về cách xác lập chân lí về quyền độc lập dân tộc của mỗi tác giả

- Phần đầu Bình Ngô đại cáo: Nêu luận đề chính nghĩa

● Nguyễn Trãi chắt lọc lấy hạt nhân cơ bản của tư tưởng nhân nghĩa và đem đến nội dung mới: nhân nghĩa là yên dân trừ bạo

● Chân lí về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt: Cương vực lãnh thổ, nền văn hiến, phong tục, lịch sử riêng, chế độ riêng, hào kiệt

● Giọng điệu: trang trọng, hào hùng mang tính chất của một lời tuyên ngôn

- Nhận xét về cách xác lập chân lí về quyền độc lập dân tộc của mỗi tác giả

● Giống nhau: Cả hai tác phẩm đều mang giá trị văn học - nhân văn sâu sắc Cả hai đoạn trích đều xác lập cơ sở pháp lý cho mỗi tuyên ngôn

● Khác nhau: Mỗi tác giả đều sáng tạo với vẻ đẹp độc đáo riêng Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi dựa trên lập trường "Nhân nghĩa" của dân tộc Việt Nam (yên dân, trừ bạo) còn Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh đứng trên lập trường quyền bình đẳng, quyền độc lập, tự do của các dân tộc Bình Ngô đại cáo có phạm vi nội bộ trong nước Đại Việt còn Tuyên ngôn độc lập ngoài việc tuyên bố trước toàn thể dân tộc Việt Nam, Tuyên ngôn độc lập kế thừa và đưa lên tầm cao mới tư tưởng độc lập dân tộc Tác phẩm của Nguyễn Trãi theo thể cáo khi văn sử bất phần còn tác phẩm của Hồ Chí Minh theo thể tuyên ngôn

- Lí giải (khuyến khích HS)

● Giống: bởi vì cả hai tác giả đều là những danh nhân lớn của Việt Nam, tiếp thu tinh hoa dân tộc từ bao đời, có lòng yêu nước, yêu nhân dân

Trang 4

● Khác: bởi vì hoàn cảnh sống giữa hai tác giả khác nhau, vốn sống, vốn hiểu biết và tài năng nghệ thuật cũng khác nhau, đặc biệt là ngoài tinh hoa của dân tộc, Hồ Chủ tịch còn tiếp thu cả tinh hoa văn hoá thế giới một cách có chọn lọc

II Thân bài

A Đoạn mở đầu vừa khéo léo vừa kiên quyết

1 Nhiệm vụ của đoạn mở đầu một bản Tuyên ngôn là nêu nguyên lí làm cơ sở tư tưởng cho toàn bài Nguyên lí của Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định quyền tự do, độclập của dân tộc Nhưng ở đây Bác không nêu trực tiếp nguyên lí ấy mà lại dựa vào haibản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1778 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791 để khẳng định “quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” của tất cả các dân tộc trên thế giới Đây chính là nghệ thuật lấy “gậy ông đập lưng ông”

2 Bác đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta bằng chính những lời lẽ của

tổ tiên người Mĩ, người Pháp ghi trong hai bản Tuyên ngôn từng làm vẻ vang cho truyền thống tư tưởng và văn hóa của những dân tộc ấy Cách viết như thế là vừa khéoléo vừa kiên quyết

3 “Khéo léo” vì tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người

Mĩ để “khóa miệng” bọn đế quốc Pháp, Mĩ đang âm mưu xâm lược và can thiệp vào nước ta (sự thực lịch sử đã chứng tỏ điều này)

Trang 5

4 “Kiên quyết” vì nhắc nhở họ đừng có phản bội tổ tiên mình, đừng có làm vấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mĩ, nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam.

B Đoạn mở đầu chứa nhiều hàm ý sâu sắc

1 Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam mà nhắc đến hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử của hai nước lớn như thế, thì cũng có nghĩa là đặt ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau, ba nền độc lập ngang bằng nhau, ba bản Tuyên ngôn ngang bằng nhau và sự thực, Cách mạng tháng Tám 1945 của ta đã giải quyết đúng nhiệm vụcủa hai cuộc cách mạng của Mĩ (1778) và của Pháp (1789)

2 Sau khi nhắc đến những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ, Bác viết:

“Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra và bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Ý kiến

“suy rộng ra” ấy là một đóng góp đầy ý nghĩa của Bác đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới Nó như phát súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau thế kỉ XX (lịch sử cũng đã chứng tỏ điều này)

III Kết bài.

Đoạn mở đầu Tuyên ngôn Độc lập của Bác chứa đựng một tư tưởng lớn với nhiều ý nghĩa sâu sắc, lại được viết bằng một nghệ thuật cao tay, mang sức thuyết phục mạnh

mẽ Đó là một đoạn mở đầu mẫu mực trong một bản Tuyên ngôn bất hủ

Cảm nhận đoạn mở đầu Tuyên ngôn độc lập - Mẫu 1

Bác Hồ chính là vị lãnh tụ vĩ đại, người Cha già dân tộc của toàn thể nhân dân Việt Nam Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã dành trọn công sức cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc Người khôngchỉ đem đến tình thương cho nhân dân mà cũng là danh nhân văn hóa, lịch sử, nhà văn, nhà thơ lỗi lạc của nước nhà Tuyên ngôn độc lập được Người đọc tại quảng trường Ba Đình vào ngày 2/9/1945 chính là sự kiện lịch sử quan trọng bậc nhất của Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi của việc trở thành một quốc gia độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trên thế giới Có ý kiến cho rằng "Tuyên ngôn độc lập

Trang 6

của chủ tịch Hồ Chí Minh vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàng chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc" Em hoàn toàn đồng ý với quan điểm này, đặc biệt là ở đoạn văn mở đầu của văn kiện.

Bằng tiếng gọi thân thương "hỡi đồng bào cả nước", Bác Hồ đã mở đầu văn kiện của mình bằng những lời lẽ về quyền được mưu cầu hạnh phúc và hòa bình của con người.Đây là một sự mở đầu sáng suốt, khéo léo của Bác Tiếp theo, Bác đã đưa ra những trích dẫn về quyền bình đẳng và tự do của hai nước là Mỹ và Pháp Đây chính là hai quốc gia đã để lại sự xâm lăng và đau khổ trên đất nước ta Nhờ vậy, Bác đã dùng chính những lời lẽ của hai quốc gia này về quyền bình đẳng, tự do, hạnh phúc của con người để mà ngầm lên án hành động đi ngược lại lời nói của hai quốc gia này: xâm lăng, đô hộ Việt Nam Ý nghĩa thâm thúy ở đây đó là việc Bác đã tố cáo ngược lại những kẻ đã xâm lăng Việt Nam mà lại có những lời lẽ về quyền bình đẳng, tự do và hạnh phúc Nhờ sự trích dẫn như vậy mà lời nói, lí lẽ của Bác không chỉ đủ sức nặng của một văn bản chính luận quan trọng mà nhân dân vẫn có thể hiểu được Nhờ đó, văn bản đã thực sự đạt được mục đích của một văn kiện lịch sử quan trọng bậc nhất đối với dân tộc Việt Nam

Tóm lại, đoạn đầu của Tuyên Ngôn độc lập có ý nghĩa quan trọng đối với nền độc lập của dân tộc Việt Nam Nhờ những lí lẽ sâu sắc, thuyết phục và sắc bén, văn kiện này

đã mở ra một trang lịch sử chói lọi của chính dân tộc Việt Nam

Phân tích đoạn mở đầu Tuyên ngôn độc lập - Mẫu 2

Xuyên suốt nền văn học Việt Nam, có những văn kiện ra đời nhằm phục vụ mục đích chính trị, quân sự, nhưng đồng thời cũng trở thành những tác phẩm văn học mẫu mực xứng tầm kiệt tác "Tuyên ngôn độc lập" ra đời vào năm 1945 là một trong những tác phẩm thể hiện rõ điều này Bằng ngòi bút sắc bén, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiến tạo nên một áng văn chính luận mẫu mực Điều này đã được thể hiện rõ ngay từ phần mở đầu của tác phẩm

Trong phần đầu tiên của tác phẩm, tác giả đã nêu lên nguyên lí chung của bản tuyên ngôn thông qua việc trích dẫn hai bản Tuyên ngôn: Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm

1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791 với nội dung

Trang 7

chính là khẳng định các quyền lợi cơ bản của con người Đó là quyền sống, quyền bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc", "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi" Hai bản tuyên ngôn mà Người trích dẫn không chỉ đóng vai trò là dẫn chứng của áng văn chính luận mà còn thể hiện rõ dụng ý nghệ thuật đầy sâu sắc Đặt vào hoàn cảnh lịch sử cấp bách của nước ta thời bấy giờ, khi mà nền độc lập vừa giành được sau cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đang bị đe dọa bởi các thếlực đế quốc thực dân: quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc, đằng sau là đế quốc Mĩ tiến vào từ phía Bắc và quân đội Anh, sau lưng là quân viễn chinh của Pháp tiến vào

từ miền Nam với âm mưu xâm chiếm lại nước ta một lần nữa Như vậy, trước hành động của đối phương, tác giả đã khéo léo trích dẫn hai bản tuyên ngôn để tạo nên chiến thuật "Gậy ông đập lưng ông" ngay trên trang giấy nhằm nhắc nhở những hành động của bọn đế quốc, thực dân đang đi ngược lại và làm trái với những điều mà đất nước họ từng dõng dạc tuyên bố Đồng thời, điều này còn thể hiện rõ tác giả đang ngầm đặt cuộc cách mạng của nước ta ngang hàng với hai cuộc cách mạng của Pháp

và Mĩ

Điều đặc biệt của bản tuyên ngôn là từ việc trích dẫn về quyền con người để làm dẫn chứng, tác giả đã nâng tầm và mở rộng thành quyền dân tộc, tạo nên một lí lẽ hết sức thuyết phục và sắc bén Suy luận này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước thuộc địa và thường xuyên phải đấu tranh chống lại gót giày xâm lược như nước ta, bởi con người chỉ được hưởng tự do, bình đẳng khi dân tộc giành được độc lập Mối quan hệ giữa quốc gia dân tộc và con người đã được tác giả khẳng định thông qua một

tư tưởng độc đáo và mang tính nhân văn vô cùng sâu sắc

Với nội dung là nêu nguyên lí chung, phần mở đầu của tác phẩm đã thể hiện rõ tài năng của tác giả trên địa hạt văn chương Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn đã tạo nênmột dẫn chứng xác thực góp phần củng cố lí lẽ, luận điểm đanh thép của tác phẩm.Tất

cả đã tạo nên một lập luận chặt chẽ và giàu sức thuyết phục, vừa khôn khéo vừa kiên quyết để tạo nên nền tảng pháp lí vững vàng để tác giả tố cáo tội ác của bọn thực dân

Trang 8

Như vậy, thông qua nguyên lí chung được thể hiện ở phần mở đầu, chúng ta có thể thấy được tài năng của tác giả Hồ Chí Minh khi tạo lập một văn kiện chính trị - lịch

sử, một áng văn chính luận mẫu mực Thông qua việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ, phần mở đầu đã trở thành một nền tảng vững chắc cho những luận điểm mà tác giả triển khai ở những phần còn lại, đồng thời khẳng định giá trị tư tưởng

và giá trị nghệ thuật của bản "Tuyên ngôn độc lập" bất hủ

Phân tích đoạn mở đầu Tuyên ngôn độc lập - Mẫu 3

Bản “Tuyên ngôn Độc lập” ngày 2 tháng 9 năm 1945 là một văn kiện có giá trị và ý nghĩa lịch sử to lớn: Tuyên bố thủ tiêu chế độ thực dân và phong kiến trên đất nước ta,khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỉ nguyên mới độc lập, tự do của dân tộc

Bản “Tuyên ngôn Độc lập” do Hồ Chí Minh soạn thảo, trong đoạn văn mở đầu có giá trị nổi bật về tư tưởng và nghệ thuật lập luận, tiêu biểu cho phong cách chính luận của Người

Về nội dung tư tưởng, Hồ Chí Minh đã chỉ ra và khẳng định: quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền được tự do, quyền mưu: cầu hạnh phúc là những quyền thiêng liêng của con người “không ai có thể xâm phạm được” Nhân quyền là cao cả thiêng liêng, bởi lẽ “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do

và bình đẳng về quyền lợi”

Nội dung tư tưởng của đoạn văn mở đầu bản “Tuyên ngôn Độc lập” càng trở nên sâu sắc vì từ những quyền thiêng liêng của con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng lên quyền của các dân tộc: “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Tư tưởng vĩ đại ấy không chỉ thể hiện khát vọng về độc lập tự do của nhân dân ta mà còn phản ánh khát vọng của các dân tộc nhược tiểu, phản ánh xu thế giải phóng dân tộc sau Thế chiến thứ hai Đó là “cống hiến nổi tiếng của Cụ Hồ Chí Minh” (Giáo sư Singô Sibata - Nhật Bản)

Trang 9

Nghệ thuật lập luận trong đoạn mở đầu cũng rất đặc sắc “Tuyên ngôn Độc lập” có kếtcấu ba phần rất chặt chẽ: định đề - phản đề - tuyên bố.

Ở phần định đề, Hồ Chí Minh trích dẫn hai đoạn văn tiêu biểu nhất nói về: nhân quyền

và dân quyền trong bản “Tuyên ngôn Độc lập” năm 1776 của nước Mỹ và bản “Tuyênngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp” năm 1791 Mỹ và Pháp là hai quốc gia vĩ đại; nhân quyền và dân quyền là tư tưởng vĩ đại, là khát vọng của con người, là chân lý có ý nghĩa phổ quát, không ai có thể chối cãi được Cách trích dẫn của Bác rất chuẩn mực theo thứ tự thời gian (1776 - 1791), trên hai châu lục khác nhau (châu Mĩ, châu Âu), hai quốc gia khác nhau (nước Mỹ, nước Pháp), nhưng lại tương đồng về tư tưởng nhân quyền và dân quyền Từ quyền thiêng liêng của con người, Hồ Chí Minh “suy rộng ra” nói đến quyền tự quyết của các dân tộc Từ trích dẫn đi đến khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” Cách lập luận

ấy rất chặt chẽ, đanh thép, giàu sức thuyết phục

Nghệ thuật trích dẫn của Hồ Chí Minh đã chỉ ra khát vọng về độc lập tự do của nhân dân ta, ca ngợi tầm vóc vĩ đại của cuộc Cách mạng tháng Tám Người vừa tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các dân tộc trên thế giới, đồng thời ngầm cảnh báo những âm mưu đen tối của thực dân Pháp và bọn đế quốc rằng, chúng xâm lược nước

ta là chính chúng đã chà đạp lên nhân quyền và quyền tự quyết của các dân tộc

Cách mở bài rất đặc sắc, vì từ định đê mà chuyển sang phần phản đề, Hồ Chí Minh đã vạch trần bộ mặt xảo quyệt thâm độc của thực dân Pháp “lợi dụng lá cờ tự do bình đẳng, bác ái đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta” trong suốt tám mươi năm trời, gây ra bao tội ác ghê tởm về chính trị, về kinh tế Cách lập luận như thế rất chặt chẽ

và hùng hồn

Qua phần mở đầu “Tuyên ngôn Độc lập”, ta còn thấy văn phong đặc sắc của Hồ Chí Minh: ngắn gọn, súc tích, thấm thía, rung động lòng người, “Tuyên ngôn Độc lập” là

“lời Non Nước” cao cả và thiêng liêng

Phân tích đoạn mở đầu Tuyên ngôn độc lập - Mẫu 4

Trang 10

“Tuyên ngôn Độc lập” là văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: là lời tuyên bố xóa bỏ chế

độ thực dân, phong kiến, là sự khẳng định quyền tự chủ và bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới, là mốc son chói lọi đánh dấu sự kiện nước ta bước vào một kỉ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập, tự do Đoạn mở đầu tác phẩm đã thể hiện rõ giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật lập luận của Hồ Chí Minh

“Hỡi đồng bào cả nước” là câu nói mở đầu bản tuyên ngôn Nó có sức mạnh hiệu triệu, lay động hàng triệu trái tim đồng bào, là đối tượng hướng đến của chủ tịch Hồ Chí Minh Đối tượng tiếp nhận của bản tuyên ngôn này bao gồm đồng bào cả nước, nhân loại tiến bộ trên thế giới, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đang lăm le quay lại xâmlược nước ta

Vì vậy, Người đã trích dẫn hai bản “Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ” năm 1776: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền được tự do vàquyền mưu cầu hạnh phúc” và bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của Pháp(1791): “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự

do và bình đẳng về quyền lợi” làm dẫn chứng xác thực

Việc làm đó đã tạo nên tiền đề, cơ sở pháp lý cho bản tuyên ngôn Người đã thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc Người đã đặt cuộc cách mạng Việt Nam ngang hàng với cuộc cách mạng của Pháp và Mỹ Hồ Chí Minh đã sử dụng thủ pháp “gậy ông đập lưng ông”, lấy hành động của con cháu Pháp, Mĩ chà đạp lên lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái đi xâm lược Việt Nam

Nghệ thuật lập luận trong đoạn mở đầu cũng rất đặc sắc Hồ Chí Minh đã dùng những

lí lẽ sắc sảo, đanh thép, hùng hồn Văn phong của Người thể hiện trí tuệ uyên bác, hiện đại Bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh đi trước thời đại về vấn đề nhân quyền và dân quyền Từ những lí lẽ đầy đủ, cụ thể, Người đã đưa ra một lý lẽ đanh thép: “Đó là những lẽ phải không thể chối cãi được”

Trang 11

Qua phần mở đầu “Tuyên ngôn Độc lập”, ta còn thấy văn phong của Hồ Chí Minh rất đặc sắc, ngắn gọn và súc tích Đoạn mở đầu ấy đã làm nổi bật giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật lập luận của Hồ Chí Minh

Phân tích đoạn mở đầu Tuyên ngôn độc lập - Mẫu 5

“Nắng Ba Đình mùa thu Thắm vàng trên Lăng Bác Vẫn trong vắt bầu trời Ngày Tuyên ngôn Độc lập.”

Mỗi lần đọc bài thơ “Nắng Ba Đình”, lòng tôi lại nao nao xúc động nhớ những thước phim tài liệu về ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm 1945 - ngày đánh dấu một sự kiện lớn trong lịch sử của dân tộc ta Tôi chợt bắt gặp một vầng trán cao rộng, một ánhmắt nheo cười, Bác Hồ đang bước lên lễ đài cùng với giọng nói ấm áp, thân mật: “Hỡiđồng bào cả nước!”

“Tuyên ngôn Độc lập” mở đầu bằng những câu văn hết sức giản dị, mộc mạc như vậy

mà vẫn chứa chan tình cảm yêu thương, vẫn gợi không khí thật thiêng liêng Hai tiếng

“đồng bào” thật gần gũi, thân mật, vừa chứa chan tình yêu thương ruột thịt, vừa khơi dậy niềm tự hào, khơi dậy cội nguồn linh thiêng của dân tộc: Con Rồng, cháu Tiên Trên thế giới này, có lẽ chỉ riêng dân tộc ta là cùng sinh ra từ bọc trăm trứng của mẹ

Âu Cơ

Có thể nói, vấn đề cơ bản và quan trọng nhất trong phần mở đầu của “Tuyên ngôn Độc lập” chính là xác lập cơ sở pháp lý Cơ sở pháp lý ban đầu của Tuyên ngôn Độc lập, đó là những quyền không ai có thể chối cãi được Những lời ấy được ghi trong bản Tuyên ngôn Độc lập ở Mĩ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp Đó là quyền được sống, quyền tự do, quyền bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc Lấy những lời bất hủ được ghi rành rành trong hai bản “Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ” và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp” đã được cả thế giới công

Ngày đăng: 25/11/2022, 16:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w