TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI KHOA MÔI TRƯỜNG BÀI TẬP NHÓM Đề tài bài tập nhóm Tìm hiểu về dầu khí Việt Nam Nhóm 5 Lớp ĐH8M2 Tên học phần Năng lượng và môi trường Giảng viên hướng dẫn.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
Tên học phần:Năng lượng và môi trường
Giảng viên hướng dẫn: Phạm Thị Mai Thảo
Hà Nội, 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
Tên học phần:Năng lượng và môi trường
Giảng viên hướng dẫn: Phạm Thị Mai Thảo
Hà Nội, 2022
Trang 3Mục Lục
Trang 4Danh mục hình
Trang 5Danh mục bảng
Trang 6Danh mục từ viết tắt
LNG Liquefied Natural Gas Khí tự nhiên hóa lỏng
UNEP United Nations
Environment Programme Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc
SOPEP Shipboard Oil Pollution
Emergency Plan
Kế hoạch khẩn cấp về ô nhiễm dầu trên tàu
VOCs Volatile organic
compounds
Các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi
Trang 7Đặt vấn đề
Dầu khí là nguồn tài nguyên vô cùng quý gía đối với bất kỳ quốc gia nào trênthế giới Nó là nguồn cung cấp năng lượng vô cùng quan trọng phục vụ cho các hoạtđộng kinh tế trong nền kinh tế quốc dân Đối với những quốc gia có nguồn dầu khí thìviệc phát triển ngành công nghiệp dầu khí là một yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với
sự phát triển kinh tế chung của đất nước Việt Nam là một trong những nước may mắnđược thiên nhiên ưu đãi về nguồn tài nguyên này Những thành tựu mà các hoạt độngkhu thác xuất khẩu dầu khi mang lại cho nền kinh tế nước ta ngày một to lớn và có ýnghĩa hết sức quan trọng Hiện nay, các hoạt động của ngành dầu khí Việt Nam baogồm tìm kiếm, thăm dò dầu khí; khai thác dầu khí; công nghiệp khí và kinh doanh cácsản phẩm dầu khí; dịch vụ kỹ thuật và chế biến dầu khí Đây được xem là những lĩnhvực cốt lõi của ngành dầu khí Việt Nam
Ngành dầu khí Việt Nam, được chi phối bởi Tập đoàn Dầu khí Việt Nam(PetroVietnam – PVN) và được Bộ Công Thương giám sát, đóng vai trò quan trọngtrong nền kinh tế Việt Nam nhờ đóng góp đáng kể vào GDP và ngân sách nhà nước(trung bình 20%) Với dự trữ dầu thô ở mức 4.4 tỷ thùng, Việt nam đứng thứ 3 trongkhu vực Châu Á Thái Bình Dương và cung cấp khoảng 0.6% nhu cầu toàn cầu.[1]
Hoạt động khai thác dầu ở nước ta đã và đang gây nhiều tác động xấu đến môitrường xung quanh Biểu hiện rõ nét nhất là việc sử dụng thiếu hiệu quả các nguồnkhoáng sản tự nhiên; tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặcphát tán chất thải; làm ảnh hưởng đến sử dụng nước, ô nhiễm nước, tiềm ẩn nguy cơ
về dòng thải axit mỏ Những hoạt động này đang phá vỡ cân bằng điều kiện sinh tháiđược hình thành từ hàng chục triệu năm, gây ô nhiễm nặng nề đối với môi trường, trởthành vấn đề cấp bách mang tính chính trị và xã hội của cộng đồng một cách sâu sắc
Chính vì thế nhóm nghiên cứu đã lựa chọn thực hiện đề tài “Tìm hiểu các tácđộng môi trường của hoạt động khai thác, chế biến và sử dụng dầu tại Việt Nam” và từ
đó đưa ra những biện pháp nhằm giảm thiểu các tác động đến môi trường
Trang 8Chương 1: Nguồn và trữ lượng dầu ở Việt Nam
1.1 Nguồn dầu ở Việt Nam
Dầu thô (Crude Oil) hay còn gọi là dầu mỏ, (tiếng Anh gọi là Petroleum), là loạidầu được khai thác từ mỏ lên chưa hề qua một quá trình chế biến nào Từ khi đượcphát hiện và đưa vào khai thác, dầu mỏ đã được loài người sử dụng làm nhiên liệuchiếu sáng và làm thuốc chữa bệnh ngoài da Dần dần theo sự phát triển của kinh tế kỹthuật cùng với sự hiểu biết ngày càng đầy đủ hơn về dầu mỏ mà dầu thô đã được sửdụng làm nhiên liệu sản xuất điện, làm nhiên liệu cho tất cả các phương tiện giaothông vận tải, hơn nữa còn được sử dụng trong công nghiệp hóa học để sản xuất rachất dẻo (plastic) và sản xuất ra trên 2.000 sản phẩm thông dụng khác
Ngày nay, dầu mỏ được khai thác từ rất nhiều mỏ khác nhau, chúng phân bố ởnhững nơi rất khác nhau về đặc điểm địa lý tự nhiên Bởi vậy, mỗi loại dầu thô ở mỗi
mỏ đều có sự khác biệt nhất định Để phân loại giá trị của dầu mỏ, người ta dựa vàonhiều tiêu chí khác nhau, thông thường người ta dùng tỷ trọng và độ nhớt tương đối đểphân ra “dầu nhẹ”, “trung bình”, “dầu nặng”, hoặc dựa vào hàm lượng lưu huỳnh cótrong dầu mà phân ra “dầu ngọt”, “dầu chua” Dầu ngọt là loại dầu có rất ít hoặc không
có lưu huỳnh, và ngược lại là dầu chua Những chỉ tiêu này thường được gọi là “chỉtiêu thương mại” Dầu mỏ của Việt Nam thuộc loại dầu nhẹ, ngọt Giá dầu của ViệtNam cũng vì thế mà có giá cao hơn giá dầu của một số nước khác
Tỉnh có nguồn dầu lớn nhất ở Việt Nam là tỉnh Bà Địa – Vững Tàu, thuộc khuvực Đông Nam Bộ, rộng 1.989 km2.Theo Cổng thông tin Bộ Kế hoạch và Đầu tư, BàRịa - Vũng Tàu có nhiều loại khoáng sản, đáng kể nhất là dầu mỏ, khí thiên nhiên vàkhoáng sản làm vật liệu xây dựng Trong tổng trữ lượng dầu khí đã xác minh năm2.000, vùng biển Bà Rịa - Vũng Tàu có 400 triệu m3 dầu, chiếm 93,29% trữ lượng cảnước; dầu khí trên 100 tỷ m3, chiếm 16,2% trữ lượng khí cả nước
Dầu mỏ và khí đốt ở vùng biển Bà Rịa - Vũng Tàu phân bổ chủ yếu tại bể CửuLong và Nam Côn Sơn Bể Cửu Long gồm các mỏ Bạch Hổ, Rồng, Hồng Ngọc, -Rạng Đông Bể Nam Côn Sơn có mỏ Đại Hùng, Lan Tây, Lan Đỏ, Thanh Long, MộcTinh, Rồng Bay Mỏ Bạch Hổ chiếm hơn 80% sản lượng chung của lượng dầu khaithác được ở Việt Nam
Trang 9Hình 1.1 Mỏ Bạch Hổ
1.2 Trữ lượng dầu ở Việt Nam
Ngành dầu khí Việt Nam bao gồm 3 lĩnh vực: thượng nguồn, trung nguồn và hạnguồn Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên thuộc lĩnh vực thượng nguồn của ngành.Ngành khai thác dầu khí là ngành quan trọng đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia vàcũng là ngành có đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước
Trữ lượng dầu thô của Việt Nam tại thời điểm năm 2019 là 4,4 tỉ thùng, tươngđương với 0,3% trữ lượng đã được phát hiện trên thế giới Với trữ lượng này, ViệtNam xếp thứ 2 khu vực Đông Nam Á, thứ 3 Châu Á, và thứ 28 thế giới sau Ai Cập.Tuy nhiên hầu hết các mỏ dầu tại Việt Nam có trữ lượng nhỏ và khó khai thác Các mỏmới phát hiện ở vùng nước sâu khó tiếp cận hoặc ở vùng biển nhạy cảm về mặt chínhtrị với các nước láng giềng Mỏ Bạch Hổ hiện là mỏ dầu lớn nhất cả nước với trữlượng gần 4 tỷ thùng, khai thác từ năm 1986 Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơcạn kiệt nguồn dầu mỏ với hệ số gia tăng trữ lượng bù trừ vào sản lượng khai thác ởmức thấp tại 0,54 lần năm 2019 Hệ số này giảm mạnh trong các năm qua từ 1,5 lầngiai đoạn 2011 – 2015 xuống thấp nhất vào năm 2017 còn 0,17 lần
Việt Nam đứng thứ 36 thế giới về quy mô khai thác dầu thô 8 tháng đầu năm
2019, sản lượng dầu thô của Việt Nam đạt 8,9 triệu tấn, giảm 5,4% so với cùng kỳ nămngoái, sản lượng khí đốt thiên nhiên là 7 tỷ m3, tăng 3,8% Sản lượng dầu dự kiến sẽ
Trang 10giảm 10% mỗi năm cho đến năm 2025, theo Reuters Đồng thời, Việt Nam cũng lànước nhỏ trong thị trường xuất khẩu dầu mỏ, cung ứng khoảng 0,6% nhu cầu toàn cầu.Sản lượng xuất khẩu dầu thô của Việt Nam giảm mạnh từ năm 2016 do sản lượng khaithác trong nước giảm Thị trường xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là Trung Quốc(27%), Thái Lan (24%) và Australia (21%) Song song với đó, theo Bộ Công Thương,nguồn cung khí thiên nhiên có chiều hướng giảm, sản lượng khí khoảng 9 – 10 tỉm3/năm, chủ yếu phục vụ sản xuất điện Để bù đắp cho lượng thiếu hụt, đáp ứng nhucầu sản xuất trong nước, lượng nhập khẩu dầu của Việt Nam tăng mạnh từ năm 2016.
4 tháng đầu năm 2020, Việt Nam nhập khẩu 3,81 triệu tấn dầu thô, tăng 66,8% so vớicùng kỳ năm 2019 Trong giai đoạn 2021 – 2025, Việt Nam dự tính nhập khẩu khíthiên nhiên hóa lỏng LNG 1 – 4 tỉ m3/năm, giai đoạn sau đó sẽ tăng lên 6 – 10 tỉm3/năm
Ngành khai thác dầu khí là ngành thâm dụng vốn Tuy nhiên, các hoạt động tìmkiếm, thăm dò và khai thác của ngành đều thiếu nguồn vốn đầu tư, đặc biệt nguồn FDIgiảm từ 2 tỷ USD/năm xuống còn vài trăm triệu một năm Một trong những nguyênnhân là do môi trường pháp lý chưa đủ thu hút các nhà đầu tư Bên cạnh đó, giá dầuthế giới có xu hướng giảm, mỏ dầu Việt Nam lại khó khai thác, mang lại ít tiềm nănglợi nhuận Tính đến đầu năm 2019, chỉ còn khoảng 10 doanh nghiệp nước ngoài đầu tưdưới hình thức góp vốn thực hiện các hợp đồng thăm dò, khai thác dầu khí, bao gồm:Chevron, KNOC, Gazprom, Ngành dầu khí hiện có 24 dự án thăm dò, 7 dự án pháthiện, 3 dự án thẩm định
Tập đoàn dầu khí Việt Nam PVN trực thuộc bộ Công Thương nắm vị trí chủchốt trong ngành, chi phối cả 3 lĩnh vực Năm 2019, PVN khai thác đạt hơn 12,36 triệutấn dầu và 9,69 tỷ m3 khí Tổng doanh thu của tập đoàn là 736.200 tỷ đồng, lợi nhuậntrước thuế đạt 43.800 tỷ đồng, vượt 40% kế hoạch, nộp ngân sách 108 tỷ đồng Từnăm 2003, PVN có 30 dự án dầu khí ở nước ngoài, tuy nhiên 24 dự án thất bại vớitổng chi phí 773 triệu USD
Trong 4 tháng đầu năm 2020 với sự bùng phát của dịch Covid – 19 và diễn biếngiá dầu phức tạp của thế giới đã ảnh hưởng không nhỏ đến ngành dầu khí Việt Nam.Chỉ số sản xuất ngành khai thác dầu thô và khí đốt thiên nhiên giảm 4,1% so với cùng
kỳ năm trước Sản lượng dầu thô giảm 11,9% và sản lượng khí đốt thiên nhiên giảm10,3%, khí hóa lỏng giảm 16,4% Giá dầu thô Việt Nam phụ thuộc vào giá dầu DatedBrent cũng bị dao động do tâm lý thị trường [2]
Nhìn chung, dù bị ảnh hưởng kép giá dầu và đại dịch Covid, các nhà điều hànhvẫn đạt chỉ tiêu sản lượng năm nay Trong đó, nổi bật có các nhà điều hành hoạt động
Trang 11khá hiệu quả như: VSP, Biển Đông POC, Rosneft và Cửu Long JOC Tuy nhiên, donhững năm gần đây các nhà điều hành chưa gia tăng trữ lượng, phát hiện mỏ mới nênsản lượng sụt giảm dần Đối với các mỏ hiện hữu, các mỏ dầu ở gần bờ hầu như đã cạnkiệt Một số mỏ trung bình mà PVEP trực tiếp điều hành, sản lượng đang sụt giảmnhanh như: Sông Đốc (Lô dầu khí 46/13, còn dưới 1.000 thùng/ngày), Thăng LongĐông Đô (Lô 01-02/97, khoảng 3.600 thùng/ngày), Lô 01/02 (mỏ Hồng Ngọc, khoảng8.500 thùng/ngày), có thể phải dừng khai thác nếu giá dầu giảm kéo dài dưới mức 50USD/thùng [3]
Đối với việc phát triển các mỏ mới, các mỏ dầu gần bờ sản lượng thấp (cậnbiên), Chính phủ chưa có cơ chế khai thác tận thu nên chưa thể phát triển Có thể kểđến các mỏ Kình Ngư Trắng, Kình Ngư Trắng Nam, Đại Hùng Nam, Lạc Đà Vàng ở
bể Cửu Long và Nam Côn Sơn Đối với các mỏ khí xa bờ, các cơ chế chính sách hiệnnay đang gây rất nhiều khó khăn để dự án đi vào triển khai Đơn cử như Chuỗi dự ánkhí Lô B và Cá Voi Xanh - do đây là các chuỗi dự án liên quan cả khâu thượng, trung
và hạ nguồn (cả ngoài khơi và trên bờ); nên dù là các dự án thuộc ngành Dầu khí, cùnglúc các Luật Dầu khí, Luật Đầu tư công và Luật Xây dựng được áp dụng có một sốkhác biệt giữa các luật này, do vậy khi triển khai, PVN và các đối tác đang gặp một sốkhó khăn Đối với mỏ Sư Tư Trắng (giai đoạn 2), do Chính phủ chưa phê duyệt giahạn hợp đồng PSC (hết hạn năm 2023) nên dù đã có kế hoạch phát triển mỏ (FDP), dự
án vẫn chưa thể triển khai (giai đoạn 2b)
Trang 12Chương 2: Tác động môi trường của hoạt động khai thác, chế biến và sử
dụng (giai đoạn xây dựng và vận hành) các dạng năng lượng
2.1 Hoạt động khai thác
Hình 2.1 Giàn Tam Đảo 05 và giàn Tam Đảo 03 ở mỏ Bạch Hổ
Ngành công nghiệp dầu khí được chia thành hai phần: "thượng nguồn", liênquan đến thăm dò và phát triển, và "hạ nguồn", liên quan đến lọc dầu và chế biến cácsản phẩm dầu thô và khí đốt, cũng như phân phối và tiếp thị Các công ty trong ngành
có thể được tích hợp hoàn toàn (nghĩa là họ có cả lợi ích thượng nguồn và hạ nguồn)hoặc họ có thể tập trung vào một lĩnh vực nhất định, chẳng hạn như thăm dò và pháttriển (thường được gọi là công ty E&P) hoặc chỉ tinh chỉnh và tiếp thị (thông thườngđược biết đến như một công ty R&M) (một công ty R&M)
Thăm dò và khai thác dầu khí có khả năng gây ra nhiều hậu quả đối với môitrường Những 'ảnh hưởng' này được xác định bởi giai đoạn hoạt động, quy mô vàphạm vi của dự án, chất lượng và tính dễ bị tổn thương của khí hậu xung quanh, vàhiệu quả của các chiến lược chuẩn bị, giảm thiểu, giảm thiểu và kiểm soát khí thải.Những tác động đã được đề cập là những tác động có thể có, có thể được ngăn ngừa,giảm bớt hoặc giảm nhẹ nếu cẩn thận và thận trọng Ngành này đã thành công trongviệc phát triển các hệ thống quản lý, quy trình kinh doanh và công nghệ kỹ thuật nhằm
Trang 13giảm thiểu tác động môi trường, và kết quả là số vụ tai nạn môi trường đã giảm đáng
kể Thay đổi hệ sinh thái dài hạn trong lĩnh vực dầu khí, cũng như thực tiễn sản xuất,
là những thay đổi môi trường chính phát sinh trong quá trình sản xuất dầu thô và khí tựnhiên (bao gồm sửa chữa hoặc thay thế bộ phận của nhà máy), xử lý chất thải (ví dụ:nước đã qua xử lý ), tiếng ồn (ví dụ, từ hoạt động tốt, máy nén hoặc trạm bơm, ốngkhói, phương tiện và thiết bị), sự tham gia của công nhân và khả năng rò rỉ là tất cả cácyếu tố cần xem xét Một số dạng hậu quả có thể xảy ra được đề cập trong bài viết này.Con người, hệ sinh thái biển, cũng như ô nhiễm không khí, cũng được bao gồm Điềuquan trọng là nhận ra rằng bằng các thủ tục quản lý sẽ thảo luận trong phần 3, các giảipháp đề xuất để phân tích tất cả các giai đoạn của tất cả quá trình thăm dò và phát triển
có thể được đánh giá một cách phân tích để giảm các tác động đến môi trường [4]
2.1.1 Tác động của tiếng ồn
Sử dụng giếng khoan, khí đốt không liên tục, bơm và máy nén, và lưu lượng xe
cộ là những nguồn chính gây ra tiếng ồn trong quá trình sản xuất dầu thô và khí đốt tựnhiên Sự gián đoạn cục bộ đối với động vật, các nhà giải trí và cư dân sẽ là tác độngchính của tiếng ồn
2.1.2 Chất lượng không khí
Các hoạt động của máy nén và trạm bơm, lưu lượng xe tải, vận hành giếng đầu
ra, cách ly các công đoạn dầu khí và xử lý dầu thô tại chỗ là những nguồn ô nhiễmchính trong quá trình sản xuất dầu thô và khí đốt tự nhiên VOCs (các hợp chất hữu cơ
dễ bay hơi) sẽ nằm trong số khí thải (VOC), oxit nitơ, lưu huỳnh đioxit, cacbonmonoxit, benzen, toluen, ethylbenzene, xylenes, hydrocacbon thơm đa vòng (PAHs),hydro sulfua, hạt, ozon và metan Khí thiên nhiên (mêtan) có thể thoát ra hoặc bùngphát trong quá trình khoan dầu, kiểm tra giếng, lọc dầu và khí đốt, xâm thực, rò rỉgiếng và sửa chữa đường ống Mêtan là một nguồn phát thải khí nhà kính đáng kể Ônhiễm không khí do khai thác dầu khí có nguy cơ gây hại cho sức khỏe người dân vàhạn chế tầm nhìn [4]
Các thống kê đã chỉ ra rằng trong tuổi thọ của nó, một giàn khoan dầu duy nhất
có thể gây ô nhiễm tới 7.000 xe ô tô chạy 50 dặm (80Km) mỗi ngày Yếu tố gây ônhiễm chính là khí nhà kính (GHG) được tạo ra trực tiếp từ các giàn khoan ngoài khơi
và gián tiếp thông qua khí thải của các nhà máy lọc dầu Những loại khí này gây rabiến đổi khí hậu bao gồm: sự nóng lên toàn cầu, băng tan ở các cực và axit hóa đạidương có nghĩa là đại dương hấp thụ tất cả CO2 , do đó cacbonat trở nên ít có sẵn chocác sinh vật biển cần nó để xây dựng vỏ và vật liệu xương [5]
Trang 14Hình 2.2 Ô nhiễm không khí do khai thác dầu
2.1.3 Quản lý chất thải và Vật liệu nguy hại
Trong quá trình hoạt động thường xuyên, chất thải công nghiệp được tạo ra(dầu bôi trơn, chất lỏng thủy lực, chất làm mát, dung môi và chất làm sạch) Theo quytrình thông thường, những chất thải này được đóng gói trong các thùng chứa, có đặcđiểm, đánh số và có khả năng được xử lý trong một thời gian ngắn trước khi được vậnchuyển bởi một phương tiện có giấy phép đến cơ sở xử lý phù hợp ngoài công trường.Nếu những chất thải này không được xử lý thích hợp và thải vào bầu khí quyển, nhữnghậu quả tiêu cực có thể xảy ra Sự cố rò rỉ thuốc diệt cỏ hoặc quan trọng hơn là dầu cóthể gây ô nhiễm môi trường Hóa chất được sử dụng để chứa chất thải trong các hố hở
có thể gây nguy hiểm cho động vật hoang dã và gia súc Chất lỏng được sử dụng trong
"fracking" có thể chứa chất phóng xạ
PAH, metanol, fomanđehit, etylen glicol, ete glycol, axit clohydric và natrihiđroxit là những ví dụ về các hợp chất như nhiên liệu điêzen (bao gồm benzen,etylbenzen, toluen, xylen, naphtalen và các hóa chất khác) Vì cát được phân lập từnước sản xuất thường bị ô nhiễm với hắc ín, một lượng nhỏ kim loại hoặc các thànhphần tự nhiên khác, nên nó phải được xử lý đúng cách Những chất thải này có thểđược chuyển đến một cơ sở tái chế bên ngoài Trong quá trình xử lý dầu thô và khí tựnhiên, nước sản xuất sẽ trở thành một dòng thải chính Phần lớn dòng chất thải nàyđược xử lý dưới lòng đất, trong các giếng lưu trữ hoặc trong các giếng thu hồi dầu tăngcường ở các khu vực phát triển, theo quy định